Monday, February 1, 2016

THỰC CHẤT Và HUYỀN THOẠI VỀ HỌ HÀNG NHÀ KHỈ MƯỜNG GIANG

          Khi nhc tới những nàng khỉ cái rừng xanh, thông thường chúng ra hay hình dung tưởng tượng những con khỉ ốm nhách, núp trong đám lá um tùm, bận cho con bú hay đang bắt chí rận cho đàn khỉ con và chúng chỉ xuất hiện khi cần tìm thức ăn lúc đói . Tóm lại trông chúng có vẻ ngu xuẩn trước bọn khỉ đực ma lanh, láu cá nhảy nhót tưng bừng hay đang bận rộn lo cho bầy đàn .

           Thật sự quan niệm trên ngày nay đã sai bét, vì cái mà chúng ta đã nghĩ, hoàn toàn không có trong đời sống của bất cứ loài linh trưởng nào, vì thực tế , khỉ cái là con vật hết sức thông minh, bạo dạn, mạo hiểm, tranh đua và dĩ nhiên chúng cũng giống như người, là thường bị bọn khỉ đực ức hiếp, ngoại trừ giống khỉ lùn đen Bonobo . Đó là lời phán của nữ Động Vật Học người Mỹ Sarah Blaffer Hardy trong một tác phẩm nghiên cứu nổi tiếng . Còn nữ khoa học gia người Anh là Caroline Tutin, thì bỏ cả quê hương nhung lụa đến xứ Gabon, Châu Phi lặn lội ngày đêm trong rừng thẳm hiểm nguy để tìm hiểu những bí mật của loài khỉ đột đồng bằng có tên khoa học là Gorilla Gorilla
.
          Tại Thái Lan, nhiều khách qua đường hiếu kỳ đã dừng chân lại, khi nghe tiếng cồng vang vang, nhìn lên sân đấu thưởng thức những võ sĩ bốn chân Đười Ươi đang quyết đấu quyền Anh …Nhưng có lẽ chuyện ly kỳ nhất trong thế giới Khỉ, đó là số phận của hai con khỉ Neti – Ditto, được sinh ra từ ống nghiệm của nhóm khoa học gia thuộc trường Đại Học Oregon, Hoa Kỳ .

          Tóm lại làm sao mà giải thích cho hết chuyển Khỉ trên thế giới, lúc thì như thật nhưng cũng có khi chỉ là huyền thoại, về một loài khỉ lông vàng khổng lồ bị tuyệt chủng, được khoa học gia giải thích như là một nguyên nhân xuất hiện của người rừng Sasauatch ở Bắc Mỹ, người tuyết Yeti ở Hy Mã Lạp Sơn, người Yeren ở Trung Hoa, người rừng ở Việt Nam, người Kikpmba tại Châu Phi, người Yowie ở Úc và người Almasty tại Trung Á . Như vậy thì Người là Khỉ hay Khỉ là Người ?. Chắc là cả hai cho nên không thấy ai cãi lại câu nói của Pascal : “Con người không phải là một vị thánh, cũng chẳng phải con khỉ, mà là cả hai” .

          1-Bộ Linh Trưởng :

          Khỉ nằm trong Bộ Linh Trưởng, ra đời cách đây hơn 70 triệu năm, hiện nay chúng có khoảng 200 loài khác nhau về đời sống, hình dạng cũng như trọng lượng . Trong bộ này, có loài khỉ nhỏ xíu như con chuột, nhưng có loài to lớn cân nặng trên vài trăm ký . Tuy nhiên dù ở trạng thái nào chăng nữa, thì tất cả cũng đều mang chung đặc tính là tứ chi thích ứng với sự leo trèo, cầm nắm, mắt luôn hướng về phía trước và hộp sọ tương đối lớn, trong chứa não bộ đã phát triển . Trong Bộ Linh Trưởng, nhóm ra đời đầu tiên là gia đình họ Cu-Li, sau đó mới tới Nhà Khỉ, gồm Khỉ, Đười Ươi, Vượn và Hắc Tinh Tinh .

           A- Họ Nhà Cu-Li :

          Gồm những loại sống trên cây, ngón chân có móng hay vuốt và đối diện với các ngón khác còn lại, có thể cầm nắm như người . Họ Cu-Li hiện sống nhiều tại Châu Phi và các nước Nam Châu Á, có cặp mắt to nên nhìn thấy rất rõ ràng, vì vậy nên chuyên sống về đêm . Riêng ban ngày Cu-Li thường ngủ trong các hang động, bụi cây kín đáo, khi ngủ cúng quen lấy hai tay che kín mắt, do đó người ta gọi chúng là con Cù Lần hay con Xấu Hổ . Hiện trong nhóm có loài Cilicucang (Nycticebus Coucang) Cu-Li Loris (Tardigradus) . Vượn Cáo Potto (Perodicticus) . Tất cả đều ăn hoa quả, sâu bọ, hình dạng giống Họ Vượn nhiều hơn Nhà Khỉ .

          B-HỌ NHÀ KHỈ :

          Chia làm hai nhóm rõ rệt, nhóm thứ nhất thuộc Nhóm Khỉ sống tại các khu rừng rậm, hoang vu, thuộc các nước Trung và Nam Mỹ . Các loài Khỉ này đặc biệt có chiếc đuôi rất dài, vừa có thể quấn chặt trên cây làm điểm tựa hay biến thành bàn tay thứ ba để cầm nắm . Loài Khỉ này còn được gọi là Khỉ Mũi Rộng, vì mũi của chúng, do vách ngăn bên trong rất dầy, nên hai lỗ bị lệch sang hai má . Nhiều giống Khỉ trong Nhóm này có lông lá nhiều màu, nên chúng rất kỳ dị, có con đỏ chói, có con nâu nhạt, có con bạc thếch, có con mang đủ màu sắc xanh vàng trắng đỏ hay đen thui như màu than hầm . Có con đầu sói, có con râu xồm, có con mặt mày lúc nào cũng cau có, giận hờn . Nói chung nhóm khỉ này kém thông minh lại lười biếng nên thường gây khó khăn khi được thuần chủng .
         
          Tại Á và Phi Châu, hiện có nhóm Khỉ Mũi Hẹp, vì vách ngăn mũi mỏng, nên mũi bị đẩy về phía trước . Khỉ này cũng có đuôi dài hoặc không có đuôi nhưng đuôi này không quấn được và cầm nắm . Tất cả nhóm Khỉ này đều có chung 32 cái răng như người . Chúng quen sống thành bầy đàn từ 30 con trở lên đến 100 con . Cũng có nhóm sống từng gia đình gồm vợ chồng con cái, rất ít khi sống riêng rẽ một mình cô quạnh, và dù sống như thế chúng cũng phải trở về với bầy đàn trong mùa giao phối hay sinh đẻ . Trong nhóm này, hình dáng chúng được xem là loài thú giống người nhất với thân hình nặng nề, vạm vỡ, có khả năng đi lại trên đất bằng hai chân . Não bộ rất lớn, phát triển, có thể tích từ 300-600 cm3 cho nên chúng rất dễ thuần hóa và bắt chước mau những động tác do người chỉ dạy . Loài khỉ này xuất hiện trên trái đất khoảng 20-30 triệu năm, hiện chỉ còn ba nhóm là Đười Ươi, Hắc Tinh Tinh và Khỉ Đột (Gorin) .

          -Đười Ươi : (Orangoutan), còn được gọi là người rừng, hiện chỉ còn sống nhiều tại Nam Dương . Chúng có khuôn mặt hao hao giống người nhưng sắc diện thì lúc nào cũng cau có, đăm chiêu . Loài này cổ to bành, lưng khòm, bụng phệ, cao trên 1m7 và nặng từ 60-100kg, con cái thắp nhỏ hơn . Đười Ươi đực có sức mạnh phi thường, có thể dùng đôi hàm rang bén nhọn cắn thủng vỏ dừa khô, hay chỉ với đôi bàn tay bóp vỡ đầu người dễ dàng như ta đập trứng gà vịt . Ngay cả lũ cá sấu hung ác cũng bị đười ươi dùng tay hạ dễ dàng, cho nên con người muốn bắt chúng, chỉ có cách dùng mưu kế mới hạ được mà thôi . Đười Ươi ăn các loài hoa quả, sâu bọ chim nhỏ, ngủ đêm trên tổ làm bằng lá cây, chỉ con cái chăm sóc gia đình . Câu tục ngữ : “Đười Ươi giữ ống” cũng là kinh nghiệm của những người thợ rừng, lúc nào cũng thủ sẵn đôi ống tre lồng ngoài cổ tay . Khi đụng mặt với Đười Ươi, cứ chìa cho chúng nắm hai cổ tay, ngửa mặt cười chờ tối, thì ta lẹ làng rút tay chạy nhanh mới toàn mạng .

-Hắc Tinh Tinh : Cũng rất giống người dù vóc dáng nhỏ hơn Đười Ươi . Khi đực cao trên 1m7 và nặng từ 55-75 kg, sọ có thể tích 400cm3 . Khi đi bằng chân, Hắc Tinh Tinh hay ngả về phía trước và thường sống dưới đất, chỉ leo lên cây khi ngủ . Rất thông minh, biết dùng sào hái dừa hay dùng cây thọc vào hang mối để bắt mối . Hiện sống nhiều tại các nước Châu Phi xích đạo, đây là loài khỉ được nuôi dạy và nghiên cứu nhiều nhất trong phòng thí nghiệm, cùng với loài Khỉ Lùn Bonobo, theo chế độ mẫu hệ .

-Khỉ Đột (Gorilla Gorilla), là loài khỉ lớn nhất trong 12 họ Khỉ thuộc Bộ Linh Trưởng, con đực cao từ 1m8 đến 2m, nặng từ 200-250 kg, con cái nhỏ chỉ bằng nửa con đực . Loại này có bộ lông rất rậm, thường màu đen, hai tay rất dài với bắp thịt cuồn cuộn mạnh khỏe . Đầu khỉ to nhưng trán hẹp, hộp sọ có thể tích 600cm3, vành tai nhỏ , hàm bành và khuôn mặt lồi . Loài này hiện chỉ còn sống ở Châu Phi, chúng hợp thành đàn rất đông, do nhiều gia đình tập hợp lại dưới quyền chỉ huy của một con Khỉ đực chúa . Hiện chỉ còn một loài chính và 7 loài phụ, sống trong 7 vườn quốc gia của các nước Châu Phi, có nhiệm vụ bảo vệ chúng khỏi bị tuyệt chủng vì nạn săn bắn bừa bãi .

          Cũng trong họ nhà Khỉ còn thấy Khỉ Nhện (Ateles Paniscus) hình vóc bé nhỏ từ 12-70cm, họ hàng có tới 11 giống, 29 loại sống trong rừng rậm ở Nam Mỹ . Khỉ Chó (Mandrillus Sphinx) kích thước 1m, nặng 40kg, đuôi ngắn đo chừng 0,07m gồm có 2 giống là khỉ đầu cho và khỉ mõm chó sống tại Châu Phi, họp thành đàn, thường kéo về các đồn điền thôn xóm gần rừng phá hoại mùa màng . Khỉ Bay (Colobus Badius), có thân mình dài từ 40-70cm, đuôi dài hơn thân, đặc biệt hai bên sườn có hai bờm lông dầy rậm, làm thành 2 vạt áo, từa tựa như 2 cánh chim, giúp khỉ có thể bay trong không trung một khoảng cách đáng kể . Loại này chỉ còn tại Châu Phi, họp thành bầy chừng vài chục con, sống trên cây và săn mồi về đêm .

-Khỉ Vàng (Macana), là giống khỉ sống nhiều nhất tại VN, cơ thể dài từ 30-70cm, tứ chi ngắn nhưng khỏe, lông rậm màu nâu vàng, hai bên má có túi để chứa thức ăn, đít chai đỏ vì chỉ ngồi . Khỉ này hiện còn 12 loài, sống tại Đông Nam Á, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai, Âu và Phi Châu, thành từng đàn đông đảo có khi lên tới vài trăm con, ăn hoa quả sâu bọ và chim chóc . Tại Ấn Độ hiện chúng có độ 40 triệu con, được xem như thần thánh ngang với bò, nên không ai dám đụng tới, mặc cho chúng tàn phá mùa màng một cách nghiêm trọng .
-Khỉ Chimpandre : Trong gia đình Khỉ có nhiều loại giống người, nhưng giống nhất từ hình dạng cho tới sinh lý, vẫn là loài khỉ Chimpande . Loài khỉ này không đuôi, hai bàn tay và chân đều có ngón cái . Cánh tay khỉ rất dài, không đuôi, da mặt xám hồng, hai lỗ tai to và vểnh, lông dầy đen, trán nhỏ, mũi hếch . Khỉ đực cao trên 1m70 nặng 70 kg, trong khi khỉ cái nặng chừng 60kg cao 1m30 .
Đặc biệt máu của nhóm này cũng giống như máu người gồm có 4 loại A,B,A+B và O . Khỉ sống chừng 55 năm, ăn quả hạt, côn trùng, rất thông minh so với các loài khỉ khác trong Bộ Linh Trưởng . Khỉ này sống thành từng đàn, mang thai từ 8 đến 9 tháng, nhưng về kinh nguyệt, khỉ cái mỗi lần kéo dài tới 35 ngày . Khỉ cái có tình mẫu tử rất sâu đậm, thương mến và dạy dỗ khỉ con giống như tình người, tới 4 tuổi, khỉ mẹ mới bắt đầu có con kế tiếp .

          C-Họ Vượn :

          Loài Vượn (Hylobatrs), thuộc Họ Vượn (Hylobatidae) có dáng dấp trung bình, thích nghi với đời sống trên cây, là con vật trung gian giữa Nhà Khỉ và Đười Ươi . Loài Vượn có tay dài nhưng chân lại ngắn, vì vậy trong đời vượn hầu như chỉ sử dụng hai tay mà thôi . Hiện còn 6 loài Vượn sống tại các nước Đông Nam Á, trong đó có loài ợn Đen thường xuất hiện trên vùng núi cao . Vượn đực có lông đen, còn con cái thì lông màu vàng đậm, ăn hoa quả sâu bọ, sống thành từng đàn đông đúc, do nhiều gia đình vượn hợp thành gồm vợ chồng con cái giống như con người .

-Voọc hay Vẹc, thường sống chung với loài khỉ lông vàng . Loài này lông lá rậm rạp, trên đỉnh đầu có một bờm lông dựng đứng, tính tình khoan thai trầm mặc như một nhà hiền triết, hiện còn 14 loài, trong số này có 2 sống tại VN nhưng cũng sắp bị tuyệt chủng vì nạn săn bắn bừa bãi, đó là Voọc Bông Lau hay Cà Vác (Presbytis Alunculus) sống ở Bắc Việt và Voọc Quần Trắng hay Con Càng (Prsbytis Francoici) sống khắp VN . Riêng trong nhà Vượn, hiện còn giống Vượn Đen Lục, Vượn Lar, Vượn Đen tay dài …

         2-KH : THỰC CHẤT VÀ HUYỀN THOẠI :

-Tủ Thuốc Gia Đình Của Khỉ :
          Theo Richard Wrangham giáo sư tại Đại Học Havard Hoa Kỳ thì loài khỉ biết rõ những gì chúng làm, nhất là trong việc sử dụng cây lá như là một tủ thuốc thiên nhiên . Loài Hắc Tinh Tinh đã biết dùng lá cây Aapilla, một loại hoa Hướng Dương để trị bệnh giun sán trong ruột vì lá này có chứa chất Thiarubrine A, có khả năng giết được vi khuẩn, nấm mốc và các loại ký sinh trùng. Theo nghiên cứu mới đây, dược chất trên còn có tác dụng trị được tế bào ung thư của khối u trong phổi và ngực. Loài Khỉ Hét (Howling Monkey) ở Costa Rica, Trung Mỹ bị bệnh loét mũi, chúng đã phải nếm đủ loại lá cây để trị lành bệnh, nhiều con chẳng may phải chết vì trúng độc. Thuốc tương ứng, sẽ được khỉ cha mẹ truyền nghề lại cho con cái về sau .

          Về các loại thuốc dành cho các sản phụ, loài Khỉ Hét đã biết dùng thuốc để sinh con đực hay cái do ý muốn. Ta biết trong thế giới động vật hữu nhũ, người cũng như bộ linh trưởng, tế bào trứng có thể sống rất lâu trong một môi trường acid, trước khi có sự giao hợp thụ thai. Khỉ Hét chỉ ăn thứ lá này, trong khi muốn làm tình mà thôi. Theo các nhà khoa học, từng theo dõi nghiên cứu loài khỉ, đã kết luận rằng, chính thứ lá cây trên đã gây phản ứng acid hóa nơi tử cung, tạo điều kiện cho sự thụ thai theo ý muốn. Xét về mặt tâm lý, việc Khỉ Hét muốn có trai hay gái cũng là một trạng thái tâm sinh lý, tùy theo hoàn cảnh nhu cầu xã hội, đâu có khác gì ước muốn của con người khi cần .

          Cuối cùng theo nghiên cứu. Khỉ cái đôi khi cũng tự triệt sản khi ân ái, cũng bằng một thứ lá, mang một hỗn hợp acid, làm con cái tiết ra chấtestrogen cản trở sự điều tiết dung dịch hormone, làm sẩy thai hay chết yểu khi vừa tượng hình. Có điều đáng khen là loài linh trưởng không bao giích kỷ trong việc tìm kiếm, phân chia thức ăn hay dấu nhẹm sự hiểu biết về những phát minh thuốc men trị bệnh. Riêng loài khỉ Châu Phi, theo giáo sư Michad Hyfwan tại đại học Tokyo, đã biết dùng vỏ cây Veronia cũng để trị bịnh giun sán, chính người địa phương đã bắt chước khi dùng vỏ cây trên để chữa bệnh ký sinh trùng .

-CHẾ ĐỘ MẪU HỆ CỦA KHỈ BONOBO :
          Trong họ hàng nhà Khỉ, không thiếu gì loài khỉ đực rất dã man và vũ phu đối với khỉ cái, điển hình loại này phải kể tới Khỉ Đột Đực (Gorilla), có thể quật chết các khỉ con đang bu theo khỉ mẹ, để cô nàng rảnh nợ phục vụ cho hắn, hoặc các chàng Đười Ươi đực (Orangutans) sẵn sàng tay đấm chân đá người tình, nếu bị từ chối . Riêng trong bầy đàn Hắc Tinh Tinh, giống khỉ sống đa thê, thì cảnh chiến tranh nóng dành gái luôn luôn được phô trương lực lượng, hoặc để bảo vệ vợ con nàng hầu hay cướp bóc thêm người đẹp của kẻ khác. Thế nhưng qua các cuộc nghiên cứu mới đây, thì cái tình trạng vợ lớn, vợ hầu, đánh nhau dành gái, đánh đập phụ nữ trẻ con trong xã hội của loài Khỉ Bonado hầu như chẳng bao giờ thấy có, dù xếp chúa trong bầy cũng vẫn do Khỉ Đực nắm giữ .
          Theo tác phẩm “Demonic Males” (Giống Đực Điên Loạn) của hai nhà Nhân Chủng Học Richard Wrangham và Khoa Học Gia Dale Peterson chung soạn, thì sở dĩ được như vậy, là do khỉ cái trong xã hội Bonobo thiết lập, vì chính chúng là những con vật đồng tính luyến ái, nhưng biết tự kết đoàn gây sức mạnh trong giống cái, bảo vệ lẫn nhau khi bị hiếp đáp và đe dọa, cho nên các chàng đực rựa đã bị cô lập hay trừng phạt khó nổi máu du côn bạo hành vợ, người tình hay những khỉ cái khác trong bầy đàn cùng bọn. Trước năm 1928, khỉ Bonobo được xếp chung trong họ nhà Hắc Tinh Tinh như là loài khỉ phụ của nhóm này . Năm 1970, nhờ nhà Động Vật Học Nhật là Takayoshi Kano, sau nhiều chục năm theo dõi nghiên cứu chúng đã kết luận Khỉ Bonobo hoàn toàn khác biệt với loài Hắc Tinh Tinh từ tập tính, cách sống xã hội, chúng là một nhóm riêng biệt như Hắc Tinh Tinh trong Bộ Linh Trưởng . Khỉ Bonobo ăn tạp gì cũng được, kể cả vỏ và cành cây khi đói, nên đối với loài khỉ này, thực phẩm không phải là vấn đề quan trọng, do trên khỉ cái thấy không cần thiết lắm khi nhờ khỉ đực lo lắng đời sống gia đình . Tuy nhiên dù là một xã hội mẫu hệ nhưng khỉ cái Bonobo rất trung thành với chồng con .

          Về sinh lý, loài khỉ này cũng độc đáo vì chúng yêu nhau trong tư thế mặt đối mặt như con người, biết ôm choàng âu yếm, vuốt ve tình tứ qua anh mắt biểu lộ sự âu yếm tình tứ mê ly và trên hết là yêu nhau suốt bốn mùa tám tiết, chứ không theo một chu kỳ như nhiều loài khỉ khác cùng bộ linh trưởng .

-TINH TINH HIỂU ĐƯỢC TIẾNG NGƯỜI :
          Ngày 20-4-1995, tại trung tâm nghiên cứu ngôn ngữ thuộc viện đại học Georgia Hoa Kỳ, một chuyện lạ đời đã xảy ra, khiến cho không ai có thể ngờ được đó là chuyện con khỉ lùn Bonobo tên Kanzi có thể nghe và hiểu được tiếng Anh, đang làm trọng tài cho nữ tiến sĩ Sue Savage Rumbaugh (Thầy của con khỉ trên), chơi trò rượt bắt với một phóng viên người Gia Nã Đại .

          Đó là một con khỉ thuộc loài Bonobo, mà các nhà khoa học quen gọi là Tinh Tinh Lùn, loài khỉ hiền, hiện sống trong rừng nhiệt đới Zaire, Châu Phi, còn khoảng 10.000 con và đang có nguy cơ tuyệt chủng . Cổ họng của khỉ Bonobo khác với con người vì thanh quản ở một vị trí rất cao, trong khi lưỡi lại nhỏ nên không thể phát âm thành âm tiết . Trường hợp này cũng giống như cách dạy người mù bằng phương pháp chữ nổi. Do trên, phải huấn luyện khỉ hiểu ý người bằng đồ hình với 265 vật vẽ cần thiết cho cuộc sống sơ khai . Theo nhà tâm lý học Shelly, qua các kinh nghiệm thu thập của những người đi trước, thì loài khỉ như Bonobo, có thể bắt chước người qua cách huấn luyện bằng hệ thống từ biểu tượng, tức là thầy phải trực tiếp hòa mình vào đời sống của khỉ, vừa dạy vừa nói vừa thi hành trước mắt chúng những hành động có trên biểu tượng, kết quả năm 1995, con khỉ Bonobo nói trên, không cần đồ hình đã có thể làm theo lệnh chủ .

          Hiện nay người ta đang tiến tới giai đoạn huấn luyện khỉ điện tử . Tiếng nói của chúng sẽ phát ra theo nút bấm . Công lao to lớn của những người trên là đã chứng minh rằng các loài vật có tiến hóa cao như Khỉ chẳng hạn, có thể thu nhận một phần ngôn ngữ thô thiển của con người . Quá khứ đã chứng minh loài Dã Nhân có ý thức khi nhận chính mình trong gương hay tự chế được một vài dụng cụ . Ngôn ngữ chính là thành lũy cuối cùng để phân biệt người và thú, thế nhưng từ 10 năm qua, các nhà khoa học đã làm lung lay bức tường đó, khi khỉ được huấn luyện, đã bước vào trong thế giới tìm hiểu ngôn ngữ của con người .

-CLONING, SẢN PHẨM TẠO THÀNH HAI CON KHI NETI VÀ DITTO :

          Việc con cừu Dolly làm thế giới chấn động chưa tỉnh hồn, thì một tuần sau, viện khảo sát loài linh trưởng tại Đại Học Oregon Hoa Kỳ càng làm cho người ta sửng sốt hơn, khi cho ra đời 2 con khỉ Neti và Ditto . Tuy nhiên giữa hai loài vật nhân tạo trên vẫn có sự khác biệt vì cừu Dolly là động vât/ được tạo ra bằng chính tế bào da thịt của nó, còn hai con khỉ lại là sản phẩm do kỹ thuật Cloning, lấy từ cái phôi đã tượng hình, tức là chúng được sinh sản y hệt như cặp sinh hai sinh ba .

          Đây là kỹ thuật gieo cấy nhân trong phôi cũ kỹ trước đây qua danh từ Nucker Embryo Tranfer Infant, đã được dùng để tạo ra cừu, bò, lợn và cả con người. Tuy nhiên về người, thì các nhà khoa học đã hủy bỏ Clones của phôi, vì vậy Dolly vẫn là sản phẩm duy nhất giống mẹ vì được tạo ra từ tế bào . Riêng trong sản phẩm Cloning, kỹ thuật gieo cấy sinh học của phôi, đã làm cho con người run sợ vì các kỹ thuật gia nhân đó, có thể sinh gà thành cuốc, hay nói đúng hơn thấy vậy mà không phải vậy, khi một tác phẩm đã bị sao chép thành nhiều bản . Mặc dù bị nhạo bang trên báo chí như tờ Proceeding of the National Academy of Sxience, nhưng tác giả của hai con khỉ trên là tiến sĩ Balaban vẫn tĩnh bơ trước chuyện gà hóa cút, đến nỗi Tổng Thống Bill Clinton phải ra lệnh cấm chỉ thử nghiệm Cloning, nhưng người Mỹ đã muốn thì ai cấm được ?.

-KHỈ ĐỘT VÀ TINH TINH :

          Trạm nghiên cứu Tinh Tinh và Khỉ Đột LOPE được Trung Tâm Quốc Tế Nghiên Cứu Y Học Franceville, thành lập từ nhiều năm qua, là một trung tâm lớn nhất tại Phi Châu, chuyên nghiên cứu các loài khỉ lớn như hắc tinh tinh, khỉ đột đồng bằng, để tìm ra phương thức chữa trị các bệnh của con người tại đây như bệnh AIDS, sốt rét, giun chí, buồn ngủ, nhiễm virus Ebola …do nữ khoa học gia Caroline Tutine điều khiển . Nhờ công trình này, người ta đã phát hiện được nhiều tập tính riêng biệt giữa hai loài khỉ lớn nhất hiện nay là Hắc Tinh Tinh và Khỉ Đột đồng bằng, trong một môi trường sinh sống tự do của chúng giữa thiên nhiên chứ không ở sở thú hay chuồng trại .

          Suốt 12 năm, trung tâm đã theo dõi hơn 64 ngàn Hắc Tinh Tinh và 35 ngàn Khỉ Đột trong rừng rậm nước Gabon, đã chứng minh được khỉ đột có thể sống mạnh khỏe tại các khu rừng nguyên sinh, đặc biệt chúng không thích gần người và thường có những cử chỉ đe dọa khi chạm mặt . Khỉ đột và hắc tinh tinh ngủ trên cây khi trời vừa tối, tinh tinh ngủ cây cao hơn 40m, còn khỉ đột thì ngủ gần mặt đất, mỗi con ngủ riêng một chỗ trừ khi con chưa cai sữa vẫn ngủ chung với khỉ mẹ. Buổi sáng trước khi rời chỗ ngủ, chúng thường bài tiết phân. Trong sự ăn uống, khỉ đột gần giống hắc tinh tinh .

          Khỉ đột đồng bằng sống rầy đây mai đó, ăn rau c, gia đình chỉ vợ chồng con cái rất thủy chung, khỉ con ra riêng lúc 10 tuổi . Hắc tinh tinh thì sống theo bầy đàn từ 30-100 con, gồm các khỉ đực và cái đồng trương lứa, sức nặng, ăn trái biết bỏ hột, còn khỉ đột thì nuốt hết vỏ lẫn hột và ăn rất nhanhKhỉ đột sống vì gia đình con cái, còn Hắc tinh tinh thì con đực vô trách nhiệm, tất cả do con cái chăm sóc con cái nhưng trong loài này dường như không có tình mẫu tử như những loài khỉ khác. Tóm lại, khỉ đột và hắc tinh tinh ăn uống cùng loại sống gần nhau vẫn  không hề xung đột nhưng  môi trường xã hội của hai giống khỉ này thì khác biệt hoàn toàn .

-HUYỀN THOẠI VỀ KHỈ NGƯỜI :

          Sau cùng là câu hỏi " có hay không loài Dã Nhân ?". Nguyên do là từ mấy chục năm qua, đã xuất hiện các danh từ như Almasty. Albasty. Barmanu, Basajaun .. đều dành để chỉ một giống khỉ người (Dã Nhân) đi hai chân, lông lá đầy mình, đầu tiên phát hiện tại rặng Himalaya, sau đó huyền thoại lan dần khắp thế giới . Chưa ai thấy được chúng nhưng các khoa học gia thì vẫn cắm cúi đi tìm sự thật và sau đó đã bảo chúng là Người Tuyết Yeti . Nhân vật này được Đại tá người Anh là HoHoward Bury phát hiện năm 1921 trên đỉnh núi Everest bằng ống dòm . Lúc đến nơi thấy nhiều dấu chân to lớn . Sau này các nhà khoa học đã lên đến tận nơi để tìm kiếm nhưng bặt tin . Tuy vậy vẫn suy luận .  “Người Tuyết Yeti” có thể là con cháu của loài linh trưởng Sivathipeque, sống cách đây 5 triệu năm hay là hậu duệ của Vượn Người (Gigantopitheque, tuyệt chủng cách đây hơn một triệu năm .

-ALMASTY : NGƯỜI VÚ DÀI Sống trên những vùng núi Caucase thuộc Liên Xô cũ . Theo lời đồn, Dã Nhân này có thân hình khổng lồ đầy lông lá, không cổ, không cằm, lông mày hình lưỡi trai, cặp mắt sáng như lửa trong đêm tối . Con cái có cặp vú dài tới đầu gối, biết rống . Từ 30 năm nay, nữ Bác Sĩ Marie Jeanne Koffman đã dầy công tìm kiếm và đã kết luận, đây là sinh vật Khỉ Người, thuộc nhóm Nendertal có mắt đỏ để sống về đêm, còn đôi vú dài thì cho con bú khi cõng chúng sau lưng .

-NGƯỜI RỪNG YEREN :Cũng là lời đồn, Người Rừng ở Trung Cộng giống như Người Tuyết có thân hình cao to trên 2m, tóc dầy, hiện chưa có người nào bị bắt . Năm 1981, nhà Nhân Chủng Học Mỹ, Franck Poirter tới nơi nghiên cứu và đã kết luận, đó là Người Khỉ nhưng không biết đang sống lén lút ở đâu .

-NGƯỜI CHÂN TO : Đây là một sinh vật gọi là BIGFOOT, hình dạng khổng lồ, lông lá đầy mình, đi bằng 2 chân, từ lâu là mối lo sợ cho dân chúng vùng Bắc Mỹ.Mặc dù năm 1967 Roger Patterson may mắn đã chụp được nhiều hình người khổng lồ chân to, thế nhưng chẳng ai tin đó là sự thật .

-KIKOMBA : Vào năm 1948 tại Congo, Phi Châu, một người Thụy Sĩ tên Charles Cordier tình cờ phát hiện một khỉ dạng người chạy ngang qua đường . Người địa phương gọi là Kikpmba, hình dáng béo tròn, không lông ăn thịt cá và mật ong .
Nó có bộ tóc dài phủ trên gương mặt nhô hàm răng và đôi lông mày rậm, dân địa phương rất sợ, còn người phương Tây thì suy luận, đây là loại trung gian giữa khỉ và người .

          Tóm lại trong tất cả các loài thú sống ở rừng, có lẽ khỉ là con vật tinh khôn nhất . Chúng đã biết thiết lập một xã hội, trong đó có đầu đàn vẫn là một con đực to lớn, tinh khôn có sức khỏe, có khả năng kiểm soát và chỉ huy tất cả, thống trị thần dân phải sống trong một kỷ luật nghiêm khắc ngặt nghèo . Nó là linh hồn quyết định sự sống của cả bầy, ra lệnh rút lui hay chỉ huy chống đỡ kẻ thù lúc nguy hiểm do người hoặc đồng loại gây ra .
          Rừng VN xưa nay có nhiều khỉ sinh sống, nhưng hiện nay chúng đang có nguy cơ bị tuyệt chủng vì nhiều lý do, trong đó có tệ nạn săn bắn và phá rừng đốn cây bừa bãi vô trách nhiệm qua sự đồng tình của kẻ đương quyền. Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc thì 21/25 loài thú trong bộ linh trưởng ghi trong sách đỏ có nguy cơ bị tận diệt tại xã nghĩa VN . Từ sau tháng 5/1975, đất rừng càng ngày càng bị thu hep. Môi trường sinh thái cũng theo hoàn cảnh mà biến mất, khiến cho các thú rừng càng lúc càng gần gũi với con người hơn . Trong số này Khỉ là loài thú bị ghét nhất vì hay phá hoại mùa màng, vườn tược nhất là tại cao nguyên và các thôn làng gần rừng núi . Ngày nay giết khỉ, vượn, voóc chẳng những cho bỏ ghét mà còn có thịt ăn, bán và nhất là món xương rất có giá, bán sang Trung Cộng, Đài Loan, Tân Gia Ba, Thái Lan hay nơi nào có chú Ba, để chế nấu cao, hầu mật, hầu huyết linh và món óc khỉ mà trước đây Từ Hy Thái Hậu đã bầy ra để đãi sứ thần ngoại quốc tại Bắc Kinh . Khỉ chết thì cho các quán thịt rừng, khỉ sống thì mang về bán cho vựa thú để hoặc bán nuôi làm cảnh hay xuất biên hoặc bị gọt sọ để ngườI ta ăn óc sống .

          Nay thêm một lần nữa năm con Khỉ lại tới, để cho mọi người cùng nhau nhớ về Tết Mậu Thân 1968 mà vết nhơ muôn đời trong lịch sử vẫn là vụ VC tàn sát dã man đồng bào tại cố đô Huế, ngoài ra năm con Khỉ, cũng sẽ làm cho mọi người VN trong và ngoài nước hy vọng qua bài sấm của Trạng Trình  Nguyễn Bỉnh Khiêm, cách đây hơn 500 năm :

" Long Vỹ, Xà Đầu khởi chiến chinh
Can qua hà xứ khắp đáo binh
Mã tiền, dương cước, anh hùng tận
Thân-Dậu, niên lai kiến thái bình

Xóm Cồn Hạ Uy Di
Cuối năm 2015
MƯỜNG GIANG

Tài Liệu Tham Khảo :
-Thế giới động vật
-Sách báo VN và Ngoại Quốc
-Mười hai con giáp..

Xuân Tha Hương và đọc Nhớ Phạm Đình Chương của Phan Lạc Phúc

Lại thêm một năm nữa ăn Tết xa quê nhà, mời các bạn nghe lại Xuân Tha Hương của Phạm Đình Chương qua giọng hát trầm ấm, truyền cảm của Sĩ Phú. 
Cả nhạc sĩ và ca sĩ đã lần lượt ra đi, chỉ còn ca khúc ở lại.
-----
Không hiểu sao chỉ mới nghĩ tới mùa Xuân, lòng người như đã mở hội!
Có lẽ hội từ dân gian ngàn xưa, hay hội từ đất trời hòa cùng cảnh sắc thiên nhiên.
Trong Xuân, lâng lâng hồn thường thoát ra những thanh âm tiết điệu hoà nhịp cùng nhân gian.
Cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương, một trong những người có những rung cảm xuân tuyệt vời nhất.
Xuân trong ông đã tạo nên những âm điệu bất tử ... bất tử...
Xuân nào mà chẳng nghe "Ly Rượu Mừng" nồng nàn hạnh phúc, "Đón Xuân" tươi vui, "Lá Thư Mùa Xuân" chan chứa tình... 
Nhưng "Xuân Tha Hương" của ông sao mỗi lần nghe mỗi lần da diết, như chung cho những kẻ nhớ nhà, nhớ quê, mỗi độ xuân về!
VCH đã lựa nhạc phẩm này hòa cùng những cảnh sắc từ ống kính của mình, để diễn tả tâm tư cho riêng mình chăng?
Hình ảnh làng quê xa xưa miền Bắc, những cây cành nụ xuân chớm hé nhụy, nắng óng ả  như tơ vàng quyện không gian.
Ôi cảnh chứa chan  xuân hòa cùng giọng hát trầm ấm của Sĩ Phú, giọng hát thật êm nhẹ, nhịp nhàng kể lể.
 
"Ngày xưa xuân thắm quê tôi.
Bao nhánh hoa đời đẹp tươi.
Mẹ tôi sai uốn cây cành, vun sới hoa mùa xinh xinh..." 
Xưa Nay hoà nhập, rưng rưng kỷ niệm trào dâng, trong xuân người mẹ hiển hiện tâm trí đầu tiên .
"Thời gian nay quá xa xăm.
Tôi đã xa nhà đầm ấm.
Sống bao xuân lạnh lẽo âm thầm!" 
Bối cảnh không gian, Phạm Đình Chương theo tiếng gọi lên đường, xa nhà đã "sống bao xuân lạnh lẽo âm thầm".
Vắng xa, ông giống người xưa ,"xót nhà huyên quạnh quẽ đã lâu", thương người mẹ già tựa cửa ngóng trông.
"Và xuân thay áo mấy mùa đợi chờ.
Mắt huyên lệ rưng rưng sầu héo đến bao giờ...." 
Người nhạc sĩ tài hoa đã trải nỗi lòng mình qua ý nhạc lời như thơ  chan đầy cảm xúc.
Toàn bộ lời như một bức tranh  ngoại cảnh hòa cùng hồn người thật ăn ý.
Người nghe tới đâu thấm tới đó, thấm mãi cho tới khi dòng nhạc đã ngưng khi nào không hay.
VCH cảm nhận điều này, xen những hình chụp có tâm hồn mình trong đó để cố hoà cùng ý nhạc lời buồn như thơ Phạm Đình Chương.
PPS thật linh hoạt, cảnh sắc toát ra hơi xuân trong sáng vô ngần.
Những con đường, những phiên chợ xuân nơi đầu làng dưới gốc cây, những thiếu nữ yếm thắm quai thao xinh tươi.
Những hàng cau già cao vút thách đố tang thương cùng năm tháng chơ vơ quạnh quẽ dọc ao hồ vắng lặng, hiu hắt làm sao!
Có cả mây ngang phủ núi Tần Lĩnh của kẻ đi xa trở về không biết phương hướng nhà xưa của mình nơi nao! 
Lắng đọng nghe giọng Sĩ Phú, ngắm nhìn hình VCH, "Xuân Tha Hương" quả thật buồn, nhất là trong tiết trời đông buốt giá, đã sống xa quê bao năm mòn mỏi trông chờ.... 
Xin cám ơn Vũ Công Hiển, người luôn muốn mang vẻ đẹp tâm hồn đến cho bằng hữu.
TNT
 
*****
Xin bấm vào link:
Xuân Tha Hương - Sĩ Phú - VCH
https://www.youtube.com/watch?v=w88BC9o3zWg&list=PLeyn-OuH9Xr8oGJAXDv69zo8LvMy9FePo
 
___________________________________
 
  Sĩ Phú

..  khi nghe hung tin Sĩ Phú đột ngột qua đời, tôi bàng hoàng rung động. Cả một dĩ vãng êm đềm bỗng sống dậy mãnh liệt trong lòng tôi. Cả cuộc đời, nhất là ở lứa tuổi của chúng tôi, không ai mà không yêu tiếng hát Sĩ Phú. Giọng ca quý phái ấy, rất truyền cảm trữ tình ấy, êm đềm như tơ lụa, ngọt ngào như dòng nước mát đã chảy vào tim và làm rung động biết bao tâm hồn của những người yêu tình ca. Chúng tôi đã sống, và cùng trưởng thành với giọng ca tuyệt vời của Sĩ Phú. Anh đã là một phần đời của chúng tôi. Anh là người chắt chiu gìn giữ những kỷ niệm và trao trả những thân tình ấy lại cho chúng tôi bằng tiếng hát thật ngọt ngào, đầm ấm, ru lòng người của anh. Đã bao nhiêu năm trôi qua, nhưng tiếng ca của anh mãi mãi vẫn còn lắng đọng trong tim tôi. Tuy chưa một lần gặp mặt anh, chưa từng cùng anh dạo bước rong chơi, nhưng sao lòng tôi .mãi vương vấn…
"Vĩnh biệt Sĩ Phú, vĩnh biệt anh bằng bài hát thay cho tiếng lòng. Để muôn đời lưu luyến mãi những gì anh hát!"
HQ - San Jose
__________________________________
Nhớ Phm Đình Chương - PHAN LC PHÚC

Nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương ra đời tại Hà Nội ào năm 1929, trong một gia đình nghệ sĩ, học Trường Bưởi, tản cư vào Thanh Hóa sau Toàn Quốc Kháng Chiến chống Pháp 1945. Sáng tác nhạc trước tuổi 20, ông là tác giả những ca khúc dân tộc như Tiếng Dân Chài, Ly Rượu Mừng, Hội Trùng Dương, hay những sầu khúc nhạc phổ thơ như Nửa Hồn Thương Đau, Mắt Biếc, Mộng Dưới Hoa, Người Đi Qua Đời Tôi ...
Tới Hoa Kỳ được ít năm, Phạm Đình Chương từ trần tại Quận Cam, California vào ngày 13 tháng 7 năm Tân Mùi, nhằm ngày 22 tháng 8 năm 1991. Bài dưới đây của nhà bỉnh bút Phan Lạc Phúc, hay Ký giả Lô Răng, một bạn học của nhạc sĩ từ Trường Bưởi, được viết ngay sau khi có tin buồn.

Chuông điện thoại réo lên trong đêm khuya. Một cú phone từ bên kia Thái Bình Dương, từ Mỹ báo tin: "Phạm Đình Chương đã mất rồi, Hoài Bắc không còn nữa". Tôi đặt phone xuống mà thấy đêm khuya thêm vắng lặng mênh mông. Ở cái tuổi mình, trên 60, cái ranh giới tử sinh thật là mờ ảo, ở đấy rồi đi đấy, còn đấy mà mất đấy. Thành ra ít lâu nay, tôi cứ phải làm một con tính trừ thê thảm. Mấy năm trước mất Thanh Nam, rồi Vũ Khắc Khoan, bây giờ Phạm Đình Chương - Hoài Bắc. Già thì càng cần có bạn, mà bạn già thì càng ngày càng thưa thớt. Tôi đi cải tạo 10 năm, rồi sống nín thở trên 6 năm, vừa mới lặn ngòi ngoi nước sang được đến đây thì bạn đã đi vào tịch mịch. Bạn ta Phạm Đình Chương đã đi thật rồi, một người viết ca khúc tầm cỡ của Việt Nam đã mất, ngôi sao bản mệnh của Ban Hợp Ca Thăng Long đã tắt.
 
Tôi chơi với Phạm Đình Chương đã lâu, vào khoảng năm 1942 - 1943, hồi tụi tôi vừa mới lớn lên. "Khi mới lớn tuổi mười lăm, mười bảy. Làm học trò mắt sáng với môi tươi"(1). Tôi biết Chương trong ngày hội học sinh Trường Bưởi, trong những buổi cắm trại ở chùa Trầm, chùa Thày, Tây Phương Hoàng Xá (2).
Ngày ấy, chúng tôi say mê hát "Quê nhà tôi chiều khi nắng êm đềm" (3), "Này thanh niên ơi, đứng lên đáp lời sông núi" (4) và Chương đã là một tay đàn giọng hát khá nổi của học sinh Hà Nội. Nhưng mà Chương có hai người anh nổi tiếng: anh Phạm Đình Sĩ, một cây "kịch" và anh Phạm Đình Viêm, một cây "tenor". Chương còn có một người chị trứ danh, chị Thái Hằng, hoa hậu "bất thành văn" của suốt một miền Bạch Mai - Phố Huế. Còn người em út của Chương, Thái Thanh thì lúc ấy Thái Thanh còn nhỏ, đang còn học tiểu học, còn là một nụ hoa. Phải đợi đến thập niên '50, bông hoa Thái Thanh mới bắt đầu rực rỡ và tiếng hát Thái Thanh mới được lên ngôi.
Hà Nội ngày ấy tuy được mệnh danh là Hà Thành hoa lệ hay là Hà Nội của ba mươi sáu phố phường nhưng thực chất nó là tỉnh nhỏ - người ta biết nhau cả, trực tiếp hay gián tiếp. Và tỉnh nhỏ nó còn có tục lệ riêng của nó. Thế hệ tiền bối ở Hà Nội có tiêu chuẩn "phi cao đẳng bất thành phu phụ". Thời tụi tôi thì cái standard về một đấng trượng phu nó nôm na và thực tiễn hơn: "Đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu". Phạm Đình Chương xét ra hội đủ những điều kiện ấy: Học trò Trường Bưởi, người cao ráo sạch sẽ lại là cậu út trong một gia đình nổi tiếng. Lại còn đàn ngọt, hát hay, còn là ca trưởng của học sinh trong những dịp hội hè, cắm trại. Trong con mắt tôi, một anh học trò nhà quê ra tỉnh học, từ thời áo dài mũ trắng thì Phạm Đình Chương tư cách quá.
 
Thời ấy, Nhật đã vào Đông Dương. Thế Chiến thứ hai đang hồi quyết liệt, bom Mỹ dội xuống đùng đùng. Các thành phố phải "phòng thủ thụ động", các trường học phải đi xa hoặc dời về miền quê. Đang học mà có còi báo động là nghỉ; học trò kéo nhau ra các khu cây cối um tùm, hoặc bờ đầm, bờ sông tạm lánh. Đây là dịp tốt cho một số công tử Hà Nội, trong đó có Chương, về thăm quê cho biết sự tình. Về quê thì tiện cho tôi quá, tôi có nhiều trò: lội sông, câu cá, bắn chim. Hoặc là sẵn xe đạp, tụi tôi rủ nhau đi cắm trại ở những thắng cảnh gần Hà Nội như chùa Thày, chùa Tây Phương, động Hoàng Xá. Những thắng cảnh này đều nằm trong vùng quê tôi (phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây) nên tôi thuộc nằm lòng. Đến chùa Tây Phương thăm ông Phật nhịn ăn mà mặc, ông nhịn mặc mà ăn, ông Phật tai dài đến gối. Đến động Hoàng Xá tôi biết nhũ đá nào kêu thanh, nhũ đán nào kêu đục, bắn một phát súng cao su lên vòm đá là dơi bay tán loạn một vùng. Đến chùa Thày (Sài Sơn) thăm chùa Cả dưới chân, chợ Trời trên đỉnh núi rồi thăm hang Cắc Cớ nơi có dấu chân ông Từ Đạo Hạnh còn in. "Hội chùa Thày vui thay Cắc Cớ, Trai không vợ nhớ hội chùa Thày - Gái không chồng nhớ ngày mà đi". Chương ơi, Chương còn nhớ ngày hội về quê mình không? Còn nhớ con đê Hạ Hiệp không? Mới đó mà đã 50 năm rồi, đã nửa thế kỷ qua rồi. Chương có nhớ cũng không thể nào về thăm được nữa. Bạn ta đã thành người thiên cổ mất rồi.
 
Phạm Đình Chương rất yêu miền Quốc Oai - Sơn Tây vì không những nó là một miền thắng tích mà nơi đó còn là quê ngoại của Chương. Bà thân của Chương ở Hạ Hiệp, cách làng tôi chừng hai vạt cánh đồng. Chương tự nhận mình là người Sơn Tây và trong những năm đó Chương về thăm quê ngoại rất thường. Anh công tử Hà Nội và anh học trò nhà quê càng có dịp gần gũi nhau hơn Khi mùa Xuân đã cạn ngày, hội hè đã vãn, những cây gạo miền Bương Cấn đã tưng bừng nở đỏ thì cũng là lúc chim tu hú lảnh lót gọi hè về trong rặng vải bên sông. "Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc" (5), con sông này ngoài mùa ngâu nước lũ, còn quanh năm nước chảy lặng lờ. Học trò tụi tôi lại đạp xe qua sông về rặng vải, vừa tránh bom rơi đạn lạc ở thành phố, vừa cắm trại vừa ôn thi.
 
Nhưng đến năm 1945, thanh niên như Chương và tôi không còn đầu óc nào mà học hành thi cử nữa. Bao nhiêu vấn đề trọng đại vừa ập đến trong đời: hàng vạn, hàng triệu người chết đói. Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3. Chính phủ Việt Nam đầu tiên ra đời. Thế chiến II kết liễu Đức - Ý - Nhật đầu hàng. Quân Tàu Tưởng kéo sang Chiến Khu Việt Minh. Đổi đời. Cách Mạng Tháng 8 Quân đội Pháp trở về, thanh niên đua nhau đi dạy bình dân học vụ, đi khất thực, đi biểu tình. Chúng tôi say mê hát "Lên Đường", lao đầu vào một cuộc chơi mới không kém phần lãng mạn: đòi độc lập cho đất nước. Chúng tôi là Tự vệ Thành Hà Nội. Chúng tôi là Trung đoàn thủ đô. Như lớp lớp thanh niên cùng lứa, Phạm Đình Chương và tôi khoác ba lô lên đường kháng chiến.
 
Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
(Quang Dũng)
 
Những năm đầu kháng chiến (1948, 1949, 1950) có những thị trấn mọc lên vội vã. Khu 10 Việt Bắc có thị trấn Cây Đa Nước Chảy; liên khu 3 có Đồng Quan, Cống Thần, Chợ Đại; vào khu 4 Thanh Hóa có chợ Rừng Thông. Đây là nơi dân tản cư tứ xứ kéo về sinh hoạt, đổi trao, mua bán tạo thành những Hà Nội nhỏ. Mấy anh lính cậu ngày nào bây giờ sốt rét, xanh rớt như tàu lá, mắt trợn trừng, tóc rụng nhưng đêm đêm vẫn cứ mơ về Hà Nội. Và được dịp là phải về thăm các thị trấn mới này cho đỡ nhớ ...
 
Đầu mùa đông năm 1948, tôi khoác ba lô, đổ bộ lên Chợ Đại tìm ít thuốc nivaquine chống sốt rét. Trời mưa nhớp nháp, những căn nhà tranh lụp sụp kéo dài. Chợt ở đầu đường, hiện ra một quán nước thanh bai, lịch sự mang một cái tên khá là kiểu cách"Quán Thăng Long". Ở trên vách quán, có treo song song mấy cây đàn nguyệt và một cây thập lục. Ở dưới, bên khay trà tỏa khói có hai vị trưởng thượng đang ngồi đối ẩm. Hai vị này tôi biết: ông thân của Phạm Đình Chương và cụ N. T. Đức, một danh cầm của toàn miền Bắc. Loạn ly, binh lửa mà hai vị tri âm, tri kỷ vẫn nhàn nhã phong lưu. Chiến tranh ở chỗ nào khác chứ ở đây Thăng Long Đông Đô, Hà Nội là vẫn cứ phải đường hoàng, cốt cách. Cốt cách như chị Thái Hằng đang ngồi trước quầy hàng, đi tản cư mà vẫn mang nguyên chiếc kiềng chạm bằng bạc của một thời khuê các, như Thái Thanh cô em nhỏ mới bắt đầu thiếu nữ đang nghiêm chỉnh ngồi đan.
 
Người vui nhất khi tôi được gặp là bà thân của Chương. Bà hỏi thăm "quê mình bây giờ Tây nó đánh đến đâu rồi". Bà cho biết anh Phạm Đình Sĩ có lẽ kẹt, chưa có tin tức gì. Anh Phạm Đình Viêm (Hoài Trung) còn đang đi ban kịch Giải Phóng, chuyên hát bài"con vỏi con voi" và "con mèo trèo cây cau" nhạc hài hước của Nguyễn Xuân Khoát. Còn Phạm Đình Chương thì công tác ở liên khu 3, chuyên về sáng tác ca khúc. Bà khoe là Chương vừa mới được giải thưởng về bài hát "gì mà có con cò bay lả bay la".
 
À ra thế bạn ta anh công tử Hà Nội đang đưa ca dao vào nhạc mới. Chương, Chương, có phải cánh cò ấy là cánh cò bay qua rặng vải triền sông Đáy? Còn cánh đồng nào rào rạt lúa thơm mềm (6) có phải là cánh đồng Bương Cấn khi chúng ta "Lên núi Sài Sơn ngóng lúa vàng" (7).
 
Tôi nhớ mãi lời bà thân của Chương khi đưa cho tôi gói thuốc đựng chừng 10 viên nivaquine: "Giữ lấy mà dùng. Dạng các cậu không được phát thuốc này đâu". Đúng như thế, dạng "tạch, tạch, sè" (tiểu tư sản) như Chương và tôi thì dù sốt rét vàng người, rụng tóc cũng chỉ được phát thuốc ký ninh pha loãng là cùng. Nivaquine thuốc mới, công hiệu, đắt tiền chỉ đủ dùng cho "tổ chức" mà thôi. Thực tế nó là như vậy nên ngoài một số anh em đã "áo bào thay chiếu ..." (8) còn đa số dân tạch tạch sè là kẻ trước người sau "dinh tê" về Hà Nội. Những va chạm với thực tế làm cho giấc mơ tuổi trẻ lụi tàn, cuộc chơi lãng mạn đầu đời đã trở thành một nỗi đam mê vô ích. Tôi về cuối năm 49 còn Chương và gia đình hồi cư năm 51.
 
Gia đình Chương kỳ này có thêm một nhân vật lừng danh: Phạm Duy. Năm 1949, chiến tranh lan đến vùng chợ Đại và quán Thăng Long phải dời vào khu 4, vùng trấn nhậm của viên tướng Mạnh Thường Quân Nguyễn Sơn. Ở đây Thái Hằng đã trở thành bà Phạm Duy, Thái Thanh vừa lớn để bước chân vào làng ca nhạc. Cả gia đình Chương phục vụ trong phòng văn nghệ của một đại đoàn. Quán Thăng Long không còn nữa nhưng tiền thân của ban Hợp Ca Thăng Long đã được định hình. Tôi cũng không còn nhớ rõ gia đình Phạm Đình Chương về trước hay sau cái chết của viên tướng đầy huyền thoại Nguyễn Sơn. Chỉ biết là ban Thăng Long vào thành nhưng không ở lại Hà Nội mà vô thẳng miền Nam lập nghiệp.
 
Năm 1952 tôi cũng vào Nam, học nghề lính tại trường Thủ Đức. Những ngày cuối tuần ra Sài Gòn chơi, thấy đầu đường góc phố chỗ nào cũng có biểu ngữ, bích chương, quảng cáo ban Hợp ca Thăng Long. Báo hàng tuần, hằng ngày đều đăng hình ảnh, lịch trình diễn của Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung, Hoài Bắc, Phạm Duy. Ban Hợp Ca Thăng Long đang rực sáng, những thành viên của nó đang được mến yêu. Người Sài Gòn vốn bộc trực "yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét" mà đã yêu thì yêu hết mình; chương trình của Ban Thăng Long trên đài phát thanh rất được lắng nghe - trình diễn của Ban Thăng Long lại càng ăn khách. Ngưới ta mua "giấy" báo xem thật đông, vỗ tay thật nhiều nhưng còn chưa "đã". Buổi trình diễn xong rồi, người ái mộ còn ở lại để tìm cách đến thật gần, nhìn thật kỹ hay nếu có thể bắt cái tay, đụng cái chân vào nghệ sĩ, tài tử thần tượng của mình. Người miền Nam ái mộ ồn ào như thế, dễ thương như thế.
 
Trước sự tán thưởng nồng nhiệt ấy tôi có lúc đã tự hỏi: "Vì sao mà trong một thời gian chưa đầy hai năm, Ban Hợp Ca Thăng Long lại lẫy lừng đến vậy?" Tôi vốn dốt về nhạc lý, thẩm âm cũng tầm thường thôi nên không dám đưa ra ý kiến có tính cách kỹ thuật nào. Bằng vào cái cảm quan dân dã của mình tôi nhận thấy thực chất của Ban Hợp Ca Thăng Long nằm trong một chữ vui. Vui rộn ràng khi nghe tiếng hát chen tiếng ngựa hí(Ngựa Phi Đường Xa), vui lâng lâng khi nhìn cánh cò bay lả bay la trên đồng lúa chín vàng (Được Mùa), vui đầm ấm khi nghe tiếng hò dô vang trên sóng nước (Tiếng Dân Chài), vui thấm thía nghẹn ngào khi người mẹ già cầm ly rượu uống mừng người con cả vừa mới trở về (Ly Rượu Mừng). Cái vui của nhiều cung bậc, cái vui đã được cách điệu, nên nó dễ dàng thấm đượm lòng người.
 
Đồng bào miền Nam xưa nay thừa thãi điệu buồn nên trong cái vô thức tập thể nó thiếu một niềm vui khỏe mạnh. Ban Hợp Ca Thăng Long phần nào đã đáp ứng được niềm khao khát đó. Ấy là chưa kể đến một yếu tố đầy cảm tính rất phù hợp với miền Nam: tất cả thành viên ban hợp ca đều là anh em trong một nhà. Một gia đình tài hoa quá. Một sự kết hợp đẹp đẽ quá. Nhất là sau đó ít lâu, ban hợp ca Thăng Long lại có thêm một thành viên mới: Khánh Ngọc, một bông hoa hương sắc của miền Nam, Hoài Bắc - Khánh Ngọc một lứa đôi nghệ thuật. Ban Hợp Ca Thăng Long càng thêm sung sức.
 
Nhưng phải đợi đến đầu năm 1954, Ban Hợp Ca Thăng Long mới lên đỉnh cao thành tựu của mình. Năm ấy ban Hợp ca cùng với "quái kiệt" Trần Văn Trạch, thành lập ban Gió Nam ra công diễn ở Hà Nội. Lúc ấy tôi đang là thương binh nằm nhà thương Võ Tánh. Nghe báo chí Hà Nội tán thưởng Nam Phong chi huân hề - Ngọn gió Nam mát lành thay. Nghe dân chúng Hà Nội xôn xao hâm mộ quá, tôi sốt ruột phải trốn nhà thương một buổi ra xem Gió Nam trình diễn.
 
Nhưng mà ra chậm hết vé mất rồi. Nhà Hát Lớn Hà Nội không còn chỗ. Tôi lững thững đứng ngoài nghe tiếng vỗ tay dồn dập từng hồi như sấm mà ruột nóng như lửa đốt. May quá gặp Ngọc Chả Cá một cây công tử Càn Long Hà Nội tôi mới được vào (bây giờ bạn ở đâu hở Ngọc?).
 
Người Hà Nội xưa nay khụng khiệng ít khi nào nồng nhiệt thế đâu. Nhưng mà lần này, người Hà Nội bị ban Hợp ca Thăng Long chinh phục hoàn toàn. Trước đó tân nhạc ở Hà Nội chỉ là một bà con nghèo trước cải lương, tuồng kịch ... chỉ đảm nhiệm được vai trò phụ diễn trước khi mở màn hoặc giữa hai lớp kịch mà thôi. Bây giờ Ban Hợp ca Thăng Long với một chuỗi ngôi sao nhạc mới đã chiếm lĩnh sân khấu suốt hai tiếng đồng hồ liên tục. Khán giả Hà Nội được thưởng thức một chương trình nhạc mới tân kỳ sinh động tràn đầy dân tộc tính. Đây là một bước trưởng thành của tân nhạc và trở nên khuôn mẫu cho những đại nhạc hội sau này.
 
Buổi trình diễn vừa kết thúc, toàn ban Gió Nam ra chào khán giả. Đèn rực sáng. Những bó hoa trao cho những nghệ sĩ tài năng. Hoài Bắc Phạm Đình Chương giơ cao bó hoa vẫy vẫy, nụ cười rộng mở. Chương không thể nào biết rằng trong số khán giả vô danh ấy, có một người bạn cũ của Chương đang vỗ tay kịch liệt.
 
Thập niên 50 là thời kỳ rực rỡ nhất của ban Hợp ca Thăng Long. Thời gian này cũng là lúc Phạm Đình Chương sáng tác đều đặn nhất. Những bài ca chủ lực của ban Hợp ca Thăng Long như Tiếng Dân Chài, Hội Trùng Dương, Ly Rượu Mừng ... đều xuất hiện trong giai đoạn này.
 
Không biết tôi có chủ quan không khi nghĩ rằng Phạm Đình Chương trong giai đoạn này vẫn mang dáng vẻ một anh học trò mới lớn, tâm hồn trong sáng như gương, con người, thiên nhiên đều là bè bạn. Ngựa phi đường xa thế nào cũng tới, leo núi mệt nhọc rồi cũng đến nơi, đồng ruộng thì đầy lúa thơm mềm, con sông thì đầy trăng và đầy cá. Thế vẫn còn chưa hết, Chương còn rót một ly rượu mừng, mừng khắp nhân gian. Hãy lắng nghe đi, có một nụ cười đâu đó, khi nhẹ nhàng phảng phất, khi trào lên như tiếng reo vui. Cũng có lúc Phạm Đình Chương nhắc đến điệu buồn; giọt lệ rưng rưng chờ mong bóng con của người mẹ già hay nỗi khổ của đồng bào miền đất cày lên sỏi đá:
 
Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi
Mùa đông thiếu áo (9) ...
 
Nhưng liều lượng của điệu buồn trong nhạc Phạm Đình Chương thời kỳ này rất ít so với niềm vui ào ạt, chỉ như một đối điểm (contrepoint), chỉ như màu đen làm nổi lên sắc trắng mà thôi. Mà điệu buồn cũng được nhắc đến bằng tấm lòng nhân ái, tâm hồn Chương là vậy, mở ra, hướng ngoại, trong sáng vui tươi. Chương không phải là người hướng nội, đi tìm thú đau thương trong những kiểm tra, tự vấn nơi mình. Đó là thực chất nhạc Phạm Đình Chương thời kỳ đầu cũng là đặc điểm của Ban Hợp ca Thăng Long ...
 
Giai đoạn sáng tác thứ hai của Phạm Đình Chương bắt đầu từ một kỷ niệm buồn: Ngày Khánh Ngọc rời xa vào khoảng cuối thập niên '50. Sau đó Phạm Duy, Thái Hằng cũng tìm về hướng khác. Ngôi biệt thự ấm cúng đường Bà Huyện Thanh Quan không người ở. Hoài Bắc, Thái Thanh và gia đình dọn về một căn nhà nhỏ đường Võ Tánh (Frères Louis cũ). Chính tại ngôi nhà này tôi thường đến bầu bạn với Phạm Đình Chương cùng với Thanh Nam, Mai Thảo. Tụi tôi đến "hầu bài" bà thân của Chương để được ăn những bữa cơm nhớ mãi: canh cua rau đay, cà pháo, đậu rán ...
 
Lúc này, hình như Chương muốn ra khỏi vùng hào quang sáng chói của một ca sĩ thời danh để được sống bình thường nếu không muốn nói là ẩn dật. Đang ăn diện kiểu cách, Chương ăn vận xuề xòa, đi dép không quai lẹt xẹt, chiếc xe hơi dài thòng Studebaker đã được bán đi. Nụ cười kiểu jeune premier đã tắt và đặc biệt Chương để một hàm râu mép chàm ràm, rậm rịt. Lúc này, tụi tôi có một tên mới để gọi Chương: Râu Kẽm. Râu Kẽm đang phóng túng hình hài, ít ăn ít nói hẳn đi, mà có nói cũng thường hừ một tiếng giọng mũi. Một nhát chém hư vô đã làm thay đổi Phạm Đình Chương.
 
Ban Hợp ca Thăng Long, với sự phân liệt như thế tưởng đã rã đám. Nhưng đầu những năm '60, ban Thăng Long gượng dậy với Hoài Trung - Hoài Bắc - Thái Thanh. Ban Thăng Long sống lại kỳ này, tuy vẫn được tán thưởng nhưng đó chỉ là cái bóng của chính mình. Phạm Duy đã mang nguồn âm sắc lung linh và trầm lắng của dân tộc đi xa, còn tiếng reo vui chan hòa và nhân ái của Phạm Đình Chương cũng không còn xuất hiện. Trong thời kỳ này ban Hợp ca Thăng Long có trình làng một tác phẩm rất được hoan nghênh: Bài Ô Mê Ly. Nhưng bài hát vui tươi này không phải của Chương mà của một tài danh khác: Văn Phụng.
 
Thời kỳ hướng ngoại, tâm hồn sáng tác rõ như gương, tha nhân và ngoại giới đều là bè bạn của Chương đã khép lại rồi. Tiếng cười đã tắt. Thời kỳ này là của đau thương và tiếng khóc. Nhưng khóc than rên rỉ không phải là nghề của chàng. Như đã nói, Chương không phải là người hướng nội, gặm nhấm đau thương làm thứ giải sầu. Nỗi đau thì có sẵn và Chương muốn giữ một mình nhưng lời oán hận thì không. Cho nên những khúc bi ca sau này như Nửa Hồn Thương Đau, Người Đi Qua Đời Tôi, Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội, Chương đều mượn lời của Thanh Tâm Tuyền, Trần Dạ Từ, Hoàng Anh Tuấn ... Chương làm công việc phổ thơ, qua lời của người để phần nào nói lên tâm sự của mình. Những ca khúc này có vị trí riêng của nó, rất được yêu thích qua giọng hát Thái Thanh, nhưng đối với Chương nó vẫn như một sự "Chẳng đặng đừng". Về bề ngoài, hai giai đoạn sáng tác của Chương có vẻ đối nghịch nhau nhưng nhìn chung nó vẫn thống nhất trong tâm hồn nhân ái của tác giả.
 
Nói cho ngay từ thập niên '60 trở đi, việc ca hát đối với Chương cũng là một sự "chẳng đặng đừng". Thì cũng phải có công ăn việc làm như người ta, ngay cả việc trông coi phòng trà ca nhạc "Đêm Màu Hồng" Chương cũng làm chơi chơi, cho có. Nhưng chính cái vẻ chơi chơi, phóng khoáng ấy nó lại hợp với khung cảnh Đêm Màu Hồng. Đây là một phòng trà gợi nhớ. Nhớ về những bài hát xa xưa, về một thuở mộng mơ đã tắt, về một khung cảnh Việt Nam đã xa, về một ban Hợp ca Thăng Long đã tàn. Phạm Đình Chương đi từ bàn này sang bàn khác cụng ly cùng người mộ điệu hoặc lên sân khấu giới thiệu một bài hát vừa được yêu cầu. Cái giọng có mang hơi rượu cùng với nụ cười nhếch mép đã tạo nên không khí Đêm Màu Hồng vì phần lớn khách đến đây đều là thân hữu.
 
Chúng tôi, những buổi phùng trường tác hí là vào khoảng 9, 10 giờ đêm lại tà tà kéo đến Đêm Màu Hồng. Bạn bè có chỗ ngồi riêng, giá biểu riêng. Khẩu vị như thế nào thì chủ quán biết rồi. Vũ Khắc Khoan thì phải Con Thuyền Không Bến, lúc nào cao hứng lại còn phi lên sân khấu mà ngâm "Hồ Trường, Hồ trường ta biết rót về đâu". Thanh Tâm Tuyền thì phải Mộng Dưới Hoa. Thanh Nam thì Cô Láng Giềng. Hôm nào có mặt tôi, Thái Thanh lại hỏi: Biệt Ly hay Buồn Tàn Thu đây ông? Có bữa Râu Kẽm cảm khái quá liền ôm đàn guitare mà hát một mình (ít khi lắm). Hát tiếng Tây "Un jour si tu m'abandonnes" (Ngày nào, nếu em bỏ ta). Có khi vui anh vui em, Chương bỏ luôn phòng trà cùng Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo kéo lên "Quang Minh Đỉnh".
 
Trong những năm "Đêm Màu Hồng" tôi thường cố giữ một nền nếp. Cứ đêm 30 Tết gần Giao Thừa là tôi kiếm một bó hoa thường là hoa hồng đến Đêm Màu Hồng tặng Thái Thanh. Cô em nhỏ ngày nào đi kháng chiến bây giờ trở thành tiếng hát vượt thời gian. Có lần tôi nhận được cặp bánh chưng của bà thân Chương và Thái Thanh gửi cho. Tôi cầm cặp bánh mà tưởng như vừa nhận món quà Tết từ quê hương phủ Quốc gửi vào.
 
Những lúc ấy, năm mới sắp sang, năm cũ sắp hết mà tôi vẫn thấy Hoài Bắc, Mai Thảo ngồi từ từ uống rượu,uống cho say, uống cho quên uống không không mệt mỏi. Tôi chợt nhớ một câu của Mai Thảo "Chúng tôi thân với nhau trong một tình thân thiết rất buồn rầu".
 
Buổi cuối cùng tôi gặp Phạm Đình Chương đâu vào khoảng tháng 5 năm 1975 khi "đứt phim" được chừng hơn 1 tháng. Gặp nhau tại nhà Thanh Tâm Tuyền bên Gia Định có cả Mai Thảo nữa. Mai Thảo mang thêm một chai rượu vang còn sót lại. Các bạn có ý tiễn đưa tôi và Thanh Tâm Tuyền sắp sửa đi cải tạo. Bữa rượu im ắng thê lương.
 
Rồi Chương và tôi đạp xe ra về trươc. Đạp toát mồ hôi đến quãng Trần Quốc Toản thì mỗi đứa mỗi đường. Chương ngừng lại và tôi cũng ngừng theo. Chương nắm lấy tay tôi vẻ bùi ngùi mà nói: "đi nhé". Tụi tôi xưa nay ít có cái trò nắm tay, nắm chân như vậy, nhìn nhau một cái là đủ rồi. Chừng như Chương thương cảm cho số phận tôi trước việc đi cải tạo, một chuyến đi không biết bao giờ về. Nhưng bây giờ, 16 năm sau, tôi đã đi cải tạo về rồi, Chương lại làm một chuyến đi không bao giờ trở lại. Đi nhé! Ngàn năm vĩnh biệt Phạm Đình Chương.
Phan Lạc Phúc
 
******
 
Xin bấm vào link:

Xuân Tha Hương - Sĩ Phú - VCH
https://www.youtube.com/watch?v=w88BC9o3zWg&list=PLeyn-OuH9Xr8oGJAXDv69zo8LvMy9FePo