Tôi đến thăm Cali vào những ngày mưa, mưa tầm tã. Đài phát thanh Little Saigon, trong chương trình dự báo thời tiết, cho biết cả tiểu bang Cali đang bị ảnh hưởng một cơn bão nhiệt đới. Nằm nhà người bạn cùng đơn vị xưa ở thành phố Garden Grove, trong khu Little Saigon, cả ngày hai thằng thi nhau kể chuyện chiến trường, chuyện bạn bè, tù tội, làm cho những cơn mưa như càng dài ra thêm.
Anh bạn rủ tôi ra Hội Trường Nhật Báo Viễn Đông tham dự buổi ra mắt sách của một nhà văn nữ. Anh tỏ ra am tường về mọi thứ chuyện, bảo ở hải ngoại thời buổi này văn chương chữ nghĩa rẻ như bèo, mà nhà văn nhà thơ thì cứ mọc lên như nấm. Đúng là người Việt nam nào cũng có đầy thơ văn trong bụng. Nhưng nhà văn hôm nay là người quen, một cô bạn học cũ, sau này anh bất ngờ gặp lại khi cô đang làm phóng viên chiến trường, nên tới để cho cô ấy vui.
Chúng tôi đến trễ, may mà còn mấy chiếc ghế trống phía sau để không phải đứng. Trên sân khấu, một diễn giả, dường như cũng là một nhà văn lão thành có tiếng tăm, đang giới thiệu tác giả và tác phẩm.
Lại thêm một tác phẩm nữa về chiến tranh! Cuộc chiến chấm dứt đã hơn 30 năm, nhưng bao nhiêu nỗi oan khiên dường như vẫn còn nguyên trong lòng người tha phương, như những vết thương không bao giờ lành được.
Người MC rất khéo léo, khi muốn tạo một không khí gây nhiều cảm xúc trước khi nhân vật chính, nhà văn nữ, lên trình diện và tâm tình vài lời cùng cử tọa, nên chương trình được nối tiếp bằng tiết mục ngâm thơ. Bài thơ Ta Về của nhà thơ Tô Thùy Yên được diễn ngâm bằng giọng rất truyền cảm của nữ sĩ Bích Loan. Cá nhân tôi cũng rất thích bài thơ Ta Về này. Bài thơ hay mà tác giả lại là người bạn cùng tù mà tôi rất quý, nên lắng tai chú ý nghe.
Cả hội trường im lặng khi tiếng sáo cất lên cao vút. Anh MC vừa giới thiệu đó là tiếng sáo của Hồ Ngọc, tiếng sáo điêu luyện, nổi tiếng của miền Nam Cali. Lời giới thiệu này quả không cường điệu chút nào. Tiếng sáo trầm bổng, réo rắt, thiết tha, như vừa du hồn tôi vào một cõi hư vô nào đó. Rõ ràng tiếng sáo đã làm cho bài thơ gây cảm xúc tột cùng trong lòng người nghe, mà hầu hết đều từng mang tâm trạng của những kẻ “ta về”.
Tôi đứng lên, nhìn về hướng sân khấu. Hồ Ngọc, người cao lớn, đầu cúi xuống, các ngón tay như đang múa trên cây sáo nhỏ, tôi chỉ nhìn thấy mái tóc hoa râm bồng bềnh. Tôi thích thổi sáo từ nhỏ, khi mê tiếng sáo Nguyễn Đình Nghĩa trong chương trình Tao Đàn của Tô Kiều Ngân trên đài phát thanh Sài gòn, vào những đêm khuya thuở trước. Sau tháng 4/75, qua bao nhiêu vật đổi sao dời, dường như đây là lần đầu tiên tôi được nghe lại một tiếng sáo hay và buồn như thế. Tiết mục ngâm thơ chấm dứt, tiếng vỗ tay như muốn vỡ cả hội trường.
Tôi cúi mình đi vòng về phía sau sân khấu, tò mò nôn nóng muốn biết Hồ Ngọc và cũng muốn được bắt tay ca ngợi anh một tiếng. Vừa đúng lúc Hồ Ngọc đang cầm chai nước lọc đưa lên miệng, thì cả hai chúng tôi đều nhận ra nhau. Anh chưa kịp uống một hớp nước, kêu tên tôi và ôm chầm lấy tôi.
Hồ Ngọc, là nghệ danh của Hồ Ngọc Phú Hội, người bạn thân của tôi từ thời thơ ấu. Hai thằng ở cùng làng. Nhà ông bà nội tôi cách nhà Hội chỉ một vạc ruộng, con mương và đặc biệt là những hàng tre cao, mà buổi tối những đàn có trắng thường kéo nhau về ngủ ở đây, gây chút rộn rã cho một vùng không gian tĩnh mịch và tạo những nét chấm phá trên nền xám đen của khung trời sắp tối như một bức tranh thủy mặc.
Vào mùa đông, những buổi chiều gió mưa tầm tã, tôi thường đứng bên cửa sổ nhà ông bà nội, nhìn ra hàng tre với những cái đọt cao vút theo gió chao qua đảo lại mà thấy tội nghiệp và lo lắng cho những chú cò trên ấy.
Cha tôi và cha của Hội là hai người bạn cùng trường thời Pháp thuộc. Sau này cả hai ông đều làm thầy giáo. Cha tôi bị Việt Minh bắt đưa ra Liên Khu 5. Hai năm sau ông được thả về với cơn bệnh sốt sét, đành phải nghỉ dạy, nên gởi tôi theo học với cha của Hội, mà trong làng và cả bọn học trò chúng tôi thường gọi ông là thầy giáo Tám. Ông là một vị thầy nổi tiếng dạy giỏi, nhưng rất nghiêm khắc.
Đám học trò nhỏ của Thầy sau này vào đại học khá nhiều, và một số rất thành công trong nhiều sự nghiệp. Trong lớp hình như đứa nào cũng từng bị đánh đòn hoặc bị phạt ở lại quét sân trường, trồng cây vào những ngày thứ bảy chủ nhật, ngoại trừ tôi.
Có lần làm sai mấy bài toán tôi suýt bị tát tai, nhưng rồi Thầy kịp dừng tay lại. Có lẽ Thầy ngại làm buồn lòng cha tôi, hơn nữa lúc ấy tôi mồ côi mẹ, nên Tiếng sáo ông cũng động lòng thương. Đứa học trò bị đòn nhiều nhất lại chính là Hội, đứa con trai lớn của Thầy.
Mặc dù Hội học khá giỏi, nhất là môn toán. Thầy đánh con mình để làm gương. Lúc ấy, tôi nghĩ thầm như thế và thấy rất thương Hội và tội nghiệp cho Hội. Ngược lại với Thầy, mẹ của Hội lại là một người đàn bà phúc hậu, hiền lành và rất cưng chiều con. Những ngày nghỉ, tôi thường đến nhà Hội chơi, nhưng không dám bước vào ngôi nhà trên vì sợ gặpThầy. Bọn tôi thường chơi phía sau vườn, mẹ Hội làm vài thứ bánh mang ra cho hai đứa chúng tôi ăn.
Có lần hai thằng rủ nhau đi tìm những tổ sáo, mang về nuôi hai con sáo con, giấu nó phía sau hè. Mẹ Hội giúp tìm thức ăn và chăm sóc hai chú sáo. Hội tập cho những con sáo con biết bay và biết nói. Khi hai con sáo lớn lên, nó bay theo chúng tôi, đậu trên vai, theo bọn tôi tới trường, hót líu lo, và bập bẹ vài tiếng: chào anh! chào chị! Cả đám học trò bu quanh, thèm thuồng. Có thằng còn theo năn nỉ, cho quà chúng tôi chỉ để được sờ hay ôm con sáo. Hội còn dạy cho tôi làm bẫy phía sau bờ mương, bên hàng tre, để bắt được mấy con cuốc khi tìm theo tiếng “gọi hè” của nó.
Một lần, mang con cuốc về nhà nội, bất ngờ gặp cha tôi. Ông bảo con cuốc còn được gọi là Đỗ Quyên hay Từ Quy, theo tích xưa là hóa thân của Vua Thục Đế bên Tàu, mất nước nên đã khóc đến chảy máu mắt, chết đi hóa thành con cuốc kêu lên những tiếng khắc khoải não nùng. Nghe cha tôi kể lại chuyện xưa, Hội cảm động quá, bảo tôi đem con cuốc thả lại chỗ cũ, và từ đó không bao giờ chúng tôi bẫy những con cuốc nữa. Từ nhỏ, tôi đã phục Hội có tính nhân từ và nhiều tài, dạy cho tôi nhiều chuyện hay, mặc dù Hội nhỏ hơn tôi đến hai tuổi. Khi hết bậc tiểu học, tôi phải rời quê vào Nha Trang, vì ở đây mới có trường trung học. Nhưng chỉ vài năm sau, chúng tôi lại gặp nhau ở thành phố này. Hội ở trọ nhà một người quen trên đường Âu Cơ, khu Xóm Mới. Thỉnh thoảng vào những ngày cuối tuần, tôi đạp xe đến thăm. Có khi hai thằng rủ nhau đi “cọp” xe lửa về thăm quê và lũ bạn nhỏ ngày xưa.
Lần đầu tiên tôi gặp Hội ở nhà trọ, đúng vào lúc anh ta đang tập thổi sáo. Hội mang ra khoe tôi cây sáo trúc rất đẹp, được giữ cẩn thận trong một cái hộp bao bằng vải nhung đen, Cây sáo được ông thầy người Huế tặng cho Hội, “một cậu học trò có năng khiếu, sẽ tạo cho chiếc sáo này có một linh hồn”. Ông Thầy bảo như như thế. Mặc dù lúc ấy, tiếng sáo của Hội chưa có gì đặc sắc. Sau khi xong trung học, tôi rời Nha Trang vào Sài gòn học thêm một vài năm, rồi xếp bút nghiên vào lính.
Ra trường, được bổ sung về một đơn vị tác chiến lưu động ở Cao Nguyên. Năm tháng sống chết với đồng đội, núi rừng, nên chúng tôi không có dịp gặp nhau. Sau này, trong một lần bị thương, xuất viện được vài ngày phép trước khi ra đơn vị, tôi về thăm quê nội và ghé lại thăm cha mẹ Hội. Lúc này thầy Tám không còn dạy học nữa, mà ở nhà làm chủ, cho thuê các loại nông cơ: máy cày, máy gặt. Thầy đón tiếp niềm nở, tôi không còn thấy sợ như ngày xưa. Thầy cho biết là Hội cũng đã vào lính và đang phục vụ tận dưới Vùng IV đồng bằng sông nước.
Cả năm cũng chỉ về phép một đôi lần ngắn ngủi. Thấy mẹ Hội bồng một đứa bé gái chừng một, hai tuổi, tôi lấy làm lạ, hỏi bà, và được biết đó là đứa con đầu lòng của Hội. Khuôn mặt đứa bé trông giống ông nội như đúc. Không hiểu tại sao lúc ấy tôi không hỏi gì về vợ của Hội, và tại sao bà nội lại phải nuôi đứa cháu sơ sinh.
Rồi từ đó cho đến ngày 30/4/75, tôi cũng không gặp lại Hội. Cho mãi hơn tám năm sau, khi tôi trở về từ những trại tù, và chính quyền CS không cho tạm cư cùng với vợ con ở thị trấn Ninh Hòa (quê vợ), bắt buộc phải về “quản chế” nơi sinh quán, tôi mới gặp lại Hội. Hội bị tù ở trại A 30 trong Nam, và được thả về trước tôi một năm.
Anh ở một mình trong căn nhà tranh nhỏ, vốn là cái kho chứa vật dụng nông nghiệp hư hỏng lâu năm của cha anh, nằm ngay trên vùng đất của ngôi trường mà ngày xưa thầy Tám dạy học. Hội kiếm sống qua ngày bằng việc làm vườn trồng rau và sửa chữa xe đạp cho khách qua đường. Chúng tôi lại trở thành đôi bạn như ngày xưa. Có điều bây giờ gần như cả hai thằng phải sống bên lề xã hội. Cứ vài ngày phải đi làm thủy lợi, sửa chữa các con đường trong xã. Tối đến phải ra trình diện công an trước khi đi ngủ.
Lúc này, cha tôi đã chết trong một trại tù khác trong Nam, còn thầy Tám, cha của Hội, bị kết tội “phá hoại công cụ sản xuất” khi ông không chịu giao nạp cho chính quyền những chiếc máy nông cơ của ông, và phá tháo ra từng mảnh nhỏ, chôn giấu rải rác khắp trong vườn, nên bị cưỡng bách làm việc đo đạc cho một hợp tác xã nông nghiệp, mà tên chủ nhiệm lại chính là một thằng hoc trò rất dốt của ông ngày xưa, học đâu chỉ tới lớp nhì rồi nghỉ. Trước 75, hắn ta là lính hải thuyền đào ngũ, do tội ăn cắp chất nổ, không dám trở về đơn vị, trốn ngoài một hòn đảo nhỏ, sống bằng nghề làm rẫy và đánh cá, rồi bị móc nối theo giặc. Sau tháng 4/75, nhờ tài nịnh hót, chỉ điểm mà từ một tên du kích, hắn ta trở thành chủ nhiệm HTX có tiếng hống hách và tàn ác nhất huyện. ( Sau này lên đến chức trưởng ban thương nghiệp huyện, bị tù vì tham nhũng và đã chết sau vài năm được thả ra).
Một hôm, vợ chồng tôi đến thăm, bất ngờ gặp vợ và hai đứa con trai rất dễ thương của Hội. Hội cho biêt là vợ con sống ở Nha Trang, chỉ lâu lâu ra thăm một lần. Vợ Hội là một người đàn bà đẹp, có nét đài các, dù trải qua cảnh đời cơ cực, nhưng nhan sắc không mấy tàn phai. Thấy vợ chồng con cái đoàn tụ, hạnh phúc, tôi mừng cho Hội. Chúng tôi cùng làm thịt con gà do vợ Hội mang về, hái rau thơm trồng sẵn sau vườn, ăn một bữa cơm chung “thịnh soạn”. Chỉ hai hôm sau, vợ con Hội lại trở về thành phố. Sau khi đưa vợ con lên xe đò, Hội theo chúng tôi về nhà ông bà nội tôi, nơi tôi đang “tạm trú”.
Thấy anh không vào nhà ngay, mà đứng nhìn trời buồn bã, vợ tôi đùa: - Mới đưa người đẹp đi mà lại nhớ rồi hay sao đây? Hội cười, nhưng nét buồn vẫn còn nguyên trên mặt. Buổi trưa hôm ấy, ba chúng tôi ngồi uống trà tâm tình dưới gốc cây xoài già, nơi ngày xưa tôi và cô Út thường ngồi đọc truyện cho bà nội tôi nghe. Khi vợ tôi hỏi vì sao mà vợ Hội không ở lại với anh nhiều hơn, Hội buồn bã trả lời: - Bà phải về trông con, vì bà còn một đứa con gái nhỏ ở nhà. Nhưng nó không phải là con của tôi.
Bất ngờ nghe qua điều này, vợ chồng tôi biết đây là một câu chuyện buồn. Thấy chúng tôi trầm ngâm im lặng, Hội kể cho chúng tôi nghe về cuộc tình đẹp, nhưng trắc trở trong hôn nhân và những biến cố đau buồn của vợ chồng anh. Trước khi vào lính, nhờ trình độ Anh văn khá và lý lịch tốt, Hội được nhận vào làm thông dịch viên cho Cơ quan Mỹ phụ trách Chiến Dịch Phượng Hoàng tại một tỉnh Cao Nguyên. Với công việc này, anh có nhiều dịp gặp gỡ ông Phó ty Cảnh sát, và được ông nhờ anh, cứ ba buổi tối trong tuần, đến nhà dạy kèm cho cô con gái môn Anh văn và toán. Cô bé đang học lớp đệ ngũ. Hội cao lớn, đẹp trai, lại đàn hát hay, nhưng không phải vì thế mà chỉ mới hai tuần cô học trò nhỏ đã “ái mộ” ông thầy.
Sau này cô bé cho biết cô mê ông thầy chính vì tiếng sáo, “tiếng sáo ru hồn người ta”- lời cô bé nói. Cô bé rất xinh, có cái tên hơi kiếm hiệp “Hà Thị Triệu Minh”. Có thể ngày xưa phụ thân cô thích đọc chuyện chưởng và ái mộ nhân vật Triệu Minh? Dường như khi biết yêu thì các cô con gái “trổ mã”, lớn nhanh hơn và đẹp ra nhiều hơn.
Chỉ một năm sau, khi lên lớp đệ tứ, Triệu Minh là hoa khôi trong đám nữ sinh trong tỉnh. Những ngày nghỉ học, cô học trò Triệu Minh nói dối mẹ, đi học nhóm, làm báo tường, tập hát với các bạn cùng lớp, nhưng thực ra là hẹn hò và dung dăng dung dẻ với ông gia sư trẻ. Trong thành phố này, góc núi, bờ sông, khu vườn, khe đá nào thơ mộng đều có in dấu chân, nghe lời tình tự, chứng kiến lời thề non hẹn biển của hai người.
Và tất nhiên ở những nơi ấy cũng còn cả dư âm “tiếng sáo ru hồn người ta” nữa. Khi cuộc tình của hai người đến thời kỳ say đắm nhất, cũng là lúc ông Phó Ty được các thám tử báo cáo tình hình. Có đứa con gái cưng xinh nhất tỉnh, không thể nào ông chịu để làm người tình với một chàng lãng tử, mà lương thông dịch chỉ ba cọc ba đồng. Ông bèn nhốt cô con gái trong nhà, mỗi lần đi học đều có người hộ tống.
Ông xách súng đi tìm Hội, và bắn tiếng là sẽ không để yên, nếu Hội không chấm dứt với Triệu Minh và rời khỏi Cao Nguyên. Triệu Minh biết rõ tính khí của cha mình, nên nhờ một cô bạn thân tìm Hội, trao cho anh mảnh giấy, bảo Hội phải ra đi ngay và hẹn thề sẽ tìm gặp lại ở một nơi nào đó sau này, không ai biết.
Mọi liên lạc đều qua trung gian của cô bạn học chí thân này. Nghe lời Triệu Minh, Hội xin chấm dứt ngay hợp đồng làm việc, theo máy bay Mỹ rời khỏi Cao Nguyên và sau đó xin vào trường Thủ Đức, mà trước đây Hội tạm thời được hoãn động viên nhờ Cơ quan DAO can thiệp. Ra trường, Hội xin về phục vụ tại Tiểu Khu An Xuyên, tỉnh cực nam của đất nước và xa cách muôn trùng với Cao Nguyên. Trong suốt thời gian này, hai người vẫn liên lạc nhau, qua cô bạn trung gian.
Mỗi tuần Hội đều nhận được một lá thư ướt đẫm nước mắt của Triệu Minh. Cuối cùng, Triệu Minh giữ lời thệ ước, sau khi thi đỗ tú tài, vờ vào Sài gòn xin vào đại học, rồi trốn cha mẹ, xuống Cà Mau sống với Hội. Sau khi sinh đứa con gái đầu lòng, Triệu Minh viết thư thú tội với cha mẹ, bảo là mình đã chọn đúng người chồng xứng đáng để yêu thương và sẽ cùng nhau tự lực xây dựng hạnh phúc gia đình, không hề xin mẹ cha bất cứ điều gì, ngoài sự cảm thông và bao dung tha thứ.
Triệu Minh nghĩ là dù sao ván cũng đã đóng thuyền, hơn nữa mình cũng đã sinh cho cha mẹ một đứa cháu ngoại, chắc chắn ông bà sẽ động lòng thương và chấp nhận cuộc hôn nhân. Nhưng cô đã lầm. Ông bà xuống tận nơi, xỉ vả Hội và Triệu Minh một trận, bắt phải tìm người cho đứa bé sơ sinh và Triệu Minh theo ông bà trở lại Cao Nguyên. Triệu Minh nhanh trí, cầu cứu cô bạn thân đến nhận trách nhiệm bồng đứa con cho bà cô ruột hiếm muộn ở Sài gòn, nhưng kỳ thực là giao cho mẹ của Hội, từ quê vào đóng vai cô của người bạn quý này.
Đó là lý do vì sao cô con gái đầu lòng của Hội sống ở nhà ông bà nội từ lúc sơ sinh, cho mãi đến sau này. Con bé không muốn về với cha mẹ nữa. Cuộc tình lại một lần nữa chia ly. Triệu Minh bị bắt buộc lên xe về Cao Nguyên cùng cha mẹ. Một thời gian sau, có lẽ vì đau buồn quá, Triệu Minh trải qua một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Gia đình phải đưa vào Sài gòn điều trị, nhưng bệnh tình ngày thêm trầm trọng, Triệu Minh ngày một tàn tạ hơn. Cô đòi được gặp Hội một lần. Lời thỉnh cầu được ba cô chấp nhận, như là ân huệ cuối cùng cho một tử tội.
Không ngờ sau khi gặp lại Hội, Triệu Minh bỗng khỏe lại. Chẳng hiểu vì động lòng trước mãnh lực của tình yêu hay là lo lắng sự sống còn của cô con gái, ông Phó Ty hứa sẽ cho làm đám cưới sau khi Triệu Minh bình phục. “Câu chuyện thật của tôi mà nghe sao giống như những chuyện tình buồn trong tiểu thuyết!”- lời Hội nói. Lần này, ông bà giữ lời hứa. Nhưng người từ chối lại là ông thầy Tám, cha của Hội. Ông vừa tự ái, vừa phẫn nộ cung cách hành xử của cha mẹ Triệu Minh. Cuối cùng, vì thương con trai mình, và lòng thủy chung của Triệu Minh, ông chấp nhận cuộc hôn nhân, nhưng cả hai ông bà đều không có mặt trong ngày đám cưới. Đại diện họ nhà trai hôm ấy lại chính là cha mẹ của cô bạn quý của Triệu Minh.
Sau đám cưới, cha của Triệu Minh dự định nhờ vào sự quen biết, xin kéo Hội về ngành Cảnh Sát và làm việc với ông. Lúc này ông không còn làm Phó ty mà đã nhận một nhiệm vụ khác và chuyển xuống làm việc ở thành phố Nha Trang. Nhưng Hội nhất quyết khước từ. Hơn nữa, nhờ có trình độ Anh văn và một số kinh nghiệm trong thời gian làm việc trong Chiến Dịch Phượng Hoàng, Hội vừa được chọn theo học một khóa tình báo ở Cây Mai. Sau khi mãn khóa được điều về một cơ quan tình báo ở Quân Đoàn IV, làm việc tại tỉnh lỵ Cần Thơ. Trong một căn nhà nhỏ thuê bên bờ sông thơ mộng, vợ chồng Hội thực sự sống những ngày hạnh phúc.
Hai đứa con trai khôi ngô lần lượt ra đời ở đó. Cuối năm 74, cha của Triệu Minh lại được chuyển ra Vùng I nhận một chức vụ mới. Ông đi trước một mình, để gia đình vẫn ở lại Nha Trang, ông sẽ thu xếp đi sau. Nhưng chỉ hơn ba tháng sau, ngày 10 tháng 3/75, Ban Mê Thuột mất vào tay giặc, các tỉnh Kontum, Pleiku, có lệnh di tản, tái phối trí chiến thuật. Rồi tướng Ngô Quang Trưởng đau đớn nhận lệnh bỏ cả Vùng 1 trong tức tưởi. Cha của Triệu Minh liên lạc vợ con cho biết ông đang tìm phương tiện di tản, bảo cả nhà chờ ông. Nhưng rồi họ không bao giờ còn gặp lại ông nữa. Ông được ghi nhận đã mất tích. Sau ngày mất nước, Hội đưa vợ và hai con từ Cần Thơ về Nha Trang, tạm sống chung với gia đình vợ. Hội vào tù khi cả nhà được tin cha Triệu Minh đã chết ở bờ biển Thuận An, do mấy anh cảnh sát cộng sự với ông cho biết, nhưng không ai biết xác thân ông bị vùi lấp ở đâu cùng với mấy ngàn người bất hạnh khác.
Khi tổ chức vươt biển cùng mấy người bạn tù, tôi có báo cho Hội biết, và vì chiếc ghe quá nhỏ, nên Hội chỉ có thể đi một mình, hay nhiều lắm là với một đứa con. Sau nhiều ngày suy nghĩ, cuối cùng Hội đã từ chối. Anh bảo là dù sao, anh cũng không thể bỏ vợ con ở lại được.
Sau gần một năm ở các trại tị nạn Singapore rồi Bataan/Phi Luật Tân, gia đình tôi được sang định cư ở Na-Uy. Khoảng hai năm sau, tôi bất ngờ nhận lá thư từ đảo Palawan, phía sau trên bì thư, ghi tên người gởi là Hà Thị Triêu Minh. Cái tên dễ nhớ. Nội dung chỉ báo là mẹ con đã vượt biển và đến được Palawan, đang chờ thanh lọc, cần sự giúp đỡ của chúng tôi trong thời gian mẹ con phải sống ở đảo.
Biết chính xác đây là vợ con Hội, tôi băn khoăn không biết vì sao Hội lại không viết thư cho tôi mà lại là vợ. Hay là vì một bất hạnh nào đó mà Hội không đến được đất liền. Trong thư không hề nghe nói tới Hội. Tôi liền ra ngân hàng gởi 300 đô la và viết lá thư ngắn, mừng mẹ con Triệu Minh đến đảo và hỏi có Hội cùng đi không, tại sao không thấy nhắc đến trong thư?
Hơn một tháng sau tôi nhận thư hồi âm. Trong gần hai trang giấy, Triệu Minh kể không biết bao nhiêu tội của Hội. Nào là ngoại tình với vợ của người ta, trở lại với cô bồ cũ, lấy tiền bạc từ mồ hôi nước mắt của vợ con để bài bạc, nhậu nhẹt say sưa cả ngày, không hề có trách nhiệm gì với mấy đứa con, nên ở lại không chịu cùng đi! Tôi khá ngạc nhiên, vì biết tính nết Hội từ thời ấu thơ cho đến hết trung học, và gần gũi Hội cả một năm sau khi hai đứa ở tù về. Cho dù nếu có buồn phiền, hay bất mãn cuộc đời đến đâu, Hội sẽ không làm như thế. Từ nhỏ, Hội là một người được sự giáo dục của cha, một vị thầy giáo nghiêm khắc. Sau này, dù trong hoàn cảnh nào, Hội vẫn luôn trọng danh dự và giữ tư cách của mình.
Tôi liên lạc với đám bạn thân còn ở Việt Nam. Tất cả đều nói về Hội với những điều ngược lại. Họ còn bảo “nếu có một người không bao giờ đi tu mà thành Phật, thì đó chính là thằng Hội”. Tôi gởi thêm cho Triệu Minh một số tiền nữa, vì nghĩ tới hai đứa con của Hội, nhưng không nhận được hồi âm. Sau này tôi được tin Hội đã sang Mỹ theo diện HO-10, nhưng không ai biết Hội ở đâu.
Mấy năm sau, vào một mùa hè, vợ chồng tôi sang Florida dự đám cưới con trai của anh bạn chí thân, cùng đơn vị lúc xưa và sau tháng 4/75 lại là bạn cùng tù. Chị vợ của anh là một trong hai cô con gái của ông bà chủ nhà ở một quận lỵ, mà trước kia, lúc còn là hai thằng lính trẻ, chúng tôi đã đóng quân trong vườn nhà. Chúng tôi thân thiết và thương mến nhau còn hơn cả anh em, nên khi được anh chị báo tin làm đám cưới cho con, nhân cơ hội này, muốn họp mặt bạn bè của hai người sau bao nhiêu năm lưu lạc, vợ chồng tôi bay sang Florida ngay. Đích thân anh chị đón chúng tôi ở phi trường.
Anh em bao nhiêu năm gặp lại nhau, chúng tôi ôm lấy nhau mà nước mắt trào ra lúc nào không biết. Về nhà, khách khứa đã khá đông. Bên phía đàn ông, hầu hết những người bạn cùng đơn vị cũ, còn cánh đàn bà, đa số là bạn học của chị vợ.
Đang giới thiệu, bắt tay hỏi chào vui vẻ, tôi nghe chị vợ nói với mấy cô bạn:
- Bây giờ, bọn mày ở nhà chơi, tao ra phi trường đón con nhỏ Triệu Minh.
Nghe hai tiếng Triệu Minh, tôi và bà xã giật mình nhìn nhau. Cái tên vừa hiếm hoi dễ nhớ, vừa còn lại trong ký ức chúng tôi, với đôi điều khó hiểu. Cả vợ chồng tôi tò mò, nôn nao chờ đợi trong hơn 30 phút. Quả nhiên, người khách đàn bà vừa bước vô nhà chính là Hà Thị Triệu Minh. Tuy bây giờ ốm hơn và nhan sắc có tàn phai. Để chắc chắn, tôi hỏi nhỏ chị bạn:
- Có phải Triệu Minh này trước có ông già làm lớn bên Cảnh sát?
- Đúng rồi, dường như nó có chồng ở Nha Trang với ông đó, nhưng thằng chồng nó bồ bịch lôi thôi quá nên nó bỏ lâu rồi!
Nghe chị nói, tôi có chút bực mình, nhưng chỉ cau mày, không nói. Chị dắt Triệu Minh đến. Cô không nhận ra chúng tôi. Sau khi được chúng tôi giới thiệu về mình, Triệu Minh nắm tay mừng rỡ, nhưng trong đôi mắt vẫn u buồn và có điều gì đó không mấy tự nhiên. Triệu Minh cám ơn chúng tôi đã gởi biếu tiền cho mẹ con cô khi còn ở đảo Palawan. Cô cho biết mẹ con đang định cư ở thành phố Salt Lake City, thuộc tiểu bang Utah, đứa con đầu vừa mới vào đại học. Chúng tôi chúc mừng cô và hỏi tin tức về Hội, Cô khựng lại giây lát rồi cúi xuống, trả lời:
- Nghĩ tình cha của mấy đứa nhỏ, em bảo lãnh anh ấy về ở với mẹ con em, nhưng cũng với cái tánh trai gái rượu chè, chẳng lo lắng gì cho con, nên em tống ra khỏi nhà. Nghe nói bây giờ đang ở đâu đó dưới Cali!
Tôi ngỏ ý xin địa chỉ hay là số điện thoại của Hội, nhưng cô ta bảo đã không còn liên lạc từ lâu lắm. Và đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi gặp Triêu Minh.
Hôm nay, gần hai mươi năm sau, tôi bất ngờ gặp lại Hội. Không ngờ bây giờ tiếng sáo của Hội hay đến mê hồn người như vậy. Buổi ra mắt sách chưa chấm dứt, Hội bảo tôi ra xe để Hội đưa về nhà. Anh em xa cách bao nhiêu năm, giờ gặp lại sẽ có biết bao nhiêu điều để nói. Tôi dắt tay Hội đến giới thiệu với người bạn, và bảo Hội cho anh ta địa chỉ để nhờ anh đến đón tôi trước tám giờ tối, vì Hội cho biết phải đi làm ca đêm. Hội ở trong một garage thuê của một người quen ở thành phố Anaheim.
Cái garage được sửa sang lại, đủ để một cái giường nhỏ và một cái bàn. Tất cả phần còn lại, là một phòng thu âm nhỏ, với một số máy móc. Hội bảo đây là nơi thu âm tiếng sáo của Hội đệm cho những giọng ngâm, giọng ca của bạn bè văn nghệ. Đặc biệt có nhiều ca sĩ nổi danh từng ra vô cái garage chật hẹp, nghèo hèn này. Thấy trên tường có tấm ảnh của một cô gái phóng lớn. Trông đẹp và quí phái. Mới nhìn, tôi tưởng một cô ca sĩ nào đó, nên hỏi Hội. Anh cười không trả lời mà hỏi lại tôi:
- Bạn không còn nhớ là ai đó hay sao?
Thấy tôi chau mày suy nghĩ, Hội bảo:
- Là Triệu Minh đó, lúc còn con gái, trước khi tụi này làm đám cưới!
Tôi à lên một tiếng rồi cười trêu Hội:
- Coi bộ vẫn còn yêu nàng hay sao mà treo ảnh nàng trang trọng thế?
Hỏi câu ấy, tôi không ngờ vô tình chạm tới vết thương trong lòng Hội. Anh tắt mất nụ cười, buồn bã:
- Sau khi mình vào tù hơn một năm, thì Triệu Minh có con với tên thiếu tá công an VC ở Nha Trang. Cha mẹ mình biết rõ điều này. Mặc dù Minh cho biết là trong một chuyến đi buôn cà phê, cô ta bị bắt và cả một bọn công an gài bẫy để phải uống thuốc mê cho gã thiếu tá trưởng đồn cưỡng hiếp, vì hắn ta quá mê mệt trước nhan sắc của nàng. Trước hoàn cảnh này, ba mẹ mình dù rất đau lòng nhưng cũng đành phải im lặng, khóc thầm. Những tưởng đến đó cũng đủ làm cho mọi người thấm thía tận cùng đau đớn, nhưng rồi tên thiếu tá công an không từ bỏ dục vọng. Hắn ta càng mê Triệu Minh hơn. Quyết định ly hôn với bà vợ quê mùa còn ngoài Hà Nội, và chiếm đoạt Minh vĩnh viễn cho mình. Hắn ta bỏ một số tiền lớn cho Triệu Minh mở sạp buôn khá lớn ở chợ Đầm. Vừa dùng quyền lực gian manh, vùa tung tiền tham nhũng được, sau một thời gian quỳ mọp dưới chân nàng, hắn ta gần đạt được mục đích. Ba mẹ mình biết được điều này.
Mẹ mình thì hiền lành chỉ khóc, nhưng Ba mình thì đến thẳng nhà đòi bắt hai thằng cháu nội và dứt khoát từ Minh, không chấp nhận nàng là con dâu nữa. Riêng đứa con gái lớn được cha mẹ mình nuôi từ lúc mới sinh, từ chối về với mẹ mà xin được ở luôn với ông bà nội nó.
Đúng thời điểm bi đát ấy, thì mình được ra tù. Khi được ba mình kể lại mọi điều, lòng mình đau đớn lắm, nhưng dù sao cũng còn mấy đứa con chung, và nhất là trong lòng mình vẫn còn in đậm hình ảnh của Triệu Minh trong những ngày nàng sống chết để được làm vợ mình. Mình xin cha mẹ mình tha thứ cho nàng, nếu từ nay nàng dứt khoát rời bỏ tên công an vô lại.
Tranh luận thật nhiều, cuối cùng vì hai đứa cháu nội, ông đồng ý cho mình gặp lại Triệu Minh, nhưng nàng không được phép đến nhà ông. Chính vì vậy mà ông cho mình ra ở căn nhà kho, mà ngày xưa vợ chồng bạn có đến thăm.
Tôi nôn nao, ngắt lời Hội:
- Rồi sau đó Minh có dứt khoát với hắn ta không?
Hội buồn bã trả lời:
- Minh nói là không hề yêu hắn ta, ban đầu còn thù ghét hắn, nhưng dần dà từ tội nghiệp rồi đến thương hại khi thấy hắn ta quá si mê mình. Hắn bảo sẵn sàng bỏ đảng, bỏ ngành, bỏ mọi chức tước để chỉ được nàng. Hơn nữa dù sao hắn ta với nàng cũng đã có một đứa con gái. Minh thường bảo cái trợt chân ấy đã đưa cuộc đời nàng đi đến một ngã rẽ quá xa, khó mà đứng lên lại được. Hắn còn đòi được gặp mình để xin mình ký giấy ly dị, giao Minh cho hắn. Hắn bảo đảm sẽ lo cho Minh và cả mấy đứa con của mình được sung sướng.
- Rồi bạn có gặp hắn ta?
- Không! Dù cái tì vết quá lớn, nhưng mình không thể để mất Minh. Mình sẵn sàng bỏ qua hết mọi chuyện, làm khai sinh cho đứa con gái riêng của Minh là con ruột của mình, khuyên Minh nên trả tiền bạc tài sản lại cho hắn ta, và trả hắn ta về cho vợ con của hắn, đang khốn khổ ở Hà Nội. Nhưng khi Minh đến gặp hắn để nói lại điều này, hắn trở giọng hăm dọa, bảo là sẽ cho đàn em bắt mình vào tù trở lại, hay sẽ tìm cách thủ tiêu mình, làm Minh càng thêm lo sợ tai ương sẽ ụp xuống trên đầu mình.
Sau đó lòng mình luôn bất an, không tin là trong hoàn cảnh khó khăn, Triệu Minh có thể dễ dàng trút bỏ mọi sợ hãi và cám dỗ tiền bạc để về sống với mình, bây giờ chỉ còn hai bàn tay trắng, nên mình đi chạy vạy vay mượn bà con bè bạn ít tiền, hùn hạp làm đìa nuôi tôm để vợ chồng cùng làm ăn, sinh sống. Nhưng đúng vào lúc đó, thì Minh và gia đình nàng xảy ra tai họa. Bà vợ Bắc kỳ của tên thiếu tá công an từ ngoài Hà Nội vào, dẫn theo một đám xã hội đen, chuyên đâm thuê chém mướn, đến tận sạp buôn của Minh đập phá, đánh đập Minh tàn nhẫn, lột cả áo quần và cắt hết tóc. Đã vậy còn lôi về nhà mẹ Minh hành hung, và bắt buộc trong vòng một tuần, tất cả mọi người phải biến khỏi thành phố này, đi đến một nơi nào đó thật xa, không ai được biết, nếu không sẽ lãnh tai họa. Triêu Minh bán gấp nhà cửa và tất cả đồ đạc, cùng cả nhà chạy vào nhà bà dì ở Rạch Giá và tìm mối vượt biển sau đó. Hơn một tuần sau, mình dắt đứa con gái lớn vào thăm, ngôi nhà đã đổi chủ, và chẳng biết mẹ con Minh và gia đình nàng đã đi đâu.
- Như vậy tại sao sau này Triêu Minh lại đối xử tàn tệ và đi nói xấu về bạn? Tôi thắc mắc.
- Ban đầu chính mình cũng không hiểu. Dần dà mình nghĩ là Triệu Minh tìm mọi cách để làm mình phải xa lánh mẹ con Minh. Có thể từ mặc cảm tội lỗi, nhưng muốn giữ thể diện với bạn bè, và nhất là với các đứa con ngày càng khôn lớn, nên nàng đã đổ hết bao nhiêu tội lỗi lên đầu mình. Khi nàng và gia đình vượt biển đến được đảo Palawan, đúng vào thời kỳ Cao Ủy Tị Nạn LHQ đóng cửa các trại, tất cả đều phải qua thanh lọc. Mẹ con Minh và cả gia đình đều bị từ chối vì chẳng có giấy tờ gì chứng minh là vợ con của sĩ quan VNCH, lúc ấy Minh mới viết lá thư gởi về cầu cứu mình, Cha mẹ mình và tất cả bạn bè ai cũng can ngăn, nhưng mình đã âm thầm làm bản sao Giấy Ra Trại và gởi gấp cho nàng. Nhờ có tấm giấy này của mình mà cả nhà mới được đến Mỹ.
- Vậy tại sao khi bạn đi HO đến Mỹ, lại không ở với mẹ con nàng. Chính cô ta bảo là đã tống bạn ra khỏi nhà?
Hội cười hiền lành, như chẳng có điều gì phiền muộn:
- Thực ra cô ấy không hề xô đuổi mình. Lo lắng và chăm sóc mình, nhưng luôn tìm cách lẫn tránh mình. Xa lạ đến lạnh lùng. Nhiều lần mình nghe tiếng nàng khóc. Và không biết ba đứa con, hai đứa của mình và một đứa con riêng của cô ta, bị ảnh hưởng thế nào, nhìn mình như một người xa lạ. Trong nhà không bao giờ nghe được tiếng cười. Mình có cảm giác như địa ngục. Hơn ba tháng, dù với tất cả nhẫn nhịn, chiều chuộng, cuối cùng mình đành phải bất lực ra đi, với hy vọng trả lại niềm vui và không khí gia đình cho mấy mẹ con nàng. Trong ba tháng ấy, chỉ có cậu em của cô ta thường gần gũi tâm sự với mình.
Chính cậu ta đã kể lại tất cả những gì đã xảy ra. Hôm tiễn mình lên xe về đất Cali này, cậu đã trao lại cho mình một số tiền và lá thư của Triệu Minh nhờ chuyển cho mình. Lá thư chỉ là tấm giấy nhỏ, ghi vỏn vẹn một dòng: “Xin hãy tha thứ cho em, và xem như Triệu Minh đã chết từ lâu rồi, không còn trên trần gian này nữa”. Và đến nay cậu ấy là người duy nhất giữ liên lạc với mình, luôn tỏ ra kính mến mình.
- Sau này, Hội có dịp nào gặp lại Triêu Minh hay hai đứa con trai của Hội?
- Có một lần, khi thằng con trai lớn làm đám cưới, mình có nhận được thiệp báo tin và thiệp mời. Mình cũng vui mừng lắm, dù đọc trong thiệp báo tin, không thấy có tên mình, mà chỉ có tên mẹ nó. Mình vội vàng đi mua một bộ đồ veston mới, mượn trước một số lư- ơng, để bay lên mừng con, và cũng có dịp gặp lại Triệu Minh. Nhưng buổi tối trước ngày đi, thằng con lại gọi phôn (ông cậu cho nó số phôn), bảo là mình không nên lên, vì cái thư mời là do cậu nó bảo nó gởi, chứ không có ý kiến của mẹ. Nếu mình muốn đi, thì phải gọi xin phép mẹ nó. Nhưng rồi nó lại hạ giọng: “Con không có chút hy vọng gì là má sẽ OK!”. Cuối cùng đành phải bỏ chiếc vé máy bay. Mình buồn, nhưng không trách Triệu Minh. Rồi mới đây, bất ngờ lại gặp thằng em của nó. Nghe nói cũng tốt nghiệp kỹ sư hàng không và đang làm cho hãng Continental. Nó sắp cưới vợ, nên rủ con vợ tương lai đi chơi một vòng ở Las Vegas, rồi sau đó ghé lại Little Saigon mua một ít nữ trang và vật dụng dành cho ngày cưới. Nó gọi phôn hẹn gặp mình phía trước Phước Lộc Thọ. Mình mừng lắm, quên hết mọi chuyện, chỉ mong gặp lại thằng con ruột thịt, để xem bây giờ mặt mũi nó ra sao.
Tôi lái xe đến gặp nó và vị hôn thê. Cô dâu chào bắt tay tôi vui vẻ, nhưng thằng con thì nhìn tôi dửng dưng xa lạ. Tôi thoáng buồn nhưng kịp trấn tĩnh, vì nghĩ là từ lúc mới sinh ra cho đến bây giờ, nó có sống với tôi bao lâu đâu. Mời hai đứa đi ăn, nó từ chối, bảo chỉ cần uống nước. Chúng tôi ngồi tạm trong cái quán nhỏ bên trong Phước Lộc Thọ. Nó bảo là tụi nó sẽ làm đám cưới vào hai tuần tới tại Maryland. Trước khi đi cậu nó cho số phôn của tôi và dặn nó nhờ tìm gặp tôi khi ghé lại Little Saigon. Uống nước xong, nó đứng dậy móc bóp cho tôi tờ giấy 100 đô la. Con bồ của nó nói một tràng tiếng Mỹ, tôi hiểu là “tại sao lâu ngày mày gặp lại daddy của mày mà mày chỉ cho có 100!”. Nó móc bóp lấy thêm tờ 50 đưa cho tôi. Tôi ngượng ngùng, định từ chối, nhưng rồi sợ nó buồn, hơn nữa nghĩ tới đứa con gái lớn, là chị ruột của nó, đang sống thiếu thốn ở nhà ông bà nội bên Việt Nam, tôi nhét vào túi áo, nói cám ơn hai đứa. Sau đó tôi bảo nó chờ vài phút, rồi chạy đến tiệm hoa gần đó mua một bó huệ trắng. Quay lại, tôi xúc động nói với hai đứa: “nhà ba ở rất gần đây, chạy xe chỉ chừng bảy, tám phút. Ông nội con vừa mất, hôm nay là 49 ngày. Lúc con còn nhỏ, ông nội rất thương con. Bây giờ hai đứa con có mặt ở đây lại sắp làm đám cưới, ba muốn hai con ghé lại thắp cho ông nội cây nhang. Ở nơi chín suối, chắc ông vui lắm”. Con bồ nhìn nó gật đầu, nhưng tôi rất bất ngờ và hụt hẫng khi nghe nó nói: “Để lần khác, hôm nay con không có nhiểu thì giờ!”
Kể xong câu chuyện khá dài, Hội vẫn dửng dưng nhìn lên trần nhà như đang tìm kiếm một vật gì, trong lúc lòng tôi đau như dao cắt.
Để cho Hội trầm ngâm một lúc, tôi lên tiếng:
- Tôi tội nghiệp bạn, nhưng không hiểu được bạn. Tại sao trước một nỗi đau như thế mà nhìn bạn vẫn thấy bạn thản nhiên, có khi còn cười nữa, cứ như không?
Hội nắm tay tôi, xuống giọng:
- Mình đã quen rồi. Hơn nữa cả dân tộc đều tan tác bi thương qua cuộc thăng trầm quá lớn ấy, nỗi đau của mỗi một chúng ta đâu còn có nghĩa gì. Tất cả chỉ đáng thương hơn là đáng trách!
Tôi nhìn Hội, lắc đầu:
- Nhưng ít nhất, bạn cũng phải giải thích, nói lên sự thực, để mấy đứa con của bạn nó hiểu chứ. Chẳng lẽ cứ để các cháu cứ nghĩ xấu về bạn, thờ ơ, đối xử tệ bạc với cha của nó mãi như vậy hay sao?
Im lặng một lúc, Hội lên tiếng:
- Thôi, chuyện đã như vậy rồi. Vả lại dù sao mẹ chúng nó cũng đã chịu đựng bao nhiêu khổ cực đắng cay để nuôi nấng bọn nó từ thuở còn tấm bé, đến bây giờ đã thành đạt, nên người. Đó chẳng phải là điều mà những người cha bất hạnh như bọn mình mong ước hay sao? Tốt nhất là hãy để chúng nó luôn nghĩ tốt và hết lòng kính trọng, yêu thương mẹ nó!
Nhớ tới lời mấy thằng bạn còn ở quê nhà, tôi buột miệng:
- Hèn gì đám bạn bè bảo là bạn không hề đi tu mà đã đắc đạo rồi.
Hội nở một nụ cười, nhưng không trọn, rồi như mới nhớ ra điều gì, anh kể tiếp:
- Cách nay vài tháng, Triệu Minh có dắt đứa con gái riêng về Việt Nam để gặp cha ruột của nó. Nghe nói hắn ta cũng đã tìm cách móc nối tổ chức vượt biển sau ngày Minh đến đảo Palawan, nhưng bị bắt vào tù, mất hết đảng tịch và bị sa thải khỏi ngành công an. Sau đó làm nhân viên bảo vệ cho một khách sạn nào đó ngoài Hội An, Đà Nẵng, nhưng đang bị bệnh rất nặng. Ung thư phổi thời kỳ cuối.
- Như vậy Triệu Minh vẫn còn nghĩ đến hắn ta?
Trầm ngâm một lúc, Hội lên tiếng:
- Cô ta làm thế cũng phải. Dù gì cũng là tình phụ tử mà. Hơn nữa cũng vì nàng mà hắn ta mới ra nông nỗi. Sau đó cô ta có về quê mình thăm đứa con gái đầu lòng. Từ lúc mới sinh cho đến bây giờ nó vẫn ở nhà ông bà nội. Nối nghiệp ông nội: dạy học, và đã có chồng con. Nó là đứa con duy nhất hiểu rõ chuyện của mình với mẹ nó, nên thường viết thư, gọi điện thoại hỏi han an ủi mình. Mấy lần nó phản đối mẹ nó và có ý định nói hết sự thực cho hai đứa em nó biết, nhưng mẹ nó năn nỉ và chính mình cũng can ngăn. Tôi bảo nó nên hiểu và thương mẹ nó. “Vì một mình phải nuôi dạy các con lớn lên ở quê người, mẹ cần sự kính trọng và vâng lời của các em con, mà đành phải đổ hết tội lên đầu ba. Ba nghĩ làm như vậy, chắc mẹ con cũng đau lòng ghê lắm. Người cần yêu thương và an ủi, chính là mẹ của con, chứ không phải là ba”.
- Vậy mẹ nó có tâm sự gì với nó về bạn hay không? Tôi tò mò hỏi.
- Cháu có bảo là mẹ nó cũng ân hận lắm. Bà cũng nhớ tôi và mặc cảm tội lỗi quá lớn, khi ít nhiều gì cũng đã phản bội tôi mà còn phải nói với mọi người và nhất là với các con những điều xấu xa không đúng về tôi. Bà thường nhờ con gái chở bà ra nghĩa trang thắp hương trước mộ cha mẹ tôi và ngồi khóc sụt sùi. Nhiều lần bà có ý định đi tìm tôi, xin tha lỗi và trở lại với nhau, nhất là sau khi các con đã lớn và ra sống riêng, bà cô đơn một mình. Nhưng rồi bà không đủ can đảm, khi nghĩ là tất cả mọi thứ đều đã vượt quá xa giới hạn của nó rồi. Bà bảo; “Chiếc bình cổ đã vỡ tan tành, không thể nào có thể hàn gắn từ những mảnh vụn, mà một số cũng đã mất mát rơi rớt theo thời gian”. Bà có ý định về lại Viêt Nam, sau khi cô con gái út lấy chồng. Sẽ quy y, tu ở một ngôi chùa trên Cao Nguyên. Nơi mà ngày xưa, lúc gặp phong ba trắc trở trong tình yêu với mình, bà đã đến đó để cầu xin và thệ ước.
Tôi hơi bất ngờ và thoáng một chút ngậm ngùi:
- Dù sao cũng tội nghiệp! Tất cả cũng chỉ là hệ lụy từ một cuộc chiến phi lý mà đám người thắng trận lại là một lũ bất lương. Tôi nghĩ bạn nên tìm gặp nàng, nói một câu thứ tha cho nhẹ lòng. Không phải nhẹ lòng cho riêng nàng mà cho chính cả bạn nữa. Và nếu được, thì sống lại với nhau, coi như đôi bạn trong tuổi già.
Hội cúi xuống, đôi mắt dường như nhắm lại. Suy nghĩ một lúc rồi hạ giọng:
- Mình đã nhờ đứa con gái nói với nàng điều ấy. Nhưng nàng chưa muốn gặp mình, chỉ xin cám ơn và khuyên mình hãy cố quên đi tất cả. Nàng bảo: ”Đời là bể khổ. Giờ đã cuối đời thì vướng bận thêm nữa mà làm gì”. Cả đứa con gái của mình cũng đồng tình. Cháu bảo “con thấy như thế vẫn hay hơn, chứ mỗi ngày ba má nhìn thấy nhau, dễ nhớ lại chuyện xưa rồi cũng chỉ buồn khổ hơn thôi!”
Nghe Hội nhắc tới cô con gái còn ở quê nhà, tôi hỏi:
- Sao bạn không bảo lãnh gia đình cháu gái lớn sang Mỹ sống với bạn cho vui?
Hội lắc đầu:
- Vợ chồng nó không muốn. Dường như nó ngại phải chọn ở với cha hay với mẹ. Vậy cũng hay. Chứ sang đây nó thấy mình cơ cực lại buồn thêm. Còn mình, khi nào rảnh rỗi, chạy đến viện dưỡng lão săn sóc, giúp đỡ cho mấy ông bà cụ đã quá già mà chẳng có con cái chăm nom, mình cũng thấy vui.
Tôi định nói một câu để khen và an ủi, thì Hội vội xem qua đồng hồ rồi kéo tôi đứng dậy. Đúng lúc cả hai thằng đang đối diện với bức ảnh lớn của Triệu Minh treo trên vách.
Tôi hỏi lại Hội một câu đã hỏi lúc mới vào nhà:
- Nghĩa là bạn vẫn còn yêu Triệu Minh?
- Đúng, mình vẫn thiết tha yêu Triệu Minh, nhưng mà Triệu Minh ngày xưa, cái thời nàng và mình mới yêu nhau, và nhất là vì yêu mình mà dám bỏ tất cả. Cuộc tình đó đẹp quá đi chứ, phải không? Đến bây giờ, nhiều đêm mình vẫn nằm mơ thấy nàng. Chỉ những giấc mơ ấy thôi cũng đủ cho mình thấy hạnh phúc và quên hết mọi biến cố sau này.
- Bây giờ bạn đã có cô bạn gái nào, và có tính kiếm một cô vợ khác để có nhau trong tuổi già?
- Có chứ, mình đang có cô bạn, Bích Loan vừa ngâm thơ với mình chiều nay đó. Giọng ngâm của cô hay lắm. Trước kia là cô giáo ở Pleiku. Nhưng tụi mình chỉ xem như là bạn cho vui, chứ trong lòng mình không còn có tình yêu, trái tim của mình không còn biết rung động kể từ sau cuộc tình với Triệu Minh.
Bỗng nhớ tới một điều, tôi hỏi Hội:
- Và dường như nhờ tình yêu ấy mà tiếng sáo của bạn mới tuyệt vời?
Hội cười, đưa tay lên vách lựa lấy một cây sao trúc Ñaëc San Phoá Nuùi 2011 Trang 188 đưa lên miệng thổi một đoạn trong bài Love Story. Khi chấm dứt, Hội hỏi tôi:
- Bạn có còn nhớ ra cây sáo trúc này không? Tôi lắc đầu. Hội chìa cây sáo ra trước mặt tôi:
- Chính là cây sáo cũ, mà ngày mình còn đi học ở Nha Trang, ông thầy ngưởi Huế đã tặng mình, khi bảo mình là “đứa học trò có năng khiếu sẽ tạo cho chiếc sáo này có một linh hồn”.
Tôi gật đầu đắc ý, định khen Hội một lời, nhưng dường như Hội đã đọc được ý nghĩ đó, anh xua tay:
- Không, ông Thầy nói không đúng hẳn. Có thể là mình có chút năng khiếu, nhưng năng khiếu không thể tạo được linh hồn.
Thấy tôi ngớ ra chưa kịp hiểu, Hội tiếp lời:
- Chính hình ảnh của Triệu Minh, cùng với tất cả những hạnh phúc, đắng cay ấy đã làm nên linh hồn cho cây sáo!
Tôi cầm săm soi cây sáo đã khá cũ, đưa lại cho Hội rồi buột miệng:
- Không ngờ qua biết bao thăng trầm, bạn vẫn còn giữ được cây sáo…mà lại không giữ được Triệu Minh.
Vừa nói xong, biết mình lỡ lời, định nói một câu xin lỗi thì điện thoại reo. Người bạn báo đã đến chờ phía trước. Tôi đứng lên nắm tay Hội, nhắc lại một kỷ niệm xưa, lúc hai thằng còn nhỏ. Chuyện Hội đã bảo tôi đem thả con cuốc chúng tôi vừa vui mừng bẫy được, sau khi nghe cha tôi bảo con cuốc ấy là hóa thân của Vua Thục Đế, vì mất nước mà khóc đến chảy máu mắt, chết đi hóa thành chim, cất lên những tiếng kêu khắc khoải, não nùng.
Hội ôm chặt vai tôi:
- Không ngờ bây giờ bọn mình cũng là hai con quốc quốc.
Chia tay Hội, mở cửa bước ra ngoài. Đang giữa mùa hè mà sao những ngọn gió làm tôi buốt lạnh. Và dường như trời cũng vừa mới đổ thêm xuống một cơn mưa.
Phạm Tín An Ninh
Saturday, January 23, 2016
Friday, January 22, 2016
Đại hội XII Đảng CSVN và Kỳ Vọng của Người Dân
“Trong nhiệm kỳ Khóa XI (2011-2015) Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu “Xây dựng chủ nghĩa xã hội còn lâu dài lắm, đến cuối thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”. Vì thế kỳ vọng Đại hội XII sẽ quyết định chấm dứt việc xây dựng CNXH. Mục tiêu của Đảng là xây dựng CNXH không còn nữa thì Đảng sẽ từ bỏquyền độc tôn lãnh đạo nhà nước và xã hội. Thực hiện hai điều trên là để thay đổi thể chế; không phải giải tán Đảng CSVN mà là chuyển từ chế độ hiện nay sang chế độ cộng hòa. Đại hội Đảng lần này sẽ bầu Tổng thống chớ không phải Tổng bí thư, để tổ chức bầu cử Quốc hội vào tháng 5 tới như đã trù liệu”. (Lê Quế Lâm)
Đảng CSVN đã chính thức thông báo Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XII sẽ diễn ra từ ngày 21 đến 28/01/2016. Theo thông lệ, để duy trì sự lãnh đạo liên tục của Đảng, việc chuẩn bị đại hội kéo dài khoảng một năm. Thời gian đó cần thiết để khóa cũ ấn định thành phần lãnh đạo cho khóa mới. Tổng bí thư viết dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương (BCH/TƯ). Thủ tướng viết dự thảo báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm qua (2011-2015) và đề ra phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong 5 năm tới (2016-2020). Sau đó, đảng bộ các cấp trực thuộc họp đại hội, góp ý với các dự thảo báo cáo của trung ương và bầu đại diện tham dự đại hội toàn Đảng để hợp thức hóa vai trò của Tổng Bí thư và thông qua Báo cáo chính trị của Đảng.
Việc chuẩn bị Đại hội Đảng lần này có sự bất thường vì sự trì trệ xuất phát từ sự bất đồng trong nội bộ về nhân sự lãnh đạo tức Tổng bí thư tương lai. Ngày 21/12/2015 Hội nghị Trung ương (HNTƯ) 13 của BCH/TƯ bế mạc mà vẫn chưa ấn định được thành phần lãnh đạo, họ quyết định “Giao cho Bộ chính trị tiếp tục chuẩn bị nhân sự trường hợp đặc biệt là Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư TƯĐ khóa XI quá tuổi, tái cử, để đảm nhận chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, trình HNTƯ 14 xem xét quyết định”. Ngày 11/01/2016 HNTƯ 14 nhóm họp. Ba ngày sau, trong diễn văn bế mạc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, hội nghị “đã tập trung thảo luận, thống nhất cao về chủ trương ký kết, phê duyệt Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP)…”. Hội nghị cũng đã “biểu quyết thông qua nhân sự đề cử bổ sung một số Ủy viên TƯĐ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XI thuộc trường hợp “đặc biệt” tái cử khóa XII và danh sách đề cử các đồng chí ứng cử các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước”.
Sau HNTƯ 14, nhiều người đồn đoán Nguyễn Tấn Dũng đã “hết cửa” trong cuộc chạy đua tranh chức tổng bí thư với Nguyễn Phú Trọng. Hội nghị đã biểu quyết: Nguyễn Phú Trọng -Tổng Bí thư, Trần Đại Quang -Chủ tịch Nước, Nguyễn Xuân Phúc -Thủ tướng và Nguyễn Thị Kim Ngân -Chủ tịch Quốc hội. Như vậy, ba nhân vật trong “tứ trụ” là Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Sinh Hùng sẽ rời khỏi chức vụ sau Đại hội XII…Nhưng dựa vào lời ông NPT mô tả kỳ họp ba ngày vừa qua là “dân chủ, đoàn kết, tập trung”, ông Trọng cũng không nêu ra bất cứ một tên tuổi nào được “đặc biệt tái cử”, người viết suy luận: đến giờ phút chót Bộ Chính trị vẫn chưa nhất trí được ai sẽ là Tổng Bí thư, nên tạm thời hòa hoãn bày tỏ sự đoàn kết nội bộ bằng cách tiếp tục duy trì thành phần cũ. Và HNTƯ 14 đã biểu quyết thông qua quyết định của Bộ Chính trị: duy trì chức danh lãnh đạo của bốn ông Trọng Sang Hùng Dũng để Đại hội XII xem xét và quyết định.
Đại hội XII sẽ thừa kế cái di sản nặng nề của khóa XI để lại. Đó là sự chia rẽ trầm trọng không thể nào hàn gắn được trong giới lãnh đạo chóp bu xuất phát từ sự đối đầu giữa Tổng bí thư Đảng và Thủ tướng Chính phủ vì sự bất đồng về đường lối, chính sách quốc gia. Đây là một sự kiện chính trị lớn chưa bao giờ xảy ra: Chính phủ không còn phục tùng Đảng. Ông Nguyễn Phú Trọng vẫn kiên trì với chủ nghĩa xã hội với Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong khi ông Nguyễn Tấn Dũng chủ trương thay đổi thể chế để giúp VN hợp tác sâu rộng về kinh tế mậu dịch với thế giới giúp đất nước thoát khỏi tình trạng tụt hậu, đồng thời cũng là cách để VN thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc. Thật ra, Khóa XI sắp chấm dứt cũng đã thừa kế những di sản nặng nề của 10 Khóa trước kể từ khi Đảng được thành lập. Khóa XI không giải quyết được nay bàn giao cho Đại hội XII. Đó là sứ mạng quan trọng của Đại hội Đảng lần này.
Đại hội Đảng CSVN I hay Đại hội đại biểu lần thứ Nhất của Đảng CS Đông Dương diễn ra ở Ma Cao năm 1935. BCH/TƯ cử ông Hồ Chí Minh làm đại diện Đảng CSĐD tại Quốc tế III. Đại hội Đảng lần thứ II ở Tuyên Quang năm 1951 đã quyết định tách Đảng CSĐD để thành lập ở mỗi nước Đông Dương, các Đảng Mác-Lênin riêng. Ở VN Đại hội thành lập Đảng Lao động Việt Nam và đưa Đảng ra hoạt động công khai. Trong Đại hội này, tư tưởng Mao Trạch Đông được ghi vào điều lệ của Đảng. Nhờ đó, Trung Cộng tích cực ủng hộ CSVN trong kháng chiến chống Pháp. Đại hội Đảng lần thứ III (1960) đề ra hai nhiệm vụ chiến lược: “củng cố miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”. Từ đó, cả LX lẫn TQ đều tận tình ủng hộ CSVN đẩy lùi ảnh hưởng của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.
Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) đề ra mục tiêu “đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Tên nước đổi thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gia nhập khối Comecon, ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô. TC coi những hành động này là thái độ phản bội của CSVN nên mở cuộc tấn công dạy cho CSVN một bài học khi Hà Nội đưa quân sang Campuchia lật đổ chế độ Pol Pot thân Bắc Kinh. Từ đó Hiến pháp 1980 của VN lên án bọn bành trướng Bắc Kinh là kẻ thù của dân tộc. Vì thế để bảo vệ đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại hội Đảng lần thứ V (1982) đề ra mục tiêu “Gắn bó chặt chẽ và hợp tác toàn diện với Liên Xô là nguyên tắc. là chiến lược, đồng thời là tình cảm cách mạng”.
Sau khi TBT Lê Duẩn qua đời (10/7/1986) Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đã thú nhận “Trong những năm qua việc nhìn nhận, đánh giá tình hình cụ thể về các mặt kinh tế - xã hội của đất nước đã có nhiều thiếu sót. Do vậy, đã dẫn đến nhiều sai lầm "trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế". Vì thế Đại hội VI đã đề ra “đường lối đổi mới. Trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế”. Đến cuối thập niên 1980, LX và khối CS Đông Âu bước vào giai đoạn thoái trào, CSVN quay về hợp tác với Trung Cộng qua Thỏa ước Thành Đô (9/1990) Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) đề ra “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, xây dựng nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa theo khuôn mẫu của Đặng Tiểu Bình.
Trong thời điểm này, Võ Văn Kiệt làm thủ tướng, ông vận động Mỹ bãi bỏ cấm vận, sau đó tiến tới bình thường hóa bang giao với VN (7/1995). Trước đó VN đã gia nhập khối ASEAN và hợp tác giao thương với Cộng đồng Âu Châu (EU). Từ giữa năm 1995 VN chuẩn bị tổ chức Đại hội lần thứ VIII, ông Võ Văn Kiệt được coi là nhân vật sáng giá nhất trong vai trò tổng bí thư. Phó thủ tướng Phan Văn Khải lúc đó nhận xét: Ông Kiệt làm tổng bí thư, VN đổi mới nhanh lắm vì ông Kiệt chán ngán chủ nghĩa xã hội đến tận cổ. Nhưng con đường tiến của ông Kiệt bị chận lại vì ông Đỗ Mười lúc bấy giờ đã ngấp nghé 80 tuổi vẫn còn muốn tiếp tục làm Tổng bí thư. Nhóm cán bộ bảo thủ giáo điều quyết định giữ nguyên vị trí của bộ ba lãnh tụ TBT Đỗ Mười 79 tuổi, Chủ tịch nước Lê Đức Anh 76 tuổi và Thủ tướng Võ Văn Kiệt 74 tuổi trong Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996. Đến cuối năm sau (1997), nhóm bảo thủ thân TQ đưa ra lý do các ông Mười, Anh, Kiệt đều tuổi cao và áp lực họ về hưu để làm cố vấn cho BCH/TƯĐ. Thượng tướng Lê Khả Phiêu được bầu làm Tổng Bí thư. Từ đó, mối quan hệ VN/TQ ngày càng chặt chẽ thêm với phương châm 16 chữ và 4 tốt. Hai hiệp ước về lãnh thổ trên bộ và vịnh Bắc Bộ được ký với TQ năm 1999 và 2000. Hậu quả là Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan cùng nhiều vùng đất khác cũng như hơn 10 ngàn cây số vuông ở vịnh Bắc Bộ mất về tay TQ so với các hiệp ước mà thực dân Pháp đã ký với triều đình nhà Thanh hồi cuối thế kỷ 19.
Ngày nay, với việc duy trì vai trò lãnh đạo của “tứ trụ” hoặc 2 cột trụ NPT và NTD từ khóa XI sang khóa XII, có thể nhóm bảo thủ thân TQ muốn tái diễn trò chính trị hồi năm 1996, lần này là ngăn chận không cho Nguyễn Tấn Dũng làm tổng bí thư. Nhóm “tứ trụ” lãnh đạo nửa nhiệm kỳ, đến giữa năm 2018 họ sẽ bị áp lực phải từ nhiệm vì quá tuổi qui định. Khóa XII sẽ kết thúc vào năm 2020. Đó là thời điểm VN sáp nhập vào TQ theo cam kết Hội nghị Thành Đô. Tờ Hoàn Cầu Thời Báo –cơ quan ngôn luận bán chính thức của TC đã công khai phổ biến các điều khoản trong thỏa thuận ký kết bởi cấp lãnh đạo tối cao hai nước. Theo đó “Việt Nam bày tỏ mong muốn sẳn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương…Phía Trung Quốc đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.
Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) chủ trương tiếp tục hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong giai đoạn này ông Nguyễn Tấn Dũng làm Phó Thủ tướng thường trực. Rút kinh nghiệm từ thất bại của ông Kiệt, dù xuất thân từ Mặt trận GPMN song Phó TT Nguyễn Tấn Dũng tỏ ra “bảo hoàng hơn vua” trong việc xây dựng tổ quốc XHCN, nên được lòng hai “thái thượng hoàng” Đỗ Mười và Lê Đức Anh. Đến Đại hội Đảng lần thứ X (2006) ông Dũng làm thủ tướng, được sự ủng hộ mạnh mẽ của thế lực “tư bản đỏ”. Thế lực này nổi lên nhờ nghị quyết của Đại hội X cho phép đảng viên được làm kinh tế tư nhân kể cả kinh tế tư bản tư nhân.
Đại hội Đảng lần thứ XI (2011) quyết định tiếp tục xây dựng CNXH nhưng theo “đặc trưng mớidựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”. Dựa vào đó TT Nguyễn Tấn Dũng đề xuất Bộ CT thành lập các Tổng công ty, các Tập đoàn kinh tế nhà nước hoạt động đa ngành, đa lãnh vực; bổ nhiệm đảng viên cao cấp giữ các chức vụ lãnh đạo trong các cơ sở quốc doanh này. Thế lực của TT Nguyễn Tấn Dũng càng vững mạnh thêm khiến nhóm bảo thủ trong Bộ CT tìm cách hạ bệ Dũng. Họ nêu lý do để kỷ luật Dũng vì “một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, điển hình là Vinashin, Vinalines hoạt động kém hiệu quả, có nhiều sai phạm, gây tổn thất lớn, với hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt và ảnh hưởng lớn đến uy tín vai trò kinh tế nhà nước”. Để phản bác, ông Dũng quy trách nhiệm cho tập thể Bộ CT vì đó là chủ trương lớn của Đảng. Do đó Bộ CT và Ban Bí thư “xin nhận lỗi và đề nghị BCH/TƯ có hình thức kỷ luật về trách nhiệm chính trị đối với tập thể Bộ CT và một đồng chí trong Bộ CT”. BCH/TƯ quyết định không kỷ luật cả hai, và cũng “xin nhận lỗi trước toàn Đảng vì trách nhiệm của mình trong việc để xảy ra và chưa ngăn chặn được những khuyết điểm, yếu kém trong thời gian qua” (Trích thông báo của HNTƯ6 tháng 10/2012).
Không thuyết phục được HNTƯ 6 kỷ luật TT Nguyễn Tấn Dũng, uy tín của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xuống thấp. Tập thể Bộ CT, Ban Bí thư và BCH/TƯ đều nhận lỗi trước toàn Đảng. Trong Đảng chức vụ Tổng Bí thư là cao cấp nhất, đáng lẽ ông NPT cũng phải nhận lỗi và xin chịu kỷ luật. Dư luận thường đề cập đến “đồng chí X” ám chỉ TT Dũng, nhưng nhân vật đó phải là đồng chí Tổng bí thư, chớ không phải đồng chí thủ tướng. Từ đó, tên tuổi của TT Nguyễn Tấn Dũng ngày càng nổi bật nhờ khôn khéo, biết biến khuyết điểm và trách nhiệm của mình thành khuyết điểm và trách nhiệm của Đảng.
Năm 2014 TQ đưa giàn khoan HD 891 vào hải phận VN, Dũng là người duy nhất trong bộ máy lãnh đạo Đảng lên tiếng phản kháng quyết liệt nhất. Trong khi đó, tờ Hoàn Cầu Thời Báo của TQ lại biện minh: Hoàng Sa và Trường Sa là của VN nhưng Công hàm năm 1958 của TT Phạm Văn Đồng đã thừa nhận thuộc chủ quyền của TQ. Tờ báo còn đề cập số tiền 870 tỷ Mỹ kim mà CSVN nợ của TQ trong hai cuộc kháng chiến. Việc này làm hoen ố thanh danh của Đảng, nhưng uy tín Dũng lại lên cao. Trong HNTƯ 10 hồi đầu tháng Giêng 2015 chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XII, ông được BCH/TƯ bỏ phiếu tín nhiệm cao cao nhất.
Trước triển vọng Nguyễn Tấn Dũng trở thành Tổng bí thư trong Đại hội XII, các phần tử chống Dũng phải tìm cách hạ đối thủ của mình. Họ tung tin NTD sẽ là Tổng bí thư và ông ta sẽ giải tán Đảng, chuyển đổi thể chế từ độc tài cộng sản sang độc tài cá nhân gia đình trị. Một số cán bộ lão thành, cán bộ nghỉ hưu đã gởi thư lên Tổng bí thư và BCH/TƯ cáo buộc NTD có nhiều khuyết điểm không xứng đáng làm tổng bí thư. Mối ưu tư lo lắng của các đảng viên lão thành về việc Đảng CS bị giải tán là thường tình, chính đáng. Họ sợ mất sổ hưu, cho thấy họ chẳng giàu có gì, chỉ có những đảng viên đầy thủ đoạn biết luồn lọt chớp thời cơ mới có được tài sản khổng lồ. Suốt cuộc đời của họ gắn liền với hai cuộc kháng chiến do Đảng CS lãnh đạo, anh em con cháu họ đã trở thành liệt sĩ được bằng khen của Đảng treo đầy nhà…Nếu Đảng CS bị giải tán là điều đau buồn, uất hận nên họ lên tiếng chống NTD, tuy nhiên những lập luận họ đưa ra lại tạo sự tranh luận sôi nổi.
Việc ông Dũng có sui gia là cựu quân nhân VNCH theo Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh, một giảng viên đã nghỉ hưu ở Sài Gòn đã nói với BBC là điều rất tốt, là dấu hiệu tốt cho sự hòa giải. Bà nói “Tôi là người không ủng hộ chính sách lý lịch một chút nào vì tôi đã từng là nạn nhân của nó, con em của bên thua cuộc đã bị ảnh hưởng rất nhiều”. Bà chỉ thắc mắc: Thủ tướng VN có sui gia như vậy là sự thật xảy ra từ nhiều năm rồi. Nếu điều đó rất có hại cho an ninh quốc gia hay chế độ thì ông Dũng đã và đang ở vị trí quan trọng, tại vị hơn 10 năm rồi, tại sao lâu nay không đặt vấn đề? Có phải vì hiện nay muốn ngăn cản ông Dũng?
Nhà báo Huy Đức nhận xét “Chủ nghĩa lý lịch là một chính sách vô nhân đạo mà hàng triệu đảng viên khác đang bị ràng buộc, ngay cả các cháu học sinh vẫn bị lý lịch cản trở khi thi vào một số ngành”. Vì thế ông “Đánh giá cao việc Thủ tướng đã vì hạnh phúc của con gái, ủng hộ một cuộc hôn nhân mà biết chắc sẽ gây phiền phức đến ông. Nhưng tôi còn đánh giá cao hơn, ông Dũng -với tư cách là một người quyền lực nhất trong đảng tuy về danh nghĩa không phải là người cao nhất lúc đó- đấu tranh để Đảng sửa đổi những quy định lỗi thời về lý lịch”.
Về việc gia đình Nguyễn Tấn Dũng giàu có, tài sản khổng lồ là vì Đảng đã dành cho cán bộ đảng viên quá nhiều đặc quyền đặc lợi, nay Đảng lại cho phép họ được làm kinh tế tư bản tư nhân. Vì thế không riêng gì Nguyễn Tấn Dũng mà hầu như gia đình của những đảng viên có chức có quyền đều trở thành đại gia, đại phú. Còn việc ông Dũng có mưu đồ làm tổng bí thư cũng là lẽ thường của những người làm chính trị. Không riêng gì thủ tướng mà có lẽ các vị trong “tứ trụ” và các ủy viên Bộ CT đều ngấp nghé ngôi vị này? Nhưng có ai dám đòi thay đổi thể chế để có lợi cho dân cho nước?
Về độc tài cá nhân, ông Nguyễn An Dân -một nhà tư vấn về pháp lý đang sinh sống tại Sài Gòn chia sẻ ý kiến này với BBC: “Những người dân chủ hay quần chúng có chính kiến hãy nhớ rằng độc tài cá nhân là con của độc tài tập thể. Nếu sợ đứa con độc tài cá nhân ra đời mà chúng ta “vô tình ủng hộ” cho bà mẹ độc tài tập thể thì e rằng chúng ta sai lầm trong hướng đi của mình”.
Nói gì thì nói, giờ đây vận mạng dân tộc đang chờ sự quyết định của 1510 đại biểu tham dự Đại hội Đại biểu Toàn Đảng lần thứ XII sẽ khai diễn trong hai ngày tới đây. Đặc biệt lần này, Bộ Công an đã có kế hoạch ra quân với quyết tâm bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn cho đại hội”. Cuộc xuất quân thực tập đã diễn ra ngày 9/01/2016 tại khu vực sân vận động Ba Đình Hà Nội với lực lượng hùng hậu gần 5200 binh lính gồm cảnh sát đặc nhiệm và cơ động, bộ đội đặc công, một bộ phận của Sư đoàn Phòng không Không quân, chiến xa bọc thép chống đạn, xe tác chiến điện tử…
Trước đó, đã có những đồn đoán sẽ có đảo chánh bằng quân sự trong thời gian diễn ra Đại hội XII. Một đại hội máu sẽ xảy ra là một điều không thể tránh khỏi. Nay với việc điều động quân tại thủ đô trong thời điểm cuộc tranh giành quyền lực “một mất một còn” giữa nhóm canh tân và bảo thủ đã đến hồi quyết liệt, khiến người viết liên tưởng đến cuộc đảo chánh Gorbachev ngày 19/8/1991. CSVN xuất phát từ Liên Xô và sự kết liễu của nó cũng sẽ giống như LX. Tuy nhiên người viết mong rằng vai trò của Đảng CSVN sẽ được giải quyết theo kiểu VN. Trong những ngày sắp tới, trước hơn 1500 đại biểu tham dự Đại hội XII, TBT Nguyễn Phú Trọng hoặc TT Nguyễn Tấn Dũng sẽ đại diện BCH/TƯ Khóa XI báo cáo các thành quả của Đảng trong nhiệm kỳ 2011-2015 với vài nét nổi bật như:
-Luật Biển VN được Quốc hội thông qua ngày 21/6/2012 khẳng định chủ quyền của VN trên hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Luật Trưng cầu Ý dân được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015. Ngoài ra VN còn ký các Hiệp định FTA (Thương mại tự do) với Đại Hàn, với EU (Công đồng Âu Châu) và TPP. Ngày 31/5/2013, hội nghị An ninh châu Á diễn ra tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La (Shangri-La Dialogue). Ban tổ chức mời thủ tướng VN làm diễn giả chính, đọc diễn văn khai mạc. Trong bài diễn văn tựa đề “Niềm tin chiến lược” TT Nguyễn Tấn Dũng đã phác hoạ triển vọng tươi sáng của khu vực Á Châu/Thái Bình Dương hòa bình, ổn định và phát triển dựa vào khối ASEAN và sự hợp tác của HK và TQ.
Bên cạnh các thành tựu trên, VN còn gặp nhiều khó khăn trong mối bang giao với TQ. Bắc Kinh không chấp nhận Luật Biển của VN, gây hấn bằng cách đưa giàn khoan HD 981 vào hải phận VN ở Hoàng Sa năm 2014 và mới đây ở Vịnh Bắc Bộ. Về việc xây dựng CNXH, một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước được coi là chủ trương lớn của Đảng, như đã trình bày ở trên bị đánh giá là “hoạt động kém hiệu quả, có nhiều sai phạm, gây tổn thất lớn, với hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt và ảnh hưởng lớn đến uy tín vai trò kinh tế nhà nước”. Vì thế, toàn thể Bộ CT, Ban Bí thư và BCH/TƯ đã xin nhận lỗi trước toàn Đảng. Nạn tham nhũng ngày càng phát triển, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ví von, nhận xét tham nhũng như bầy sâu và lên tiếng báo động: “Không phải một con sâu, mà một bầy sâu. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là ‘chết’ đất nước này”.
Trên đây là thực trạng đất nước đã đưa đến việc tranh chấp về đường lối, chính sách quốc gia trong thượng tầng nội bộ của Đảng. Các đối thủ đã tung ra những nét xấu xa của nhau để hạ thủ nhau được lan truyền sâu rộng trong thời đại tin học. Nhờ đó người dân hiểu được “thế nước” nhưng “lòng dân” thể hiện như thế nào? Qua đài BBC, ông Nguyễn An Dân ở Sài Gòn đã phát biểu: “Dù nhiều người nói “quần chúng ngoài đảng” có nói gì thì cũng không ảnh hưởng vào đảng thì tôi e rằng không phải. Khi mạng xã hội chưa phát triển, nên đảng ít bị dư luận soi mói do dễ bưng bít thông tin. Nay, dù ít dù nhiều, với tác dụng của mạng xã hội hiện nay, cũng gây tác dụng phần nào đó vào quyết định của đảng. Nếu không có tác dụng thì vì sao có nhiều thông tin lọt lộ ra để dùng “quần chúng bên ngoài” gây sức ép cho nhau lên các phe phái bên trong đảng?”. Như vậy, hai phe đối nghịch đã lợi dụng lòng dân để gây sức ép tấn công nhau.
Trong kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa 13, ông Lê Như Tiến Đại biểu Quảng Trị có nói đến thời điểm “hoàng hôn của nhiệm kỳ”các quan chức nhà nước chạy đua nước rút để thực hiện những chuyến tàu vét cuối cùng trước khi hạ cánh. Sau đó Quốc hội nhất trí thông qua Luật Trưng Cầu Ý Dân, theo người viết thì việc Quốc hội tôn trọng ý dân là phương cách giúp các đảng viên cộng sản hạ cánh an toàn trong buổi hoàng hôn, ngày tàn của chế độ. Người viết kỳ vọng trong Đại hội Đảng lần này, Đảng sẽ quyết định chấm dứt việc xây dựng CNXH vì Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: Xây dựng chủ nghĩa xã hội còn lâu dài lắm. Đến cuối thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở VN hay chưa”. Mục tiêu của Đảng là xây dựng CNXH không còn nữa thì Đảng sẽ từ bỏ quyền độc tôn lãnh đạo nhà nước và xã hội.
Lê Quế Lâm
Công thức LÀM NƯỚC CHẤM CHO CÁC MÓN ĂN VIỆT
Nước chấm có thể xem là linh hồn làm nên vị ngon hoàn hảo cho mỗi món ăn. Trong hầu hết các món Việt, từ món cuốn, món nem, đến các món bún.
Nước chấm có thể xem là linh hồn làm nên vị ngon hoàn hảo cho mỗi món ăn. Trong hầu hết các món Việt, từ món cuốn, món nem, đến các món bún… luôn luôn có một chén nước chấm được pha chế theo một công thức rất đặc trưng.
Cùng tham khảo công thức làm 17 loại nước chấm dành riêng cho 17 món ăn Việt nhé!
1. Nước chấm cho món bánh cuốn
Nước chấm cho món bánh cuốn.
+ 300ml nước sôi để nguội
+ 2 lạng rưỡi đường
+ 2 muỗng canh nước mắm nguyên chất
+ ớt tươi băm nhỏ
+ ít giấm gạo
Nếu muốn nước chấm ngọt hơn theo vị của người miền Nam, bạn có thể không dùng giấm chua. Thay vào đó bạn giảm lượng nước và tăng lượng đường trong công thức.
Nếu bạn ăn mặn hơn, có thể thêm nửa muỗng canh nước mắm, tương đương khoảng 30ml.
2. Nước chấm cho món chả giò
+ 200ml nước sôi để nguội
+ 2,5 muỗng canh đường cát trắng
+ 3,5 muỗng canh nước mắm nguyên chất
+ 3 muỗng canh giấm
+ 3 trái ớt đỏ, bỏ hạt và băm nhỏ
+ 1 củ tỏi, lột vỏ và băm nhỏ
Để đơn giản và dễ nhớ hơn bạn có thể pha theo tỷ lệ: 1 nước mắm + 3 nước lọc + 2 đường + tỏi và ớt băm nhỏ.
Nước chấm này phải đặc và đậm mới đạt yêu cầu.
3. Nước giấm đường cho các món chua ngọt
+ 2 lạng rưỡi đường kính trắng
+ nửa lít giấm gạo
Cho đường vào giấm và đun nhỏ lửa hỗn hợp này khoảng 15 phút. Khi giấm nguội, cho vào chai thủy tinh và dùng dần cho các món chua ngọt trong bữa ăn hằng ngày như sườn xào chua ngọt, cá sốt chua ngọt,…
4. Nước chấm cho món bún thịt nướng
Nước chấm cho món bún thịt nướng.
Cách 1: Dùng nước giấm trên cho thêm nước mắm và nước đun sôi để nguội. Sau khi nêm nếm vừa ăn cho thêm tỏi băm, ớt băm và ít tiêu xay.
Cách 2: Bạn pha nước chấm theo công thức: 1 giấm + 1 đường + 1/2 mắm + 2 nước (nước đun sôi để nguội) + 1 đến 2 muỗng cà phê nước cốt chanh + tỏi và ớt băm.
Nếu ăn theo kiểu người Bắc, bạn có thể cho ít đu đủ vào. Bạn mua loại đu đủ xanh, cắt miếng vuông mỏng hoặc cắt sợi sóng theo dụng cụ cắt hoa quả. Sau đó, bóp sơ qua phần đu đủ này với muối và trụng sơ qua nước sôi xả lại trước khi ngâm giấm, vắt khô và thả chúng vào bát nước chấm.
5. Nước chấm cho món thịt xá xíu
+ 1/2 chén nước mắm
+ 1 muỗng canh đường
+ 5 củ tỏi, lột vỏ và băm nhỏ
+ 5 trái ớt hiểm, bỏ hạt và băm nhỏ
Pha hỗn hợp theo tỉ lê trên, khuấy đều, sau đó cho tỏi ớt đã băm nhuyễn vào.
6. Nước sốt cho món gỏi cuốn
+ 1 củ hành tím phi vàng
+ 8 muỗng canh tương đen Hoisin (loại tương dùng để ăn phở)
+ 1 muỗng cà phê bơ đậu phộng hoặc đậu phộng rang giã nhuyễn
+ 1 ít muối
Sau khi đã chuẩn bị các nguyên liệu với tỉ lệ như trên, bạn cho tất cả vào một bát vừa và trộn đều cho đến khi sánh, mịn.
7. Nước chấm đậu phộng cho món thịt bò satay
Nước chấm đậu phộng nước cốt dừa cho món satay.
+ 300ml nước cốt dừa
+ 8 muỗng cà phê bơ lạc
+ Nửa củ hành tây băm nhỏ
+ 1 viên đường thốt nốt
+ Nửa muỗng cà phê ớt bột
+ 1 muỗng cà phê nước tương
+ một ít muối
Đem tất cả đun sôi trên ngọn lửa vừa. Tắt bếp, để nguội và sử dụng.
8. Nước mắm tỏi ớt cho các món
+ 3 muỗng canh nước
+ 3 muỗng canh đường
+ 2 muỗng canh nước mắm
+ tỏi và ớt băm nhỏ
+ 2 muỗng cà phê nước cốt chanh
Sau khi trộn chung các hỗn hợp trên lại, khuấy đều cho tỏi và ớt băm nhỏ vào.
9. Nước chấm cho món bánh bột lọc
Nước chấm cho món bánh bột lọc.
Giã nát ớt và cho nước mắm vào cùng ít nước chanh. Nếu bạn không muốn nước chấm quá gắt vị nước mắm, bạn có thể thêm nước hoặc đường tùy ý.
10. Nước chấm cho món bánh bèo
Để có nước chấm ngon, bạn nên sử dụng ngay nước luộc tôm (tôm dùng làm ruốc) thay vì nước lọc.
+ 2 chén nước luộc tôm
+ 1 muỗng canh nước mắm
+ 1 ít muối
+ ½ muỗng canh đường
+ nước cốt chanh
+ tỏi và ớt băm nhỏ
Nếu không nhớ, bạn có thể áp dụng tỷ lệ: 1 nước mắm + 1 đường + 1/2 phần nước + 1/2 giấm gạo.
11. Nước chấm thịt vịt
Nước chấm cho món thịt vịt.
+ 4,5 muỗng canh nước mắm
+ 5 muỗng canh đường
+ 1 muỗng canh gừng băm nhuyễn
+ 2 muỗng cà phê tỏi băm
+ 1 muỗng canh nước lọc
+ 1-2 muỗng cà phê nước cốt chanh
Hòa tan lần lượt đường + nước + nước mắm. Sau đó cho các nguyên liệu còn lại vào và trộn đều.
12. Cách pha nước chấm bò bía
từ tương đỏ và tương đen được dùng cho món bò bía.
+ 1 chén tương đen Hoisin
+ 1/2 chén tương ớt
+ 1 muỗng canh đậu phộng rang giã nhỏ
Trộn tương ớt và tương đen lại cho đều. Khi ăn rắc đậu phộng lên trên cùng.
13. Cách pha nước chấm ốc
+ 2 muỗng canh nước mắm ngon
+ 1 muỗng canh nước sôi để nguội
+ 1 muỗng cà phê nước cốt chanh
+ 2 muỗng canh đường
+ ½ chén gừng giã nhuyễn
+ ớt băm, tỏi băm
Hòa tan đường với nước trước khi cho nước mắm vào. Trộn đều dung dịch này trước khi cho thêm gừng, ớt và tỏi băm vào. Sau cùng, cho nước cốt chanh vào và hòa thật đều các gia vị.
14. Nước chấm cho các món luộc
+ 2 muỗng cà phê muối rang
+ 1 muỗng cà phê hạt tiêu rang
+ 1 muỗng cà phê nước cốt chanh
+ ớt băm nhuyễn
Trộn đều các nguyên liệu lại là bạn đã có một món chấm ngon cho các món luộc.
15. Nước chấm hải sản
+ 1 muỗng cà phê đường
+ 1 ít muối
+ 1 muỗng canh tương ớt
+ ½ muỗng cà phê nước cốt chanh
Đánh đều tất cả nguyên liệu với nhau đến khi hơi sệt là được.
16. Nước chấm cua, ghẹ
Nước chấm cho các món hải sản.
+ 2 muỗng cà phê đường
+ 1 chén nhỏ muối tiêu
+ nước cốt 1 quả tắc
+ vỏ quất thái nhỏ cho luôn vào nước chấm.
Vắt nước tắc vào muối tiêu, trộn đều với đường và cho vỏ quất thái sợi lên trên.
17. Mắm tôm – chanh – ớt
Mắm tôm thường được dùng chung với món đậu phụ.
+ 1/2 chén mắm tôm
+ 2 muỗng cà phê nước cốt chanh
+ 2 muỗng cà phê đường
+ ớt băm nhỏ
Đánh kỹ mắm tôm với đường và nước chanh cho đến khi nổi bọt. Sau đó cho thêm ớt băm vào._
CÓ MỘT ĐÀ NẴNG ĐANG VỠ NÁT !
Tôi là người Đà Nẵng. Đi học và làm ở Sài Gòn gần 10 năm, hầu như năm nào tôi cũng về thăm quê hương vài lần.
Mấy năm gần đây Đà Nẵng tôi được ca ngợi dữ lắm; nào là xanh sạch, lịch sự, là Singapore của Việt Nam; nào là thành phố đáng sống nhất; nào là trẻ trung năng động; nào là văn minh và hiện đại,… Tôi cũng từng đọc vô số bài viết ca ngợi Đà Nẵng, thậm chí đến cả mấy đứa bạn thời lóc nhóc vốn chỉ ra khỏi thành phố được vài lần cũng có một bụng tự hào để mà kể.
Ấy vậy mà tôi không thấy thế!
Là một người từng ở nhiều nơi, chứng kiến sự thay đổi của quê hương, tôi chẳng thể nào hiểu được “nỗi tự hào” của người Đà Nẵng đến từ đâu?
1. Đà Nẵng ngày càng nhiều ăn cắp vặt
Cách đây 20 năm, tôi là một thằng học sinh, đi học xe vất lung tung, mũ nón, áo mưa để ngoài đường, lao đầu xuống tắm biển chẳng phải lo sợ. Mấy năm gần đây, cứ bị mất nón bảo hiểm và áo mưa suốt, đi đâu cũng phải khóa vào yên xe. Ăn cắp vặt làm tôi rất bực mình, thế nhưng mọi người lại bảo: “Để hớ hên vậy họ lấy là đúng rồi." Thực kỳ lạ! Kẻ phạm tội đâu thể quá nhiều, chỉ có thể là một bộ phận rất đông người dân sẵn sàng làm việc xấu khi có cơ hội. Sống ở Sài Gòn, tôi chưa từng mất áo mưa, mũ bảo hiểm,…
Năm ngoái, khi tôi chở cô bạn đi trên đường Núi Thành thì bị giật mất túi xách, tôi sốc lắm, Đà Nẵng của tôi đây sao? Ấy vậy mà chưa hết, lên công an Hòa Cường báo mất, họ còn bảo: “Anh chở chị ngồi một bên, cầm túi xách như vậy, bị giật là đúng!” Tôi muốn chửi lắm, nhưng quả thật ai cũng nói vậy!
Vào các siêu thị lớn, túi xách nhỏ cũng phải bọc lại, đến cả cái thước kéo nhỏ hơn nắm tay cũng phải bọc và dán băng keo! Ở Sài Gòn phức tạp còn tạm chấp nhận, Đà Nẵng “đáng sống” mà cũng thế thật chẳng đáng tự hào. Người ta cứ nghĩ ở đâu cũng vậy, nhưng thực ra, người Tây, Nhật, cả bọn Hàn Quốc đều coi thường cái “văn hóa ăn cắp vặt” của người mình. Có lẽ chỉ mỗi Việt Nam và Trung Quốc là có cái chính sách đề phòng tới từng “thằng dân” này! Mỗi khi đưa cái ví để bọc lại, nhìn cái bản hiệu “coi chừng mất xe” “ không giữ nón bảo hiểm”,… tôi thấy nhục nhã vô cùng! Quanh tôi nhiều người xấu đến vậy sao?
2. Giao thông Đà Nẵng rồi cũng như Hà Nội và Sài Gòn
Người dân đổ vào thành phố, mật độ giao thông cao là không tránh được. Ở ĐN quả có ít nạn kẹt xe và leo lên lề đường, nhưng ngoài cái đó thì tôi không thấy hơn Sài Gòn nhiều. Tôi thấy những chiếc xe tải, xe buýt, taxi lái bạt mạng, ngang nhiên vi phạm luật; tôi thấy người ta đi ngược chiều, lấn tuyến, dàn hàng ngang vô tội vạ; những đứa “choai choai” lái xe ẩu thả.
Dân số vừa chớm đông mà đã vậy, nếu gấp rưỡi, gấp đôi bây giờ, liệu có khác gì Hồ Chí Minh và Hà Nội. Tôi cũng xem qua nhiều bài báo ca ngợi ý thức giao thông của người ĐN, nhưng cái đó chỉ ở vài con đường trung tâm, còn những quận Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà, Thanh Khê,… người ta vẫn ngang nhiên phạm luật, nếu không tin bạn có thể kiểm tra. Ở Sài Gòn, những khu trung tâm người ta vẫn chấp hành rất nghiêm túc chứ có khác gì đâu!
Mấy năm gần đây, số lượng xe ô tô ở Đà Nẵng tăng mạnh. Buồn cười là họ mua nhiều xe, nhưng không có chổ để xe. Những tuyến đường Phan Chu Trinh, Hoàng Diệu vốn chỉ 2 làn đường, thêm 2 chiếc xe đậu 2 bên là người dân chỉ biết ôm nhau mà luồn lách. Tối đến thì người ta vất xe ở lòng đường, lề đường, vốn là những nơi công cộng, nhìn rất lộn xộn. Vậy mà người Đà Nẵng thay vì nhìn nhận vấn đề, họ bẻ lái: “ở ĐN mới được rứa, chớ ở Sài Gòn và Hà Nội là hắn mất xe, mất kính rồi!” Các quán ăn cũng vậy, họ đổ cả dãy xe ô tô ngoài đường, gây tắc nghẽn, nhưng không có ai ý kiến…
Hiện tại, giao thông Đà Nẵng còn chưa bị loạn, nếu chỉ biết phó tình huống như bây giờ thì chắc chắn cũng sẽ giống Sài Gòn và Hà Nội.
3. Du lịch Đà Nẵng nghèo nàn
Tôi phải thừa nhận không đâu ở mà có núi sông, biển cả đầy đủ như ở ĐN, nhưng cách làm du lịch của thành phố thật nghèo nàn. Bãi biển cát trắng dường như là cứu cánh cho hầu hết những lời ca ngợi về du lịch Đà Nẵng.
Tôi đã từng chứng kiến một Đà Nẵng khác. Tôi thấy Bà Nà kỳ ảo bị cạo trọc và thay thế bằng những công trình giả tạo xấu xí; tôi thấy rừng dương liễu xanh mướt bị đốn sạch để rồi tốn 10 năm vẫn chưa thể trồng lại; tôi thấy cục thang máy thô lỗ bám vào Non Nước như một kẻ gớm guốc hèn hạ; tôi thấy người ta lấp dãy san hô quý giá để làm thành bãi cát lố bịch; tôi thấy bãi biển yên bình giờ đây đầy những quán nhậu xập xình; tôi thấy những người nước ngoài đau đớn cho cách mà người Việt đối xử với bà mẹ thiên nhiên;… Người ta đu theo cái kiểu du lịch hời hợt để mà hủy hoại cái đẹp ngàn năm mới có được.
Tôi ganh tỵ với Hội An, với những nét văn hóa mà người Hội An gìn giữ được. Mỗi khi dẫn ai đó đi du lịch Đà Nẵng, cả con người tôi đầy một niềm tiếc nuối. Người cầm quyền kém cỏi mà người dân lại còn thỏa mãn, chẳng phải cái kết đã rõ rồi sao?
Vẻ đẹp nguyên sơ của Đà Nẵng có lẽ cũng còn, nhưng ít lắm. Tôi lại còn nghe nói hàng loạt những công ty bỏ tiền ra để “làm du lịch” “cải tạo” lại những nơi này. Tôi hoang man quá!
4. “Kinh tế Đà Nẵng bữa ni phát triển ghê lắm!”
Nhưng thu nhập ở Đà Nẵng quá thấp so với Sài Gòn và Hà Nội. Đà Nẵng chẳng sản xuất gì cả, vì là thành phố du lịch, nên các ngành khác ở Đà Nẵng đều khó có thể cạnh tranh với các tỉnh. Tuy nhiên du lịch nghèo nàn lại không đủ sức vực dậy nền kinh tế. Hầu hết chi tiêu vào hạ tầng đô thị của thành phố là tiền vay mượn và bán đất. Nhìn vào những công trình to cao, họ nghĩ rằng kinh tế đang phát triển mạnh.
Mặc dù cả Việt Nam đều đang bế tắc, nhưng người Đà Nẵng chẳng mấy quan tâm, họ vẫn nghĩ chính quyền thành phố sẽ có cách giải quyết. Đó là điều đáng sợ nhất. Hệ quả của cách suy nghĩ đó là khối doanh nghiệp tư nhân ở Đà Nẵng quá yếu so với khối quốc doanh. Tinh thần khởi nghiệp không có, ai cũng muốn vào nhà nước để ấm thân, dù lo lót vài trăm triệu vẫn không mảy may suy nghĩ. Người dân càng “phè phởn” thì càng có ít cơ hội làm chủ, những công ty lớn, những kẻ mặt bự hằng ngày vẫn vắt kiệt mảnh đất rồi một lúc nào đó sẽ khiến người Đà Nẵng ngẩn ngơ điêu tàn.
5. Nhận thức của người Đà Nẵng chẳng tiến bộ hơn 10 năm trước bao nhiêu
Người Đà Nẵng có tầm dân trí không xứng là một thành phố văn minh. Họ có thể sống nhẹ nhàng hơn, sạch sẽ hơn, nhưng nhận thức không cao. Phần lớn người dân an phận và tin tưởng vào những gì mình được nhồi sọ; họ gọi những kẻ như tôi là phản động; họ cho rằng chuyện chính trị là chuyện của nhà nước; họ thậm chí chẳng mấy quan tâm đến những nguy cơ của đất nước như tham nhũng, ngoại xâm, lộng quyền,… Khi nói về những vấn đề này, tôi thường nhận được câu trả lời xuề xòa: "Mô cũng rứa thôi!" "Mình làm được chi đâu! Nói để làm chi!"
Ngay cả những điều mà tôi cảm thấy thích như thủ tục hành chính nhẹ nhàng, không làm tiền, nhân viên hành chính lịch sự,... phần lớn cũng là do chính quyền ban cho chứ người dân ít khi nhận thức được quyền của mình.
Hiền hòa, không có nghĩa là “nhắm mắt ngó lơ”! Để tự hào là một thành phố đáng sống nhất, người Đà Nẵng chắc chắn phải thay đổi và gánh vác nhiều trách nhiệm hơn nữa.
Lời kết:
Không phải muốn chê bai, nhưng tôi cảm thấy cái “tự sướng” của người Đà Nẵng đã dần đến mức lố bịch. Là một người Đà Nẵng, tôi nuối tiếc vì những thứ đã mất, nhưng tôi vẫn có hy vọng Đà Nẵng sẽ thoát khỏi những sai lầm mà Sài Gòn và Hà Nội đã mắc phải. Trách nhiệm đó phải là của người dân chứ không thể là của Đảng “kính yêu”.
Tôi từng thấy người ta tiếc nuối một Hà Nội cũ. Tôi từng thấy người ta khóc thương Hòn Ngọc Viễn Đông. Có lẽ nào Đà Nẵng cũng sẽ tương tự?
Thời thế đã khiến Hà Nội, Sài Gòn phải chịu cảnh dày vò, nhưng Đà Nẵng vẫn còn cơ hội. Đừng tự hào, đừng tự sướng, đừng ăn cái bánh vẽ của báo chí nữa! Đừng nhìn vào Sài Gòn hay Hà Nội, hãy nhìn vào Nhật Bản, vào Mỹ, vào Đức để mà phấn đấu! Nếu hơn tỉnh thành khác thì có gì mà tự hào, vực dậy văn hóa và kinh tế của cả nước mới là điều đáng để phấn đấu.
KhoaiLang
Subscribe to:
Posts (Atom)



