Thursday, January 21, 2016
Wednesday, January 20, 2016
Một Thoáng Sài Gòn / Nhớ Sài Gòn Vũ Uyên Giang
Tôi như nhiều người không sinh ra tại Sài Gòn nhưng suốt học trình từ tiểu học lên đại học được sống với thủ đô của miền Nam, mà qua tên gọi mỹ miều là “Hòn Ngọc viễn Đông”. Tôi suy tư về nguồn gốc các danh từ Sài Gòn và Hòn Ngọc viễn Đông.
Theo sự truy nguyên, Sài Gòn thuở ban đầu là đất của người Khờ-me, là một làng đánh cá, có tên đầu tiên là Prey Nokor mà Prey là thánh thần (dieu, god) và Nokor là thành phồ hay đô thị (la ville; town, city), mang ý nghĩa là “thành phố thánh thần”.
Năm 1862, Việt Nam là thuộc địa của Pháp, người Pháp đặt tên chính thức là Saigon. Lấy theo cách giải thích vì sao người Pháp gọi là “Saigon” do theo âm ngữ của người Tàu (Thầy Ngòn, Xi Coón) hay Miên ngữ “Prey Nokor”. Từ đó Saigon được Việt hóa là Sài Gòn.
Vì là thuộc địa của Pháp, thành phố được Pháp xây dựng rất tối tân, mới lạ, được xem là bậc nhất của vùng Đông Nam Á vào thời bấy giờ. Nên Pháp xem đó là Hòn Ngọc Viễn Đông (la Perle de l’Extrême-Orient, the Pearl of the Far East) hay theo sự ví von của người Pháp là Paris Phương Đông (Paris de l’Orient, Paris in the Orient) để ám chỉ là một thành phố giàu sang, lịch lãm của Pháp ở vùng Đông Nam Á.
Giả thuyết khác như theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674 Thống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ “Lũy Sài Gòn” (theo Hán Nho viết là “Sài Côn”). Đây là lần đầu tiên chữ “Sài Gòn” xuất hiện trong tài liệu Việt Nam. Vì thiếu chữ viết nên chữ Hán – “Côn” – được dùng thế cho “Gòn”. Như vậy, ngay từ năm 1674 đã có địa danh Sài Gòn, không phải đợi đến năm 1778 khi người Tàu ở Cù Lao Phố bị quân Tây Sơn tiêu diệt rồi chạy xuống lập nên Thầy Ngòn tức Đề Ngạn, hay Xi Coón tức Tây Cống.
Dù sao thì Sài Gòn và Hòn Ngọc viễn Đông vẫn là một nơi quyến rũ, ấp ủ con tim bao thế hệ dù là gốc Âu hay Á. Trước khi tôi rời Sài Gòn vì biến cố chính trị 1975, những kỷ niệm lưu luyến với Sài Gòn hay Hòn Ngọc viễn Đông có nhiều lắm. Thời sinh viên thuở ấy sao mà đẹp đẽ trong ngắn ngủi, thời gian trôi qua như cái chớp mắt mà nay đã gần 4 thập niên ly hương, nhìn lại thấy mình không còn trẻ của lứa tuổi hai mươi của Sài Gòn mộng mơ, không còn nữa kỷ niệm đêm đêm tản bộ hóng mát dọc theo bờ sông Sài Gòn, hướng mắt về mái nhà lồng bên kia là Thủ Thiêm từ bến đò, bến bắc, gió thổi mát rượi từ mé sông, không còn nữa kỷ niệm Sài Gòn mưa lãng mạn ta phải luồn lách những vũng nước không tên, trong cái giá lạnh khi lượn xe gắn máy chạy trong cơn mưa rào xối xả từ trời cao mà nước mưa bắn văng tung tóe, Sài Gòn cũng đã chìm khuất vào dĩ vãng xa xôi, rồi khi kỷ niệm trở về chỉ còn lại những nỗi nhớ đáng yêu bằng nước mắt ấm đầy ắp những lưu luyến yêu thương trong tâm tưởng, đôi lúc âm thầm trở về, cơ hồ như Sài Gòn đã sống dậy mãnh liệt trong tiềm thức cũ, mãi mãi theo ta những nhờ nhung không nguôi như bài ca:
“Sài gòn bây giờ trời mưa hay nắng?
Tà áo em bay theo giọt nắng vàng
Con đường ta đi giòng sông kỷ niệm
Nỗi nhớ trong em nỗi nhớ dịu dàng
Sài gòn bây giờ mưa giăng ngập lối
Hai đứa bên nhau âu yếm không rời
Đôi mắt yêu thương làn môi chờ đợi
Từng đợt mưa rơi.. bối rối bồi hồi
Sài gòn bây giờ lòng ai vương vấn
Mai anh đi rồi còn nhớ em không?
Đôi mắt nai tơ buồn xa vời vợi
Cơn gió vô tình đuổi lá vàng rơi
Sài gòn bây giờ có buồn không em?
Mưa vẫn rơi rơi.. từng giọt êm êm
Suối tóc thơm bay hương tình dịu nhẹ
Ngây ngất dạt dào con phố về đêm”
(Sài Gòn Niềm Thương Nỗi Nhớ
Tác Giả: Võ Tá Hân, Trần Ngọc)
Sài Gòn gắn bó với tôi bắt đầu bằng những ngày thơ ngây thành phố như một chốn phồn hoa đô hội, người ta có thể bị choáng ngợp với một đô thị mang dáng vẻ tây phương như người con gái kiều diễm, kiêu sa, đài các, rồi cũng ở một góc nào đó Sài Gòn ủ dột của phố đêm, lầy lội của xóm nghèo, trong nét bình dân của tiếng rao hàng, những con kinh nước đen,…
Nhiều người sống với Sài Gòn, dù mưa hay nắng, ban ngày hay ban đêm, bận rộn tất bật hay nhàn rỗi rong ruổi với phố xá của nó. Thưởng thức những món ngon mà cả nhóm bạn tôi khoái khẩu nào là Mì Cây Nhãn, Mì Chú Hỏa, mì La Cay Nguyễn Tri Phương, hủ tiếu gà cá chợ cũ, hủ tiếu saté Lệ Thanh Chợ Lớn. Lề đường Sàigòn xưa có hàng me Nguyễn Du, có hàng sao cao vút khúc Võ Trường Toản, Trưng Vương. Tôi nhớ rõ có những hàng phượng vĩ và hoàng điệp trong sân trường Petrus Ký, Sài Gòn có trường Gia Long với món bò bía, xe đậu xanh đậu đỏ; có trường Luật Khoa trên đường Duy Tân với xe nước dừa uống môi em ngọt; có trường Dược khoa, Văn khoa trên đường Cường Để chạy thẳng xuống bờ sông Sài Gòn có Bến Bạch Đằng,… Sài Gòn có những quán kem, quán cà-fé, quán ăn vỉa hè,… Những sinh hoạt bình dị có quán cơm Bà Cả Đọi, quán Bắc Bà Ba Bủn; để thưởng thức những món Sài Gòn sự khoái khẩu với hệ quả Pavlov cồn cào dạ dầy sau những buổi tan học ngày cũ bạn bè rủ nhau đi ăn hàng Sài Gòn. Tôi nhớ con hẽm kín đáo Casino Sài Gòn nào những bún chả, bánh cuốn Thanh Trì, bánh tôm Cổ Ngư; những gánh hàng rong, những xe bán thức ăn của khu Bàn Cờ, khu Nguyễn Thiện Thuật, Chợ Vườn Chuối, Chùa Kỳ Viên, Chợ Đũi,… xen kẻ trong trí nhớ có nhiều lưu niệm trong ký ức xưa, có những nhà hàng, những điểm hẹn hò như: Passage Eden, Casino Sài Gòn, Mini Rex, La Pagode, Pôle Nord, Givral, Brodard, khu thương xá Tax,… Nhắc đến Sài Gòn có những nơi như Continental, Caravelle, Majestic,… Lề đường Saigòn còn có những gánh hàng rong. Thương nhớ làm sao kỷ niệm Sài Gòn có nước mía Viễn Đông có thịt phá lấu, có gỏi đu đủ gan cháy khô bò, có bánh bột chiên, có món bánh cay gần khu Chùa Chà Và mà nhà văn Thinh Quang nhắc tôi hôm nọ. Những thực khách của những nhà hàng sang trọng theo cung cách kiểu tây phương của Sài Gòn, nhưng rồi chính họ cũng là những giới hâm mộ thường trực tại các quán cóc trên vỉa hè Sài Gòn. Đó là những nét đặt thù của Sài Gòn, của người Sài Gòn, hay thuật ngữ phương tây “Saigonais”, hoặc “Saigonese”.
Nhớ Sài Gòn, làm sao quên nỗi những góc phố, những con đường của nơi ấy nhỉ? Năm 1865, Phó đô đốc Pierre Paul Marie de la Grandière (1807 – 1876) đại diện cho chính quyền Pháp tiến hành việc đặt tên cho 26 con đường trên địa bàn của thành phố Sài Gòn mà trước đó chỉ được đánh số thứ tự. Trải qua hơn 300 năm xây dựng và phát triển, Sài Gòn đã có hơn 1.500 con đường lớn, nhỏ và từ lâu các tên đường thay đổi do yếu tố chính trị. Thời Pháp thuộc thì đường Tự Do xưa của ta là đường Catinat; rồi Pháp đặt Charnerta cho tên đường Nguyễn Huệ, Pháp đặt tên đường Mac Mahon ta là Công Lý; và đường Bonard là Lê Lợi; đường Mossard là đường Nguyễn Du; đường mang tên Phó đô đốc HQ Pháp De La Grandlière ta thay bằng tên vua ta đường Gia Long; đường Paul Blanchy tên ta là Hai Bà Trưng), đường Mayer là tên vua ta đường Hiền Vương; và đại lộ Boulevard de la Somme phe ta đặt tên vua, đại lộ Hàm Nghi, nhà tôi ở đường mang tên tây D’Espagne tên ta là vua Lê Thánh Tôn,…
…………….
La Pagode
Những khách sạn thời Pháp thuộc tọa lạc ngay trung tâm Sài Gòn đã là nhân chứng cho bao năm binh biến, vật đổi sao dời. Khách sạn Continental được các kiến trúc sư nổi tiếng của Pháp thiết kế và xây dựng vào năm 1880 và nay là khách sạn lâu đời nhất Việt Nam. Continental từng đón tiếp nhiều nhân vật nổi tiếng như nhà thơ Nobel của Ấn Độ là Rabindranath Tagore; văn hào Pháp André Malreaux là tác giả của La condition humaine (Thân phận con người 1933), sau làm Bộ trưởng Văn hóa Pháp (1959-1969); văn hào Anh Graham Greene (tác giả của sách bestseller “The Quiet American” – Người Mỹ Trầm Lặng); cựu tổng thống Pháp Jacques Chirac, và nữ tài tử điện ảnh Catherine Deneuve (thủ diễn trong các phim đoạt giải điện ảnh Indochine, Le Dernier Métro, Belle de Jour),…
Quán Givral, nhà sách Xuân Thu… phố xưa như nỗi nhớ
của người Sài Gòn, hồn của người Sài Gòn.
Chủ nhân đầu tiên của Continental là Pierre Cazeau, nhà sản xuất vật liệu xây dựng, sau bán lại cho Công tước De Montpensier. Chủ sau là Mathieu Francini. Ngoài ra, Continental còn có tên là “Radio Catinat”, nơi mà giới báo chí truyền thông tụ hội, trao dổi, thu nhặt tin tức thời sự “nóng” nhất, sai có, đúng có.
Nhà hàng kỳ cựu sau Continental là Majestic, thành lập năm 1925, nằm ở góc đường Catinat và Luro (sau là Cường Để) nhìn ra bờ sông Sài Gòn, do một thương nhân người Tàu giàu có và nổi tiếng nhất nhì Sài Gòn thời bấy giờ là Hui Bon Hoa (tức chú Hỏa) xây dựng theo đồ án thiết kế của một kiến trúc sư người Pháp.
Suốt gần 90 năm tuổi của mình, Majestic đã đón tiếp nhiều nhân vật quốc tế, hay chính khách: Tổng thống Pháp Mitterrand, Thái tử Nhật Akishino, Thủ tướng Lý Hiển Long của Singapore, Thái tử Đan Mạch Henrick, Thái tử Anh Andrew, công chúa Thái Lan Maha Chakri Sring Dhorn,…
Các quán cà phê như La Pagode là nơi hội tụ của giới thơ văn, báo chí Sài Gòn một thuở như tụ quán Caffe Trieste nằm trên Vallejo Street (góc đường Grant) hướng bắc của phố San Francisco, chủ nhân là một người Ý di cư, nhưng quán cà phê nảy là nơi mà giới tao nhân mặc khách, những nghệ sĩ lui tới gặp gỡ nhau, nò là phòng hội của những nhà văn Lawrence Ferlinghetti, Alan Watts, Jack Kerouac, Allen Ginsberg, Richard Brautigan, Bob Kaufman, Gregory Corso, Michael McClure, Kenneth Rexroth, Neeli Cherkovski,… nhà thơ nổi tiếng Jack Hirschman, nghệ sĩ Peter Le Blanc, Don Moses và nhiếp ảnh gia giải Pulitzer là Joe Rosenthal, rồi những Jimo Perini, Bill Cosby, Paul Kantner, Liam Mayclem, Joey Reynolds và Mal Sharpe,… Trieste còn là nơi thi sĩ gốc Nga giải Nobel văn chương Joseph Brodsky lui tới trau chuốt thơ của mình. Còn nữa. Rồi ở góc phòng còn phảng phất bóng dáng của nhà đạo diễn nổi danh Francis Ford Coppola ngồi đọc và đánh bóng kịch bản phim “The Godfather” những năm 70.
Paris có Café de Flore, ở ngay ngã Tư của Boulevard Saint-Germain và đường St. Benoit, nơi gặp gỡ ngày xưa của văn và triết gia như André Breton, Françoise Sagan, André Malraux, Francois Mauriac, Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Albert Camus,…
Cái chung của La Pagode của Sài Gòn, Caffe Trieste của San Francisco hay hay Café de Flore của Paris là những địa điểm tụ họp của giới văn hoá nghệ thuật, những nơi có lịch sử của chính nó.
“Nắng SàiGòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng…”
Sàigòn có thơ Nguyên Sa, có nhạc Ngô Thụy Miên, hỡi những ai đã từng đi dưới cơn nắng của Sài Gòn, bạn còn nhớ chứ?
Nhà thơ Vũ Uyên Giang cho bài thơ nhớ Sài Gòn xưa, Sài Gòn nhớ nắng, nhớ mưa:
“Nhớ quá Sàigòn của thuở xưa
Ta từ Bưu Điện bước ngang qua
Nhà thờ Đức Mẹ nằm im lặng
Con phố Hàn Thuyên nắng nhạt nhòa
…
Nhớ đến Sàigon một thuở xưa
Buổi chiều nhạt nắng lại rơi mưa
Gọi thầm khe khẽ tên ai đó
Đất khách trong lòng đang đổ mưa.”
Vũ Uyên Giang
Sài Gòn qua nỗi nhung nhớ của nhà văn Trần Mộng Tú:
“Âm thanh của những tiếng động hàng ngày, như tiếng chuông nhà thờ buổi sáng, tiếng xe rồ của một chiếc xích lô máy, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng chuông leng keng của người bán cà rem, tiếng gọi nhau ơi ới trong những con hẻm, tiếng mua bán xôn xao khi đi qua cửa chợ, vẻ im ắng thơ mộng của một con đường vắng sau cơn mưa… Làm lên một Sài Gòn bềnh bồng trong nỗi nhớ.
Sài Gòn mỗi tháng, mỗi năm, dần dần đổi khác. Chúng tôi lớn lên, đi qua thời kỳ tiểu học, vào trung học thì chiến tranh bắt đầu thấp thoáng sau cánh cửa nhà trường. Đã có những bạn trai thi rớt Tú Tài phải nhập ngũ. Những giọt nước mắt đã rơi xuống sân trường. Sau đó, với ngày biểu tình, với đêm giới nghiêm, với vòng kẽm gai,với hỏa châu vụt bay lên, vụt rơi xuống, tắt nhanh, như tương lai của cả một thế hệ lớn lên giữa chiến tranh.
Sài Gòn như một người tình đầu đời, để cho ta bất cứ ở tuổi nào, bất cứ đi về đâu, khi ngồi nhớ lại, vẫn hiện ra như một vệt son còn chói đỏ. Sài Gòn như một mảnh trầm còn nguyên vẹn hương thơm, như một vết thương trên ngực chưa lành, đang chờ một nụ hôn dịu dàng đặt xuống.
Thi sĩ Phạm Sĩ Trung nhớ Sài Gòn:
“Sài Gòn ơi Sài Gòn
Những con đường thân quen
Hàng cây cao bóng mát
Tình yêu thật êm đềm
Sài Gòn ơi Sài Gòn
Nơi tôi đã lớn lên
Nhớ thương buồn vời vợi
Suốt đời chẳng sao quên”
Ca sĩ Quỳnh Giao hát bài “Nhớ Sài Gòn”, sáng tác của Phạm Anh Dũng:
Rạp Hưng Đạo ngày xưa của ai ?
Năm 1940 tại góc đường Général Marchand và Gallieni (Nguyễn C...ư Trinh và Trần Hưng Đạo ngày nay) thường ngày vẫn có một cậu con trai khoảng 18 - 20 tuổi ngồi cặm cụi sửa vá xe đạp bên vệ đường. Thời đó người dân chính gốc thành phố còn thất nghiệp dài dài, nói chi đến những dân nhập cư từ tỉnh thành xa, do đó người ta xem việc một thanh niên sửa xe như vậy là chuyện bình thường.
Những người lui tới con đường đó, đặc biệt là những khách hàng từng đôi ba lần xe đến sửa xe ấy là một chàng trai hiền hậu, dễ thương, lại chăm chỉ, cẩn thận. Xe hư đâu sửa đó, bao đảm chất lượng, tiền công vừa phải, đôi khi với những khách hàng già cậu ta còn tự nguyện sửa miễn phí “để làm quen”. Lâu dần, khách hàng càng lúc càng đông, thậm chí có người bị hư xe ở xa cũng ráng dẫn bộ tới, để cậu sửa. Chàng trai ấy tên là Niệm.
Một năm sau ngày ra nghề, người ta thấy chỗ bức tường phía sau lưng anh thợ sửa xe ngồi, có treo lủng lẳng vài chiếc vỏ, ruột xe đạp, cùng với một ít những phụ tùng khác. Anh giải thích “Để khi nào khách có cần thì mình thay cho tiện”. Thời đó không có chợ phụ tùng hoặc các loại phụ tùng xe được bày bán khắp nơi như ngày nay, cho nên việc phục vụ linh hoạt của cậu Niệm được bà con ủng hộ. Hai năm sau, khách hàng nhìn thấy có thêm một hai chiếc xe đạp lắp ráp hoàn chỉnh dựng ở đó. Cậu Niệm lại giới thiệu “Nhân tiện ráp sẵn, nếu bà con nào có cần thì mình nhường lại, giá phải chăng”. Tất nhiên, bởi sẵn có uy tín hàng của cậu ta ráp đến đâu bán được đến đó.
Sau khi Nhật đảo chính Pháp, trong lúc Sài Gòn đang hoảng loạn vì những cuộc dội bom của phi cơ đồng minh xuống thành phố, dân chúng lo chạy tránh bom, thì góc đường đó, chàng trai sửa xe vẫn cứ bám trụ với “cơ ngơi của mình, gồm 4 chiếc xe đạp vừa mới ráp, cộng với một thùng phụ tùng mới. Với cậu giữa cái chết do bom đạm và chết đói, cậu ta sợ chết đói hơn, vả lại trong đầu cậu trai nghèo này, chừng như còn nuôi một hoài bão.
Chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thúc, cũng là lúc người ta ngạc nhiên khi thấy chàng trai đó đứng ra thuê hẳn một góc nhà (chỗ căn phố mà suốt mấy năm qua cậu ta vẫn ngồi phía trước hiên nhà để hành nghề) và khai trương bảng hiệu: “Nguyễn Thành Niệm, sửa xe và bán phụ tùng xe đạp”. Thì ra, do khéo dành dụm trong nhiều năm qua, đến lúc đó cậu ta đã có được số vốn nho nhỏ, đủ để “dựng tiệm”. Cậu tâm sự với những người quen biết “Cái nghèo nó làm cho mình phải bỏ dở chuyện học hành, mà không học thì khó bề lập thân. Bây giờ chỉ có một cách là phải chí thú làm ăn phải đi lên con đường thương mại....”. 5 năm sau, đầu thập niên 50, cả một dãy phố từ đầu đường Nguyễn Cư Trinh chạy dọc theo đường Trần Hưng Đạo, đến gần đường hẻm Nguyễn Văn Dụng, đã quy về một mối, do một người làm chủ: Nguyễn Thành Niệm.
Cậu ta trúng nghề phụ tùng xe đạp là chủ yếu, nhưng cũng phải kể đến yếu tố cần kiệm và óc nhạy bén với thị trường. Chỉ trong vòng 10 năm, từ một chàng sửa xe đạp tầm thường, Nguyễn Thành Niệm tậu được đến gần 30 căn phố mặt tiền đường Gallieni (Trần Hưng Đaọ). Có người nói, sở dĩ Nguyễn Thành Niệm mua được nhiều nhà như thế là bởi vì thời đó mọi người vừa trải qua một giai đoạn khủng hoảng do cuộc chiến tranh, bị lung lạc tinh thần, muốn bán rẻ nhà cửa để hồi hương lập nghiệp, nên giá nhà rẻ, và Niệm đã chộp đúng thời cơ.
Con đường “lập thân” của Nguyễn Thành Niệm đã mở rộng. Anh ta chuyển sang kinh đoanh đa dạng hơn, gồm cả phụ tùng xe gắn máy, xe hơi, máy móc cơ giới nói chung. Và thế là một công ty nhập khẩu phụ tùng xe, máy được hình thành. Công ty Indo - Comptoir của Nguyễn Thành Niệm cuối thập niên 50 là một trong 10 công ty xuất nhập khẩu phụ tùng xe cơ giới lớn nhất Sài Gòn có chi nhánh ở khắp miền Nam, vươn tới Nam Vang, Vientian, Pakse (Lào). Nguyễn Thành Niệm trở thành một tỷ phú.
Đầu thập niên 60, tại dãy phố góc đường Nguyễn Cư Trinh – Trần Hưng Đạo, cạnh trụ sở của công ty Nguyễn Thành Niệm, người ta thấy mọc lên một toà nhà đồ sộ với chữ hiệu trên mặt tiền rất nổi: Rạp hát Hưng Đạo. Thì ra, đúng nơi mấy chục năm trước Niệm ngồi sửa se đạp, giờ đã được dựng lên một rạp hát lớn nhất thành phố, lại do chính ông làm chủ. Có lần Nguyễn Thành Niệm đã nói với bạn bè “Cuộc đời cũng giống như một sân khấu, mình cố làm sao cho sân khấu lộng lẫy thì càng hay...”
Thượng Hồng
from Dân Sài Gòn xưa
Những câu chuyện quá đỗi cảm động ở nước Nhật
Những câu chuyện cảm động dưới đây xảy ra ở nước Nhật nhưng đã lan truyền trên khắp thế giới. Mỗi câu chuyện đều khiến người nghe cảm động và muốn… bật khóc.
Hachiko chú chó trung thành 10 năm đợi chủ
Có lẽ câu chuyện cảm động được lan truyền nhiều nhất và được nhiều người dân trên thế giới nhớ đến nhất về đất nước mặt trời mọc, chính là câu chuyện về chú chó Hachiko. Năm 1924, giáo sư Hidesaburo Ueno giảng dạy ở khoa nông nghiệp của trường Đại học Tokyo đã mua chú chó nhỏ Hachiko.
Chú chó Hachiko trong những ngày tháng cuối đời năm 1935
Mỗi buổi sáng, Hachiko đều đi theo giáo sư Ueno tới nhà ga Shibuya để tiễn ông tới nơi làm việc. Đến chiều, Hachiko lại đi ra sân ga để chờ đón ông Ueno trở về. Những ngày đó cứ diễn ra đều đặn, trở thành một nhịp sinh hoạt quen thuộc đối với Hachiko, cho đến một ngày tháng 5/1925, ông Ueno bị một cơn đau tim đột ngột, và qua đời ngay tại nhà trường.
Sau ngày định mệnh đó, mỗi ngày, Hachiko vẫn tới nhà ga để chờ đón ông chủ trở về theo đúng nhịp cũ. Hachiko xuất hiện đúng lúc tàu vào ga vào cuối buổi chiều để tìm một bóng dáng thân quen giữa dòng người đang hối hả trở về nhà lúc cuối ngày. Từng ngày sau khi ông Ueno qua đời, Hachiko luôn đều đặn có mặt tại nhà ga suốt… 9 năm 9 tháng 15 ngày cho đến khi chết…
Năm 1932, một sinh viên cũ của ông Ueno được nghe về Hachiko - chú chó trung thành. Anh sinh viên đã đến thăm chú chó và thực hiện những bài viết về sự trung thành tuyệt đối của Hachiko. Một trong những bài viết này đã được đăng tải trên tờ nhật báo Asahi Shimbun - một tờ nhật báo nổi tiếng ở Tokyo và nhận được sự quan tâm rất lớn của độc giả.

Ngày Hachiko qua đời tại nhà ga Shibuya
Kể từ đó, bắt đầu có nhiều người mang đồ ăn đến cho Hachiko tại nhà ga trong lúc chú chó chờ đợi chủ mỗi ngày. Hachiko trở thành một hiện tượng trên khắp nước Nhật. Lòng trung thành của Hachiko với ông chủ đã khiến người dân Nhật cảm động và là biểu tượng cho lòng trung thành, sự tận tâm đối với gia đình, cũng là điều mà mọi người dân Nhật đều đề cao.
Câu chuyện về Hachiko cho tới giờ vẫn có sức sống lâu bền trong đời sống văn hóa Nhật Bản bất kể nhiều thập kỷ đã trôi qua, người lớn vẫn kể câu chuyện về Hachiko cho trẻ nhỏ nghe, các nghệ sĩ điêu khắc nổi tiếng của Nhật đã từng tạc tượng chú.
Cuối cùng, ngày 8/3/1935, Hachiko đã có thể gặp lại người chủ mà chú đã chờ đợi suốt gần 10 năm. Hachiko chết tại chính sân ga - nơi gần 10 năm trước chú đã tiễn ông chủ rời nhà lần cuối. Xác Hachiko đã được nhồi bông và bảo quản tại Bảo tàng Quốc gia Khoa học Nhật Bản, nằm ở quận Ueno, Tokyo.

Hachiko trong viện bảo tàng
Người ta cũng đã dựng tượng Hachiko tại nhà ga Shibuya, ngay tại cửa chính vào nhà ga. Cửa này cũng được đặt tên là “cửa Hachiko”.
Trong đời sống văn hóa đại chúng Nhật Bản, Hachiko đã trở nên quen thuộc, chú chó trung thành đã xuất hiện trong những bộ phim, những cuốn truyện tranh, được đặt tên cho những tuyến xe buýt mà trước đây hàng ngày Hachiko đã đi. Câu chuyện về Hachiko còn được khắc họa lại trong bộ phim hợp tác Anh - Mỹ “Hachi: A Dog's Tale” (2009).
“Ông cụ phóng xạ” tình nguyện ở lại một mình để chăm sóc vật nuôi trong vùng nhiễm xạ
Khi tất cả mọi người sơ tán khỏi khu vực bị nhiễm phóng xạ ở tỉnh Fukushima, một mình “ông cụ phóng xạ” quay trở lại, để chăm sóc cho đàn vật nuôi bị bỏ lại phía sau. Câu chuyện về ông đã nhanh chóng lan truyền và gây xúc động đối với người dân Nhật.

“Ông cụ phóng xạ” Naoto Matsumura
Nỗi đau và sự mất mát ập đến sau thảm họa kép động đất, sóng thần xảy ra ở Nhật Bản hồi năm 2011 đã được phản ánh qua nhiều bộ phim tài liệu. Tuy vậy, đằng sau những bi kịch đó, người ta bắt gặp những câu chuyện cảm động.
Một trong những câu chuyện như vậy kể về người đàn ông 55 tuổi - ông Naoto Matsumura - một công nhân xây dựng sống trong vùng nhiễm xạ.
Ông Naoto đã cùng mọi người lên đường đi di tản sau khi khu vực sinh sống cũ trở nên hoang tàn và nhiễm xạ, nhưng rồi trong một lần quay trở về, những gì được thấy đã khiến ông quyết định ở lại để chăm sóc cho những vật nuôi còn sống sót sau thảm họa. Những vật nuôi này không còn được chủ chăm sóc, đã phải đối diện với nguy cơ chết đói, chết khát.
Kể từ bấy đến nay, đã 5 năm trôi qua và ông trở thành “người bảo hộ” cho những con vật bị bỏ lại ở thị trấn Tomioka, quận Futaba, tỉnh Fukushima. Trở lại vùng nhiễm xạ, ăn ở trong môi trường nguy hiểm, độc hại, nhưng ông Naoto cho biết ông không lo sợ điều gì, bởi tuổi ông đã cao và thực tế là sau 5 năm sống tại đây, cả ông và đàn vật nuôi vẫn đang khỏe mạnh.


Ông Naoto vẫn nhớ khoảnh khắc ông lái xe trở về Fukushima, vật nuôi trong nhà vẫn còn đang bị xích lại vì người ta ai cũng nghĩ sẽ sớm quay trở về, để rồi vội vã ra đi và quên mất vật nuôi của mình đang bị bỏ lại phía sau.
Đi đến đâu, ông cũng nghe thấy tiếng động vật tru, rống rất thảm thiết vì đói khát. Ngay lập tức, ông bắt tay vào cho chó, mèo ăn uống. Gia súc thì ông thả ra để chúng có thể tự đi kiếm ăn.
Đã có những người được phân công nhiệm vụ tìm đến Fukushima để kết liễu cuộc sống của đàn gia súc vì thịt của những con vật này bị cho là không thể ăn được và nếu để chúng sống thì cũng không có ai chăm sóc.
Ông Naoto đã ngăn việc này lại và chính thức nhận lời chăm sóc đàn gia súc, bởi: “Nếu họ giết những con vật này để lấy thịt, tôi sẽ không băn khoăn gì, vì đó là cuộc sống. Nhưng giết chúng chỉ vì muốn chúng chết đi ư? Không thể nào!”.


Câu chuyện về ông Naoto Matsumura đã ngay lập tức thu hút sự quan tâm của nhiều người dân Nhật, đã có những người tìm đến đây mang theo đồ ăn, nước uống để hỗ trợ cuộc sống thường nhật của ông Naoto. Ban đầu, họ cũng e dè khi tìm đến vùng đất nhiễm phóng xạ, cũng giống như ông trong ngày mới trở về.
Nhưng dần dần, mọi người không còn quá sợ hãi nữa và tiếp tục quay trở lại tìm ông. Hiện tại, vẫn chưa có ai muốn quay trở về đây sinh sống giống như ông Naoto, và ông cụ vẫn ngày ngày một mình chăm sóc đàn gia súc: “Tôi sinh ra và lớn lên ở thị trấn Tomioka. Khi tôi chết, tôi sẽ chết ở Tomioka”.
Ông cụ Naoto được người dân Nhật gọi là “ông cụ phóng xạ” vì những bài kiểm tra y tế đã cho thấy trong cơ thể ông, nồng độ phóng xạ cao gấp 17 lần người bình thường và ông cụ cũng là người phơi nhiễm phóng xạ nhiều nhất ở nước Nhật. Ông Naoto biết phóng xạ rất nguy hiểm nhưng ông cho rằng ở tuổi của mình, không còn có gì để phải quá lo lắng nữa.


Ông cho rằng để ông có thể chết vì phóng xạ, cần phải 30-40 năm nữa, mà trước khi điều đó xảy ra thì quy luật tự nhiên về tuổi tác đã đến tìm ông trước rồi, vì vậy, không cần phải sợ hãi.
Những người tình nguyện tìm đến đây đều nhận thấy rằng ông Naoto là một người rất hài hước, chính điều đó đã giúp ông vẫn sống vui vẻ và khỏe mạnh trong một môi trường độc hại và cô đơn.
Cả chuyến tàu vắng lặng hoạt động chỉ vì… một hành khách
Gần đây, báo chí thế giới lại được biết tới thêm một câu chuyện giàu tính nhân văn ở nước Nhật, xoay quanh một chuyến tàu vắng lặng vẫn duy trì hoạt động chỉ vì một hành khách. Chuyến tàu này chỉ có hai điểm dừng, một điểm dừng để đón một nữ sinh trung học từ nhà đến trường và một điểm điểm dừng để đón nữ sinh này từ trường về nhà.

Nữ sinh duy nhất sử dụng dịch vụ ở nhà ga Kami-Shirataki
Đã vài năm nay, nữ sinh này là hành khách duy nhất chờ đợi chuyến tàu ở nhà ga Kami-Shirataki, nằm ở thị trấn Engaru, trên hòn đảo thuộc vùng cực Bắc của Nhật Bản - đảo Hokkaido. Chuyến tàu này một ngày hoạt động hai lần, mục đích chính là để chạy qua nhà ga Kami-Shirataki đón cô nữ sinh đến trường và sau đó đưa cô về nhà.
Câu chuyện thoạt nghe có vẻ như cổ tích, nhưng đó chính là một “chuyện lạ có thật” ở đất nước Nhật Bản, khi Tập đoàn Đường sắt Nhật Bản - đơn vị chịu trách nhiệm hoạt động toàn bộ hệ thống đường sắt trên khắp nước Nhật - cách đây 3 năm đã đưa ra một quyết định chưa từng có tiền lệ.
Tại thời điểm đưa ra quyết định, lượng hành khách mà nhà ga Kami-Shirataki phục vụ đã sụt giảm đáng kể bởi nơi đây quá hẻo lánh, ít người qua lại. Đáng lẽ, chuyến tàu này đã bị dừng hoạt động nhưng người ta nhận được thông tin rằng vẫn còn một hành khách cần sử dụng chuyến tàu này mỗi ngày, đó là một nữ sinh trung học. (học sinh Việt Nam chờ đợi một chiếc cầu để đi học hơn 40 năm vẫn chưa có)

Nhà ga Kami-Shirataki trong một ngày đông
Vì vậy, người ta đã quyết định vẫn duy trì hoạt động của chuyến tàu để phục vụ cô nữ sinh cho tới ngày cô gái tốt nghiệp trung học. Lịch trình của chuyến tàu thậm chí còn được điều chỉnh theo thời khóa biểu của cô gái.
Danh tính của nữ sinh trung học được giữ kín nhưng người ta cho biết rằng tới tháng 3 này, cô sẽ tốt nghiệp trung học, sau đó, nhà ga Kami-Shirataki sẽ đóng cửa vĩnh viễn sau khi đã hoàn thành những năm tháng phục vụ vị khách cuối cùng.
Khi câu chuyện này được chia sẻ trên mạng xã hội thế giới những ngày gần đây, người ta đã rất ngưỡng mộ quyết định của Tập đoàn Đường sắt Nhật Bản khi họ đề cao việc học tập dù chỉ là của một cá nhân.


Những chuyến tàu cao tốc của Nhật Bản vẫn đang tiếp tục mở rộng trên khắp đất nước và dần thay thế những chuyến tàu già nua, cũ kỹ nhưng trong khi những chuyến tàu hiện đại vẫn chưa kịp tới một số vùng quê hẻo lánh, thì những nhà ga xưa cũ như Kami-Shirataki vẫn cần thiết đối với một số người.
Trong khi những tuyến đường sắt xưa cũ của Nhật đang ở vào những ngày tháng hoạt động cuối cùng, thì câu chuyện về một cô gái và dịch vụ đặc biệt mà nhà ga Kami-Shiratki dành cho cô sẽ được nhớ đến như một hồi kết đẹp về thái độ tận tâm phục vụ cho tới những giờ khắc cuối cùng - một tinh thần, một thái độ rất… Nhật Bản
Hachiko chú chó trung thành 10 năm đợi chủ
Có lẽ câu chuyện cảm động được lan truyền nhiều nhất và được nhiều người dân trên thế giới nhớ đến nhất về đất nước mặt trời mọc, chính là câu chuyện về chú chó Hachiko. Năm 1924, giáo sư Hidesaburo Ueno giảng dạy ở khoa nông nghiệp của trường Đại học Tokyo đã mua chú chó nhỏ Hachiko.
Chú chó Hachiko trong những ngày tháng cuối đời năm 1935
Mỗi buổi sáng, Hachiko đều đi theo giáo sư Ueno tới nhà ga Shibuya để tiễn ông tới nơi làm việc. Đến chiều, Hachiko lại đi ra sân ga để chờ đón ông Ueno trở về. Những ngày đó cứ diễn ra đều đặn, trở thành một nhịp sinh hoạt quen thuộc đối với Hachiko, cho đến một ngày tháng 5/1925, ông Ueno bị một cơn đau tim đột ngột, và qua đời ngay tại nhà trường.
Sau ngày định mệnh đó, mỗi ngày, Hachiko vẫn tới nhà ga để chờ đón ông chủ trở về theo đúng nhịp cũ. Hachiko xuất hiện đúng lúc tàu vào ga vào cuối buổi chiều để tìm một bóng dáng thân quen giữa dòng người đang hối hả trở về nhà lúc cuối ngày. Từng ngày sau khi ông Ueno qua đời, Hachiko luôn đều đặn có mặt tại nhà ga suốt… 9 năm 9 tháng 15 ngày cho đến khi chết…
Năm 1932, một sinh viên cũ của ông Ueno được nghe về Hachiko - chú chó trung thành. Anh sinh viên đã đến thăm chú chó và thực hiện những bài viết về sự trung thành tuyệt đối của Hachiko. Một trong những bài viết này đã được đăng tải trên tờ nhật báo Asahi Shimbun - một tờ nhật báo nổi tiếng ở Tokyo và nhận được sự quan tâm rất lớn của độc giả.

Ngày Hachiko qua đời tại nhà ga Shibuya
Kể từ đó, bắt đầu có nhiều người mang đồ ăn đến cho Hachiko tại nhà ga trong lúc chú chó chờ đợi chủ mỗi ngày. Hachiko trở thành một hiện tượng trên khắp nước Nhật. Lòng trung thành của Hachiko với ông chủ đã khiến người dân Nhật cảm động và là biểu tượng cho lòng trung thành, sự tận tâm đối với gia đình, cũng là điều mà mọi người dân Nhật đều đề cao.
Câu chuyện về Hachiko cho tới giờ vẫn có sức sống lâu bền trong đời sống văn hóa Nhật Bản bất kể nhiều thập kỷ đã trôi qua, người lớn vẫn kể câu chuyện về Hachiko cho trẻ nhỏ nghe, các nghệ sĩ điêu khắc nổi tiếng của Nhật đã từng tạc tượng chú.
Cuối cùng, ngày 8/3/1935, Hachiko đã có thể gặp lại người chủ mà chú đã chờ đợi suốt gần 10 năm. Hachiko chết tại chính sân ga - nơi gần 10 năm trước chú đã tiễn ông chủ rời nhà lần cuối. Xác Hachiko đã được nhồi bông và bảo quản tại Bảo tàng Quốc gia Khoa học Nhật Bản, nằm ở quận Ueno, Tokyo.

Hachiko trong viện bảo tàng
Người ta cũng đã dựng tượng Hachiko tại nhà ga Shibuya, ngay tại cửa chính vào nhà ga. Cửa này cũng được đặt tên là “cửa Hachiko”.
Trong đời sống văn hóa đại chúng Nhật Bản, Hachiko đã trở nên quen thuộc, chú chó trung thành đã xuất hiện trong những bộ phim, những cuốn truyện tranh, được đặt tên cho những tuyến xe buýt mà trước đây hàng ngày Hachiko đã đi. Câu chuyện về Hachiko còn được khắc họa lại trong bộ phim hợp tác Anh - Mỹ “Hachi: A Dog's Tale” (2009).
“Ông cụ phóng xạ” tình nguyện ở lại một mình để chăm sóc vật nuôi trong vùng nhiễm xạ
Khi tất cả mọi người sơ tán khỏi khu vực bị nhiễm phóng xạ ở tỉnh Fukushima, một mình “ông cụ phóng xạ” quay trở lại, để chăm sóc cho đàn vật nuôi bị bỏ lại phía sau. Câu chuyện về ông đã nhanh chóng lan truyền và gây xúc động đối với người dân Nhật.

“Ông cụ phóng xạ” Naoto Matsumura
Nỗi đau và sự mất mát ập đến sau thảm họa kép động đất, sóng thần xảy ra ở Nhật Bản hồi năm 2011 đã được phản ánh qua nhiều bộ phim tài liệu. Tuy vậy, đằng sau những bi kịch đó, người ta bắt gặp những câu chuyện cảm động.
Một trong những câu chuyện như vậy kể về người đàn ông 55 tuổi - ông Naoto Matsumura - một công nhân xây dựng sống trong vùng nhiễm xạ.
Ông Naoto đã cùng mọi người lên đường đi di tản sau khi khu vực sinh sống cũ trở nên hoang tàn và nhiễm xạ, nhưng rồi trong một lần quay trở về, những gì được thấy đã khiến ông quyết định ở lại để chăm sóc cho những vật nuôi còn sống sót sau thảm họa. Những vật nuôi này không còn được chủ chăm sóc, đã phải đối diện với nguy cơ chết đói, chết khát.
Kể từ bấy đến nay, đã 5 năm trôi qua và ông trở thành “người bảo hộ” cho những con vật bị bỏ lại ở thị trấn Tomioka, quận Futaba, tỉnh Fukushima. Trở lại vùng nhiễm xạ, ăn ở trong môi trường nguy hiểm, độc hại, nhưng ông Naoto cho biết ông không lo sợ điều gì, bởi tuổi ông đã cao và thực tế là sau 5 năm sống tại đây, cả ông và đàn vật nuôi vẫn đang khỏe mạnh.


Ông Naoto vẫn nhớ khoảnh khắc ông lái xe trở về Fukushima, vật nuôi trong nhà vẫn còn đang bị xích lại vì người ta ai cũng nghĩ sẽ sớm quay trở về, để rồi vội vã ra đi và quên mất vật nuôi của mình đang bị bỏ lại phía sau.
Đi đến đâu, ông cũng nghe thấy tiếng động vật tru, rống rất thảm thiết vì đói khát. Ngay lập tức, ông bắt tay vào cho chó, mèo ăn uống. Gia súc thì ông thả ra để chúng có thể tự đi kiếm ăn.
Đã có những người được phân công nhiệm vụ tìm đến Fukushima để kết liễu cuộc sống của đàn gia súc vì thịt của những con vật này bị cho là không thể ăn được và nếu để chúng sống thì cũng không có ai chăm sóc.
Ông Naoto đã ngăn việc này lại và chính thức nhận lời chăm sóc đàn gia súc, bởi: “Nếu họ giết những con vật này để lấy thịt, tôi sẽ không băn khoăn gì, vì đó là cuộc sống. Nhưng giết chúng chỉ vì muốn chúng chết đi ư? Không thể nào!”.


Câu chuyện về ông Naoto Matsumura đã ngay lập tức thu hút sự quan tâm của nhiều người dân Nhật, đã có những người tìm đến đây mang theo đồ ăn, nước uống để hỗ trợ cuộc sống thường nhật của ông Naoto. Ban đầu, họ cũng e dè khi tìm đến vùng đất nhiễm phóng xạ, cũng giống như ông trong ngày mới trở về.
Nhưng dần dần, mọi người không còn quá sợ hãi nữa và tiếp tục quay trở lại tìm ông. Hiện tại, vẫn chưa có ai muốn quay trở về đây sinh sống giống như ông Naoto, và ông cụ vẫn ngày ngày một mình chăm sóc đàn gia súc: “Tôi sinh ra và lớn lên ở thị trấn Tomioka. Khi tôi chết, tôi sẽ chết ở Tomioka”.
Ông cụ Naoto được người dân Nhật gọi là “ông cụ phóng xạ” vì những bài kiểm tra y tế đã cho thấy trong cơ thể ông, nồng độ phóng xạ cao gấp 17 lần người bình thường và ông cụ cũng là người phơi nhiễm phóng xạ nhiều nhất ở nước Nhật. Ông Naoto biết phóng xạ rất nguy hiểm nhưng ông cho rằng ở tuổi của mình, không còn có gì để phải quá lo lắng nữa.


Ông cho rằng để ông có thể chết vì phóng xạ, cần phải 30-40 năm nữa, mà trước khi điều đó xảy ra thì quy luật tự nhiên về tuổi tác đã đến tìm ông trước rồi, vì vậy, không cần phải sợ hãi.
Những người tình nguyện tìm đến đây đều nhận thấy rằng ông Naoto là một người rất hài hước, chính điều đó đã giúp ông vẫn sống vui vẻ và khỏe mạnh trong một môi trường độc hại và cô đơn.
Cả chuyến tàu vắng lặng hoạt động chỉ vì… một hành khách
Gần đây, báo chí thế giới lại được biết tới thêm một câu chuyện giàu tính nhân văn ở nước Nhật, xoay quanh một chuyến tàu vắng lặng vẫn duy trì hoạt động chỉ vì một hành khách. Chuyến tàu này chỉ có hai điểm dừng, một điểm dừng để đón một nữ sinh trung học từ nhà đến trường và một điểm điểm dừng để đón nữ sinh này từ trường về nhà.

Nữ sinh duy nhất sử dụng dịch vụ ở nhà ga Kami-Shirataki
Đã vài năm nay, nữ sinh này là hành khách duy nhất chờ đợi chuyến tàu ở nhà ga Kami-Shirataki, nằm ở thị trấn Engaru, trên hòn đảo thuộc vùng cực Bắc của Nhật Bản - đảo Hokkaido. Chuyến tàu này một ngày hoạt động hai lần, mục đích chính là để chạy qua nhà ga Kami-Shirataki đón cô nữ sinh đến trường và sau đó đưa cô về nhà.
Câu chuyện thoạt nghe có vẻ như cổ tích, nhưng đó chính là một “chuyện lạ có thật” ở đất nước Nhật Bản, khi Tập đoàn Đường sắt Nhật Bản - đơn vị chịu trách nhiệm hoạt động toàn bộ hệ thống đường sắt trên khắp nước Nhật - cách đây 3 năm đã đưa ra một quyết định chưa từng có tiền lệ.
Tại thời điểm đưa ra quyết định, lượng hành khách mà nhà ga Kami-Shirataki phục vụ đã sụt giảm đáng kể bởi nơi đây quá hẻo lánh, ít người qua lại. Đáng lẽ, chuyến tàu này đã bị dừng hoạt động nhưng người ta nhận được thông tin rằng vẫn còn một hành khách cần sử dụng chuyến tàu này mỗi ngày, đó là một nữ sinh trung học. (học sinh Việt Nam chờ đợi một chiếc cầu để đi học hơn 40 năm vẫn chưa có)

Nhà ga Kami-Shirataki trong một ngày đông
Vì vậy, người ta đã quyết định vẫn duy trì hoạt động của chuyến tàu để phục vụ cô nữ sinh cho tới ngày cô gái tốt nghiệp trung học. Lịch trình của chuyến tàu thậm chí còn được điều chỉnh theo thời khóa biểu của cô gái.
Danh tính của nữ sinh trung học được giữ kín nhưng người ta cho biết rằng tới tháng 3 này, cô sẽ tốt nghiệp trung học, sau đó, nhà ga Kami-Shirataki sẽ đóng cửa vĩnh viễn sau khi đã hoàn thành những năm tháng phục vụ vị khách cuối cùng.
Khi câu chuyện này được chia sẻ trên mạng xã hội thế giới những ngày gần đây, người ta đã rất ngưỡng mộ quyết định của Tập đoàn Đường sắt Nhật Bản khi họ đề cao việc học tập dù chỉ là của một cá nhân.


Những chuyến tàu cao tốc của Nhật Bản vẫn đang tiếp tục mở rộng trên khắp đất nước và dần thay thế những chuyến tàu già nua, cũ kỹ nhưng trong khi những chuyến tàu hiện đại vẫn chưa kịp tới một số vùng quê hẻo lánh, thì những nhà ga xưa cũ như Kami-Shirataki vẫn cần thiết đối với một số người.
Trong khi những tuyến đường sắt xưa cũ của Nhật đang ở vào những ngày tháng hoạt động cuối cùng, thì câu chuyện về một cô gái và dịch vụ đặc biệt mà nhà ga Kami-Shiratki dành cho cô sẽ được nhớ đến như một hồi kết đẹp về thái độ tận tâm phục vụ cho tới những giờ khắc cuối cùng - một tinh thần, một thái độ rất… Nhật Bản
35 năm tình sâu nghĩa nặng của Celine Dion và chồng
Năm 1980, cô bé Celine Dion 12 tuổi cháy bỏng niềm đam mê ca hát đã mạnh dạn gửi bản demo ca khúc tự sáng tác tới nhà sản xuất âm nhạc Rene Angelil. Khi đó Rene 38 tuổi, đã bật khóc khi lần đâu nghe Celine hát và ngay lập tức muốn gặp gỡ cô bé này. Quyết tâm trở thành bệ phóng âm nhạc cho giọng ca nhí tài năng này, Rene đã thế chấp nhà để vay tiền sản xuất album đầu tay cho cô. Và Celine đã nhanh chóng tỏa sáng.
Khi Celine trở thành một thiếu nữ, tình cảm giữa cô và nhà sản xuất âm nhạc bắt đầu nảy nở. Năm 1987, cô và Rene công khai tình yêu (ảnh trên). Lúc đó, Celine 19 tuổi còn Rene 45 tuổi, đã trải qua 2 đời vợ và có 3 người con riêngNăm 1991, Celine và Rene đính hôn. Nữ ca sĩ bị mẹ phản đối kịch liệt nhưng cô vẫn quyết tâm đi theo tiếng gọi của con tim và tin tưởng vào sự lựa chọn của mình. Một năm sau, Rene bị nhồi máu cơ tim suýt nguy kịch. Celine luôn ở bên Rene giúp ông hồi phục. Cùng năm đó, cô trở thành ngôi sao nhạc pop thế giới sau khi thu âm ca khúc "Beauty and the Beast".
Tháng 12/1994, hai người kết hôn tại nhà thờ ở Montreal, Quebec.
Một năm sau, diva người Canada chia sẻ về quyết định kết hôn với người thày hơn cô tới 26 tuổi trong cuộc phỏng vấn với tờ ET: "Không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng tôi cưới nhau. Bởi vì chúng tôi có chung một giấc mơ, một mục tiêu và chúng tôi có sự tôn trọng lẫn nhau”.
Không lâu sau đó, Rene phát hiện bệnh ung thư vòm họng. Trong 2 năm 1998-1999, khi đang ở đỉnh cao sự nghiệp, Celine tạm gác công việc để sát cánh cùng chồng khi Rene trải qua 2 cuộc phẫu thuật và những đợt trị xạ dài ngày. Nữ ca sĩ từng tâm sự: "Khi những điều như thế này xảy đến, tôi cảm thấy mình mạnh mẽ hơn bao giờ hết bởi tôi biết rằng, Rene cần tôi, có lẽ là lần đầu tiên trong cuộc đời".
Tháng 1/2000, sau khi vượt qua bạo bệnh, Celine và chồng hạnh phúc trao lời thề nguyền lần nữa trong đám cưới lại ở Las Vegas.
Ngày 25/1/2001, con trai đầu lòng của cặp đôi, Rene-Charles Angelil, chào đời.
Vợ chồng Celine thể hiện tình yêu tại chung kết Super Bowl năm 2003.Năm 2009, Rene lại gặp vấn đề sức khỏe liên quan đến bệnh tim và đi điều trị một thời gian.
Tháng 10/2010, vợ chồng Celine chào đón cặp song sinh con trai Eddy và Nelson. Hai bé cũng như cậu anh trai Rene-Charles đều ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Những đau đớn và vất vả khi thụ tinh và mang bầu không ngăn cản được quyết tâm có thêm con của giọng ca "My Heart Will Go On".
Gia đình hạnh phúc của Celine Dion tại lễ ra mắt phim "Người đẹp và ác thú" tháng 1/2012.
Cuối năm 2013, bệnh ung thư vòm họng tái phát. Rene làm phẫu thuật để cắt bỏ khối u. Celine lại rời bỏ ánh đèn sân khấu để chăm sóc cho chồng. Sự vắng mặt của cô cũng như Rene từng làm dấy lên tin đồn hôn nhân của họ đã tan vỡ.
Vài tháng sau, Celine Dion mới chia sẻ về bệnh tình của chồng và cho biết, sức khỏe của Rene đã hồi phục. Tuy nhiên những ngày sau đó, bệnh của chồng cô ngày càng nặng hơn. Tháng 6/2014, Rene thôi làm quản lý công việc cho Celine. Không lâu sau, diva nhạc pop cũng thông báo sẽ tạm gác sự nghiệp để dành toàn bộ thời gian và sức lực bên chồng.
Hè năm 2015, theo ý nguyện của Rene, Celine xuất hiện trở lại trong show diễn ở Las Vegas và một số concert khác. Nữ ca sĩ chia sẻ: "Rene rất mạnh mẽ. Anh ấy vẫn đang nỗ lực chống chọi với bệnh tật và không hề nản chí. Anh ấy muốn tôi tiếp tục ca hát và trông thấy tôi mạnh mẽ. Đó là lý do chúng tôi sẽ cùng nhau tổ chức show diễn lần này".
Trong cuộc phỏng vấn vào năm ngoái, Celine Dion đã bật khóc khi kể về bệnh tình của chồng và chia sẻ nỗi sợ hãi nếu một ngày nào đó Rene ra đi, bỏ lại cô cùng 3 cậu con trai. Tuy nhiên, ngày đó cuối cùng đã đến sau một thời gian dài chồng cô kiên cường chiến đấu với căn bệnh quái ác. Nhà sản xuất âm nhạc Rene Angelil ra đi thanh thản trong vòng tay của Celine Dion và các con vào ngày 14/1/2016.
Subscribe to:
Posts (Atom)
































































































