Friday, October 28, 2016

Nhà thờ Giáo xứ Vinh Thủy

• 1955, dừng chân tại vùng đất mới, song song với công tác định cư, chủ chăn và giáo dân tiến hành dựng một ngôi nhà thờ, một nhà xứ và nhà trường bằng gỗ và các vật liệu nhẹ (năm 1965 chúng được tái thiết hoàn toàn bằng vật liệu nặng). Tất cả đều tọa lạc trên đồi cát cao gần bờ biển, khung cảnh khá thơ mộng (tức khu vực bờ hồ Vĩnh Thủy). Vì lẽ đó mà khi xưa người ta vẫn quen gọi tên giáo xứ là Vĩnh Thủy (hợp vần với một giáo xứ khác cách đó không xa là Vĩnh Phú, nay là giáo xứ Vinh Phú). Những người đương thời vẫn thường kể lại cho các thế hệ sau về ngôi nhà thờ này với biết bao hoài niệm.
• Năm 1964, trước khi về hưu dưỡng, linh mục Lê Trọng Khiêm đã xây thêm ngôi nhà thờ thứ hai nằm sát tỉnh lộ 9 (nay là đường Thủ Khoa Huân nối trung tâm Phan Thiết với Mũi Né). Cả hai nhà thờ được nối liền bằng một con đường mòn rợp bóng dừa (nay là đường Phan Trung) trước Lao Xá.
• Sau 1975, khu vực bờ hồ Vĩnh Thủy bị Nhà nước trưng dụng để xây khách sạn Vĩnh Thủy (nay là quần thể Sân Golf-Khách sạn Novotel). Nhà thờ đầu tiên không còn.
• Kể từ 1978, ngôi nhà thờ trên tỉnh lộ 9 trở thành trung tâm sinh hoạt phụng vụ của giáo xứ đến ngày nay.
• Năm 1991-1992, mặt tiền nhà thờ được tu sửa lại trên nền móng nhà thờ cũ cách tân theo dáng dấp bất đối xứng, khá ấn tượng, độc đáo khi mà truyền thống xưa nay của nhà thờ là đối xứng hai bên. Cung thánh cũng được chỉnh trang cùng với việc xây mới một nhà xứ và một hội trường hai phòng.
• Kể từ những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, nhà thờ bắt đầu có sự xuống cấp nhất là phòng mặc áo và không đáp ứng nổi lượng giáo dân đang phát triển.
Từ năm 2004, giáo xứ xây dựng thánh đường mới và cung hiến vào ngày 21 tháng 6 năm 2007. 

 Lược sử Giáo xứ Vinh Thủy

Giáo xứ Vinh Thủy tước hiệu Mẹ Mân Côi được hình thành từ tháng 08.1955, với khoảng 3000 giáo dân gốc giáo phận Vinh thuộc các giáo xứ: Mành Sơn, Vĩnh Yên, Tân Lập, Thuận Nghĩa, Tân Vinh, Tân Lộc (Nghệ An), và một số giáo dân tỉnh Quảng Bình di dân vào Nam sau hiệp định Geneve. 


Vì kế sinh nhai, nên những năm sau đó phần lớn giáo dân lại dời đi nơi khác để làm ăn sinh sống. Đến năm 1967, gần 1000 giáo dân xứ Vinh Hưng đến tạm cư vì chiến tranh, được giáo quyền xác nhập vào giáo xứ. Từng phục vụ: cố linh mục Phanxicô Xaviê Lê Trọng Khiêm (08.1955 - 11.1965), cố linh mục Hồ Ngọc Cai (1956), cố linh mục Nguyễn Quyền (1957), linh mục Trịnh Quang Cảnh (1960); linh mục Gioan Baotixita Lê Xuân Hoa (11.1965 - 8.1973), linh mục Gioan Baotixiata Vũ Đình Hiên (8.1973- 5.1975).
Về cơ sở vật chất, song song với công tác định cư, cha xứ và giáo dân đã tiến hành làm một nhà thờ bằng gỗ, một nhà xứ và nhà trường cũng bằng các vật liệu nhẹ, tất cả đều tọa lạc trên đồi cát cao gần bờ biển. Năm 1965, được tái thiết toàn bộ bằng vật liệu nặng (khu vực này hiện nay đã bị Nhà Nước trưng dụng xây dựng khách sạn Novotel. Năm 1964, trước khi về hưu dưỡng, cố Lm. Lê Trọng Khiêm đã xây thêm một nhà thờ mới nằm sát tỉnh lộ 9 (đường Phan Thiết - Mũi Né). Từ năm 1978, nhà thờ này trở thành trung tâm sinh hoạt phụng vụ của giáo xứ.
Về tinh thần, nhờ vào lòng đạo đức căn bản lâu đời của người giáo dân, cùng với sự lãnh đạo nghiêm khắc về luân lý của các vị chủ chăn, đời sống đức tin ngày càng vững mạnh, từ đó công việc truyền giáo được triển nở một cách tốt đẹp.
Sau biến cố 1975, giáo dân tản mác với nhiều lý do chủ quan cũng như khách quan, số giáo dân có lúc chỉ còn hơn 200 người. Nhờ vào công tác truyền giáo tích cực, thêm vào đó giáo dân các nơi đến định cư sinh sống, hiện nay số giáo dân đã lên đến 565 người nằm trong địa bàn rộng vào bậc nhất trong thành phố Phan Thiết. Mặc dầu số giáo dân thật khiêm tốn, nhưng với bất cứ hoàn cảnh nào, luôn luôn duy trì một Hội đồng Mục vụ 5 thành viên điều hành các hoạt động trong giáo xứ. Hiện nay, các đoàn thể như Phan Sinh Tại Thế, Các Bà Mẹ Công Giáo, Tông đồ Thiếu Nhi, cũng dần đi vào nề nếp và có chiều hướng khởi sắc, nhờ vào sự lãnh đạo của các linh mục trực tiếp cũng như gián tiếp: cha Gioan Baotixita Hoàng Văn Khanh (7.1975 - 8.1975), cha Giuse Đinh Vĩ Đại (8.1975 - 10.1978). Từ 1978 không có chủ chăn chính thức, giáo xứ được bề trên gởi giao cho cha Phó xứ Thanh Hải An phong Nguyễn Công Vinh kiêm nhiệm, đến 02.1988 cha Quản lý Tòa Giám Mục Phanxicô Xaviê Đinh Tiên Đường đặc trách, cha Giuse Nguyễn Kim Anh (11.1992 - 6.1994), cha Phêrô Nguyễn Văn Học (12.6.1994 -31.05.2002), cha JB. Hoàng Văn Khanh (01.06.2002- …).
Về cơ sở vật chất: nhà thờ được tu sửa mặt tiền, cung thánh, đồng thời xây dựng mới một nhà xứ và hội trường 2 phòng trong những năm 1991 - 1992
Với một địa bàn rộng lớn, số giáo dân chỉ chiếm 3,65% dân số, nên công tác truyền giáo được đặt lên hàng đầu. Hằng năm số người dự tòng càng tăng, điều đáng khích lệ là có nhiều hộ gia đình xin tòng giáo hoàn toàn.
Về văn hóa, khoảng 30 em đã tốt nghiệp hoặc đang theo học đại học, 98% các em đều được cha mẹ ý thức cho đến trường.
Chăm sóc người nghèo, già cả neo đơn cũng là một mục tiêu của giáo xứ, hằng năm vẫn duy trì thăm hỏi, ủy lạo bệnh nhân tại bệnh viện trong các dịp đại lễ Giáng Sinh, Phục Sinh, năm vừa qua đã cộng tác với Tòa Giám Mục thực hiện được 18 ngôi nhà tình thương cho những gia đình nghèo, không phân biệt lương giáo.
Hướng về tương lai, giáo xứ vẫn đặt hai trọng tâm là chăm sóc người nghèo và công tác truyền giáo qua đời sống chứng tá và việc làm cụ thể. Về văn hóa vẫn duy trì khích lệ cổ vũ việc mở mang kiến thức cho con em như trước đây đã thực hiện là phát thưởng cho những em có thành tích cao trong học tập vào mỗi cuối niên học. Hy vọng rằng thế hệ trẻ được quan tâm chăm sóc chu đáo hôm nay, là đôi cánh đưa giáo xứ vươn lên vững mạnh hơn trong ngày mai.
Giáo Phận Phan Thiết

....................................................
Giới thiệu Giáo xứ : Vinh Thủy
Giáo xứ Vinh Thủy được hình thành từ tháng 8 năm 1955 với khoảng 3000 giáo dân thuộc các giáo xứ Mành Sơn, Vĩnh Yên, Tân Lập, Tân Vinh, Tân Lộc,Thuận Nghĩa thuộc giáo phận Vinh (Nghệ An) và một số giáo dân tỉnh Quảng Bình di cư vào Nam sau Hiệp định Genève. Sau đó không lâu, phần lớn giáo dân lại đi nơi khác làm ăn, sinh sống. Đến 1967, giáo quyền xác nhập vào giáo xứ gần 1000 giáo dân xứ Vinh Hưng đến tạm cư vì chiến tranh (ngày nay, cái tên “Vinh Hưng” được gọi không chính thức cho khu vực giáo họ Phêrô-Phaolô của giáo xứ).
Có thể nói, người có công lớn nhất đối với giáo xứ là cố linh mục Phanxicô Xaviê Lê Trọng Khiêm (linh mục tiên khởi). Trong hoàn cảnh giáo dân đang lo lắng tìm hướng đi trên miền đất mới đầy lạ lẫm sau một chặng đường dài, ngài đã đảm nhận vai trò là chủ chăn tiêu biểu trong việc giúp giáo dân ổn định tinh thần, bắt tay vào xây dựng đời sống mới. Nhờ vào sự lãnh đạo nghiêm khắc về luân lý của ngài mà đời sống đức tin của giáo dân ngày càng vững mạnh, từ đó công việc truyền giáo được triển nở cách tốt đẹp, khó khăn ban đầu của cuộc sống mới dần được khắc phục.
Những năm sau đó, phục vụ giáo xứ trực tiếp lẫn gián tiếp còn có các linh mục: Hồ Ngọc Cai (1956), Nguyễn Quyền (1957), Trịnh Quang Cảnh (1960), Lê Xuân Hoa - Xuân Ly Băng (11/1956-8/1973), Vũ Đình Hiên (8/1973-5/1975), Hoàng Văn Khanh (7/1975-8/1975), Đinh Vĩ Đại (8/1975-10/1978).
Sau biến cố 1975, giáo dân tản mác với nhiều lý do chủ quan cũng như khách quan, phần lớn là đi lập nghiệp vùng “kinh tế mớI”, số giáo dân có lúc chỉ còn hơn 200 người. Cũng như các giáo xứ khác, các hoat động phụng vụ trong nhà thờ kể từ lúc này đều bị hạn chế (nhà thờ bị đóng cửa vào năm 1978) nhưng nhờ Chúa ban ơn và Mẹ Mân Côi quan thầy trợ giúp, giáo xứ đã vượt qua được những khó khăn đó, khiến đức tin càng được vững mạnh, bằng chứng là nhà thờ giáo xứ sớm được trở lại hoạt động. Năm 1978, không có chủ chăn chính thức, giáo xứ được bề trên gởi giao cho cha phó giáo xứ Thanh Hải (cách giáo xứ khoảng 2km, phần lớn gốc Thanh Hóa và Quảng Bình) Nguyễn Công Vinh kiêm nhiệm. Thời điểm này, nhà thờ Thanh Hải chưa được hoat động trở lại nên ngôi nhà thờ nhỏ bé của giáo xứ đón nhận một lượng lớn giáo dân Thanh Hải lên tham dự Thánh lễ và các nghi thức phụng vụ.
Từ tháng 2, 1988, linh mục Đinh Tiến Đường - quản lý Tòa Giám Mục về đặc trách giáo xứ. Những năm kế tiếp, trong bối cảnh Công giáo đang hòa nhập trở lại với xã hội, địa giới giáo xứ Vinh Thủy mở rộng và nằm trong phường Phú Thủy, một phường rộng lớn và đông dân bậc nhất Phan Thiết (chính vì vậy mà nhiều người dân, kể cả giáo dân thường quen gọi là nhà thờ Phú Thủy nhiều hơn là Vinh Thủy). Với sự năng động trong công việc cũng như ngoại giao của cha, giáo xứ tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Ngài đã ưu ái đặt cho giáo xứ biệt danh “nhà thờ quốc tế” bởi lẽ từ thời điểm này, giáo xứ có sự chuyển biến về chất và lượng, số giáo dân nơi khác đến định cư sinh sống và xin nhập xứ ngày càng tăng.
Từ tháng 11, 1992, linh mục Nguyễn Kim Anh về quản xứ. Ngài tiến hành xây dựng đài Đức Mẹ và khuôn viên, phát triển hội Các Bà mẹ Công giáo. Tháng 6, 1994, linh mục Nguyễn Văn Học về quản xứ. Ban đầu còn có đôi chút khác biệt và cách biệt giữa chủ chăn và đàn chiên, song những năm sau đó dưới sự dẫn dắt nghiêm khắc nhưng linh động của ngài mà giáo xứ đi vào nề nếp trong phụng vụ và sinh hoạt. Trên cơ sở số con em của giáo dân trong và ngoài xứ đang sinh hoạt thường xuyên, cùng với sự thiện nguyện của những người có kinh nghiệm ngày trước, giáo xứ thành lập Xứ đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể với mục đích hướng các em thiếu nhi vào môi trường sống đạo. Trong sự thầm lặng, cha Nguyễn Văn Học vẫn luôn ủng hộ cho phong trào này. Tiếc rằng, vì không có nhân sự nên ngày nay phong trào đang dần chùng xuống.
Cùng thời điểm, giáo xứ xây mới tường thành và vườn hoa trước nhà thờ, cải tạo đài đức mẹ để tạo mỹ quan cho mặt tiến. Giữa năm 2002, sự hưu dưỡng đột xuất của cha Nguyễn Văn Học vì yếu bệnh, giáo xứ đang trong tình trạng “lắng xuống” về mọi mặt vì khuyết chủ chăn. Được bề trên giao phó, linh mục Hoàng Văn Khanh, giám đốc Chủng viện Nicolas của giáo phận về quản xứ ngay sau đó. Ngài bắt tay vào củng cố và phát triển các hội đoàn. Thành lập hội Gia Trưởng và Giới Trẻ. Năng động nhưng nghiêm khắc, dưới sự dìu dắt của ngài, giáo xứ đã phát triển trở lại cách mạnh mẽ. Cùng với sự giúp đỡ của các thầy chủng sinh về giúp xứ, các hội đoàn hoạt động năng nổ và khá hiệu quả. Đời sống tinh thần của giáo xứ tăng lên rõ rệt. Nhiều người xin tòng giáo và nhập xứ.
Các mốc sự kiện:
• 1955, dừng chân tại vùng đất mới, song song với công tác định cư, chủ chăn và giáo dân tiến hành dựng một ngôi nhà thờ, một nhà xứ và nhà trường bằng gỗ và các vật liệu nhẹ (năm 1965 chúng được tái thiết hoàn toàn bằng vật liệu nặng). Tất cả đều tọa lạc trên đồi cát cao gần bờ biển, khung cảnh khá thơ mộng (tức khu vực bờ hồ Vĩnh Thủy). Vì lẽ đó mà khi xưa người ta vẫn quen gọi tên giáo xứ là Vĩnh Thủy (hợp vần với một giáo xứ khác cách đó không xa là Vĩnh Phú, nay là giáo xứ Vinh Phú). Những người đương thời vẫn thường kể lại cho các thế hệ sau về ngôi nhà thờ này với biết bao hoài niệm.
• Năm 1964, trước khi về hưu dưỡng, linh mục Lê Trọng Khiêm đã xây thêm ngôi nhà thờ thứ hai nằm sát tỉnh lộ 9 (nay là đường Thủ Khoa Huân nối trung tâm Phan Thiết với Mũi Né). Cả hai nhà thờ được nối liền bằng một con đường mòn rợp bóng dừa (nay là đường Phan Trung) trước Lao Xá.
• Sau 1975, khu vực bờ hồ Vĩnh Thủy bị Nhà nước trưng dụng để xây khách sạn Vĩnh Thủy (nay là quần thể Sân Golf-Khách sạn Novotel). Nhà thờ đầu tiên không còn.
• Kể từ 1978, ngôi nhà thờ trên tỉnh lộ 9 trở thành trung tâm sinh hoạt phụng vụ của giáo xứ đến ngày nay.
• Năm 1991-1992, mặt tiền nhà thờ được tu sửa lại trên nền móng nhà thờ cũ cách tân theo dáng dấp bất đối xứng, khá ấn tượng, độc đáo khi mà truyền thống xưa nay của nhà thờ là đối xứng hai bên. Cung thánh cũng được chỉnh trang cùng với việc xây mới một nhà xứ và một hội trường hai phòng.
• Kể từ những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, nhà thờ bắt đầu có sự xuống cấp nhất là phòng mặc áo và không đáp ứng nổi lượng giáo dân đang phát triển.
Từ năm 2004, giáo xứ xây dựng thánh đường mới và cung hiến vào ngày 21 tháng 6 năm 2007.
Thông tin chung:
Giáo xứ Vinh Thủy (Gp.Phan Thiết)
Linh mục quản xứ:
Địa chỉ: 332 Thủ Khoa Huân, phường Phú Thủy
Tp.Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận
ĐT: 062-381 2538

Giờ thánh lễ Chúa Nhật:
18h (Thứ bảy)
05h và 17h (Chúa nhật)

Nguồn : VietCatholic

Saturday, October 22, 2016

LỊCH SỬ NƯỚC MẮM

Một chai nước mắm colatura di Alici của Ý   
Dạo này, sau vụ Formosa gây ô nhiễm vùng biển ở Vung Áng, thiên hạ xôn xao về an toàn của nước mắm. Ngay cả nhiều người Việt ở Âu Mỹ còn lo con bò trắng răng...chỉ nhau, học cách sản xuất nước mắm. Nhưng tại gia kiểu này, nghe nói nước mắm hôi nhà, cũng chẳng ngon gì.....
Ngán cho cái mũi vô duyên, 
  Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An.

Nước mắm VN ngon ngọt, thơm dịu là phải từ miền Trung nắng cháy, từ vùng eo bờ biển làm nơi tụ hội của loài cá cơm. Ít nắng như miền Bắc hoặc xuôi xuôi hông đùi trôi tuột cả cá cơm thì ít có mắm ngon. Nước mắm Nghệ An, Phan Thiết....ngon nhất nước. Phú Quốc hải đảo vớt vát chặn cuối cũng có mắm ngon hạng nhì?.
Nước mắm cứ nghĩ là từ Đông Nam Á như VN là chính, thực ra đã có từ lâu, một hoặc hai thế kỷ trước Công nguyên. VN mình chỉ học lóm cách làm nước mắm từ Thế kỷ thứ 5 không những bền Bỉ dùng nêm nếm đồ ăn, còn pha nước chấm đến bây giờ. Bầy mâm cúng gia tiên, thường phải có một chén nước mắm mới  long trọng?, lỡ tay làm sánh đổ...cũng chẳng sao, miễn có đủ thì các cụ mới ngon miệng được?.
Dân Việt mình có vẻ thủ cựu, mấy nước Đông Nam Á kia đa phần chỉ dùng nước mắm để nêm đồ ăn. Tầu, Nhật thì vào thế kỷ 15 biết cách ủ
đậu nành làm nước tương thì chỉ ăn xì dầu mà bỏ nước mắm vì chê hôi?.
Nước mắm bắt đầu xuất hiện ở vùng Carthage sát biển, đầu mỏm phía Bắc của Châu Phi, ngày nay là vùng của những nước Tunisia.... Rồi truyền qua những vùng của Đế quốc Byzantium, Rome. Nước mắm của họ gọi tên là Garum, chế bằng cách lấy ruột cá lớn, cá nhỏ...trộn muối, rồi ủ vài tháng chắt lấy nước cốt. Giờ bên Âu Châu lại ít dùng Garum nước mắm nêm nếp đồ ăn, mà thay thế bằng Maggi. Chỉ ít nơi còn sản xuất nước mắm!.
Giờ nếu lo nước mắm nhiễm Formosa, thì đặt mua vài chai ở Ý, hoặc ở Nhật... cho chắc ăn?. LVK             
Chai nước mắm ishiru của Nhật

Đế chế nước mắm Pha Lê
Nhắc đến gia vị nêm nếm của Việt Nam nói riêng và của khu vực Đông Nam Á nói chung, ai cũng nghĩ tới nước mắm. Đa số dân Tây hiện đại nghĩ rằng nước mắm là của châu Á, người châu Á được thể cũng hay xem nước mắm là phát minh của mình. Tuy nhiên, nước mắm lại bắt nguồn từ nền văn minh cổ đại ở châu Âu, châu Phi.

Ủ cá ở La Mã
Trước đây các nhà khảo cổ thường cho rằng nước mắm xuất xứ từ La Mã, nhưng hiện nay họ nghiêng về giả thuyết nước mắm bắt đầu từ Carthage – một nước cộng hòa cổ, sau này bị La Mã chiếm mất và hiện đang là một phần của Tunisia, châu Phi. Ghi chép xưa nhất nhắc đến nước mắm nằm trong tài liệu của Mago – một học giả Carthage chuyên viết về nông nghiệp – niên đại khoảng Thế kỷ thứ 6 hoặc thứ 5 trước Công Nguyên (TCN). Nhà sử học Marcus Porcius Cato của La Mã cũng nhắc đến quá trình giao dịch buôn bán “nước mắm Carthage” vào thế kỷ thứ 2 TCN.
   Di tích còn sót lại của nước cộng hòa Carthage cổ.

Vị trí của Carthage trên bản đồ. (Hình từ ancient)

Năm 146 TCN, Carthage chính thưc rơi vào tay đế quốc La Mã, hàng ngàn người Carthage bị biến thành nô lệ. Theo nhiều giả thuyết hiện đại, kẻ chiến thắng tiện thể chôm luôn quy trình ủ cá của Carthage và nhiều cơ sở nước mắm bắt đầu nở rộ khắp châu Âu. Pompeii trở thành vựa nước mắm lớn nhất nhì La Mã thời bấy giờ, dần dần cách làm nước mắm còn lan xuống các tỉnh thuộc địa như Cartagena và Baelo Claudia – bây giờ nằm ở Tây Ban Nha. Ngày nay, dấu tích của xưởng ủ nước mắm cổ cũng như các kiểu bình đựng, chai lọ vẫn còn vắt vẻo tại Ý cũng như vài nước lân cận, ai đến thăm Ý và ghé thành phố Pompeii chơi sẽ có cơ hội ngắm các bình gốm đựng nước mắm trong bảo tàng.


  Di tích xưởng nước mắm ở Baelo Claudia, Tây Ban Nha (Hình ở Wiki)

Dân La Mã có hai tên gọi cho nước mắm: garum, và liquamen, với garum là từ phổ biến hơn. Ban đầu garum là loại nước lên men thu về sau khi ủ các phần thừa như ruột cá, mang cá, vậy cá… trong muối. Dần dà người La Mã chơi sang hơn, mon men ủ nước mắm bằng các mẻ cá nguyên con. Nguyên liệu càng xịn thì nước mắm càng đắt tiền, và thời ấy nước mắm ở La Mã niêm yết đủ loại giá như rượu bia bây giờ. Garum ủ bằng ruột rà, vây mang thừa thãi sẽ y như bia rẻ tiền thời nay, chủ yếu dành cho dân lao động hoặc dùng nuôi nô lệ. Garum từ cá ngon, mực ngon sẽ đắt ngang rượu vang xịn. Tính theo tiền tệ thời hiện đại, một chai nước mắm tốt dành cho tầng lớp quý tộc thời ấy sẽ có giá xấp xỉ 500 Đô Mỹ  thời nay
Bình gốm đựng garum, khai quật ở Pompeii

Người La Mã cổ xưa dùng nước mắm trong đủ món: pha sốt để trộn rau củ, sốt để chấm thịt nướng, làm gia vị cho món hầm, tạo mặn cho các món đậu, ướp các kiểu heo bò gà. Các sách nấu ăn còn sót lại từ thời xa xưa còn ghi rằng dân La Mã lấy nước mắm phết lên bánh mì, hoặc dùng trộn pasta. Họ còn pha garum với các nguyên liệu khác như chúng ta pha nước chấm. Oxygarum là nước mắm pha với giấm, còn meligarum là nước mắm pha mật ong.
Từ từ, garum trở thành món đế chế La Mã đem đi trao đổi buôn bán với các nước khác. Các nhà khảo cổ tin rằng nhờ giao dịch vận chuyển trên con đường Tơ lụa mà garum đã đến với châu Á. Cho đến khi đế chế La Mã sụp đổ.
Con đường Tơ lụa chuyền hàng hóa từ châu Âu, châu Phi, đến châu Á. Màu xanh là đường biển, màu đỏ là đường bộ. (Hình từ Wiki)

Muối và tinh thần chịu khó mày mò Đối với các nền văn minh cổ xưa ở châu Âu, muối là tiền tệ. Các hoàng đế La Mã có khác nhau cỡ nào đi nữa, họ đều làm một việc giống nhau: cố gắng bình ổn giá muối. Lúc cần kíp phải tăng thuế muối họ sẽ tăng, nhưng hầu như trong khoảng thời gian La Mã làm bá chủ, muối luôn rẻ. Hoàng đế Augustus còn phát muối miễn phí cho dân khi ông cần họ ủng hộ các kế sách của mình            
Tranh vẽ hoàng đế Augustus, Étienne-Jean Delécluze, 1841.

Theo tiếng Latin xưa, muối có tên là “sal”, nó quan trọng đến nỗi sau này nó đẻ ra một loạt từ vựng tiếng Anh mà bây giờ chúng ta vẫn dùng. Ngoài chữ salt – nghĩa là muối trong tiếng Anh – còn có chữ “salary”, nghĩa là “tiền lương”, hoặc từ “salad”, tức món rau xà-lách trộn. Đó là vì hồi xưa người La Mã trả lương bằng muối, cũng như dùng nước pha muối để chấm rau ăn
Đến lúc La Mã suy sụp, chẳng ma nào rỗi hơi ngồi đấy ổn định giá muối nữa, nên muối bắt đầu thành của đắt. Người châu Âu trong tình trạng khan hiếm muối đã phải vắt óc cân nhắc, tính toán cách dùng muối sao cho hiệu quả nhất chứ không thể xài thả dàn như xưa. Đối với họ, lấy muối làm thịt nguội, xúc xích với cá hun khói, bảo quản rau củ, lên men phó-mát, ướp thực phẩm tươi hoặc sát trùng vết thương… quan trọng hơn là lấy nó đi ủ nước mắm, nhất là ở cái xứ mùa đông khắc nghiệt, cần trữ cũng như bảo quản nhiều loại thực phẩm “có thể ăn no”.            
Thịt nguội salami của Ý, nếu phải chọn giữa việc dùng muối bảo quản thịt với dùng muối làm nước mắm, người Ý sẽ chọn bảo quản thịt để mùa đông có cái mà ăn.

Các nhà khảo cổ phát hiện ra rằng quy trình ủ nước mắm cũng như các xưởng nước mắm ở châu Á chỉ bắt đầu hình thành từ những năm đầu của thời Trung cổ – tức khoảng thế kỷ thứ 5 Công Nguyên. Thời điểm đó gần như trùng khớp với thời điểm đế chế La Mã suy tàn. Theo những chuyên gia này, khi La Mã hết garum để buôn bán, dân Á Đông chẳng còn cách nào khác ngoài tự mày mò tìm ra cách ủ nước mắm cho mình đặng còn nấu nướng.

Ủ nước mắm ở Mũi né .

Mày mò riết cũng thành công. Một số nhà khoa học có lấy thử vài mẫu nước mắm cổ còn sót lại ở Pompeii rồi đem nó đi phân tích, so sánh với nước mắm hiện đại. Kết quả cho thấy các axít-amin, chất ngọt hình thành từ quy trình lên men thịt cá (glutamate, glycine, alanine)… có trong nước mắm cổ của La Mã cũng có mặt trong nước mắm ngày nay. Suy luận rằng nếu ủ cá đàng hoàng, không bỏ chất cấm với tùm lum hóa chất điều vị, nước mắm của chúng ta chẳng có gì khác garum của dân La Mã cổ xưa hết.
Dư vị, xưa và nay Các nước châu Á – kể cả Trung Quốc, Nhật Bản – bắt đầu tràn ngập nước mắm sau thế kỷ thứ 5. Đặc biệt ở mấy vùng có bờ biển dài, nắng nhiều là muối không hề đắt như bên trời Tây thời xưa. Sống ở xứ có mùa đông lạnh thấu xương và mùa thu chẳng ấm hơn mấy, sản xuất muối biển theo kiểu cho nước bốc hơi dưới ánh mặt trời coi bộ khó nhằn. Thành thử sản xuất muối để làm nước mắm ở châu Á, đặc biệt tại vùng Đông Nam Á hóa ra đỡ căng thẳng hơn ở châu Âu nhiều.

Ruộng muối. (Hình từ trang này)

Thế là châu Á vui vẻ với nước mắm cho đến tận thế kỷ thứ 14 – thời điểm Trung Quốc tìm ra cách ủ nước tương. Thấy tương lên men hợp khẩu vị hơn, Trung quốc và Nhật Bản dần bỏ nước mắm ra khỏi nền ẩm thực của mình. Còn đối với các quốc gia Đông Nam Á có biển, nắng gió thuận lợi để ủ nước mắm như Thái Lan, Việt Nam… nước mắm vẫn còn chiếm vị trí quan trọng cho tới tận hôm nay.
Nói vậy không có nghĩa Nhật hay Ý hiện giờ chẳng dùng nước mắm gì. Colatura di Alici chính là nước mắm của Ý, hậu duệ của garum. Đây là đặc sản của làng Cetara – nơi còn giữ cách ủ nước mắm truyền thống dân La Mã để lại từ thời trước Công Nguyên. Colatura di Alici hiếm và khó tìm, bởi Ý không còn chuộng nước mắm nữa, tuy nhiên bây giờ dân sành ăn đã bắt đầu đi lùng nó. Thời đại toàn cầu hóa nên sau khi nếm một số món ăn Thái, món ăn Việt rồi biết rằng nước mắm có gốc ở La Mã với Carthage, dân Ý mon men tìm lại cội nguồn món ăn của họ, dần dà hăng say quảng bá colatura di Alici trên khắp nước Ý.                
Người làng Cetara còn lấy nước mắm colatura di Alici để trộn… mỳ pasta. Nghe chuyện mỳ Ý trộn nước mắm hơi bị tếu, nhưng đây là truyền thống do cà chua thực chất xuất xứ từ châu Mỹ. Trước khi thế giới khám phá ra châu Mỹ, châu Âu không có cà chua, nên Ý cũng chẳng có cà chua nấu sốt cho đến tận thế kỷ 16. Bởi vậy đế chế La Mã cổ đâu có ngại ngùng khi lấy nước mắm pha với tỏi, ngò, các loại giấm, các loại rau thơm để trộn pasta ăn. Thói quen này dân làng Cetara vẫn còn giữ nguyên.

 Mỳ Ý trộn cà chua, nước mắm, dấm, và rau húng quế Tây.

Ngay cả Nhật – nơi hiện quá nổi tiếng với nước tương – cũng còn vùng chuyên làm nước mắm. Thị trấn Noto-cho của tỉnh Ishikawa chào mời hai đặc sản: ishiri (nước mắm mực) và ishiru (nước mắm cá), ủ bằng kỹ thuật lưu truyền từ thế kỷ thứ 5 cho đến giờ. Dân làng Noto-cho dùng chúng để nêm lẩu, ướp thịt, nêm canh… chứ nước mắm không hề biến mất hoàn toàn ở các quốc gia nằm ngoài vùng Đông Nam Á như chúng ta tưởng bở.                           
Và chúng ta nên bớt tưởng bở đi, do người Việt có thói quen chuộng đồ ngoại, nước mắm cũng là thị trường béo bở để kẻ khác nhảy vào. Không ít người, quen biết lẫn lạ, từng nhắn tôi hỏi rằng mua nước mắm Nhật như thế nào. Tôi nhíu mày nói Việt Nam đầy nước mắm đó, không mua à? Nhưng câu trả lời luôn quanh quẩn: loại tốt phải canh mua rất mệt mỏi, còn loại “đâu cũng thấy” chẳng tin tưởng được. Ba hồi bị pha loãng, ba hồi báo đăng tin nhiễm chất cấm, có chứa chất gây ung thư, đa số nước mắm còn ghi thành phần hóa học dài dặc đọc mỏi cả mắt. Trong khi nước mắm Nhật đề rõ là chỉ có “cá với muối”, đơn giản, ngắn ngọn, không thêm chất lạ hoắc vào. Nhật nổi tiếng thật thà với kiểm định khắt khe nên cũng tin rằng nó không pha loãng hay làm bậy. Người Việt nhịn gì chứ khó nhịn nước mắm nên bỏ tiền ra nhập ishiru của Nhật hay colatura di Alici của Ý về cho chắc ăn. Nổi khổ cất công mua đồ nhập ấy dễ hiểu, nhưng ngày càng nghi ngờ nước mắm của mình trên chính đất mình thì thật quá tội cho ẩm thực Việt
Nguồn: Internet

Friday, September 30, 2016

Nước Mắm Phan Thiết

Nghe kể, nghề nước mắm Phan Thiết có bề dày trên 300 năm do những ngư phủ người Quãng Nam, Quãng Ngãi, Bình Định, Phú Yên theo chân đội quân Nguyễn Hữu Cảnh tiến vào miền đất phương Nam, vượt biển đưa cả gia đình vào vùng đất mới Phan Thiết, đất lành chim đậu. Khi thành lập Tổng Đức Thắng (1809), tên khai sinh của Phan Thiết, nước mắm đã ra đến đàng Ngoài. Đến đầu thế kỹ 20, nước mắm Liên Thành hiệu con voi đã có mặt khắp mọi miền đất nước, khắp Đông Dương và qua tận trời Tây dự triển lảm Marseille (1922).Những năm 1930, Bình Thuận đã sản xuất hàng năm đến 40 triệu lít nước mắm, chiếm 70% lượng nước mắm cả nước.

Công đoạn đầu , đổ muối ủ cá trong khạp theo tỷ lệ .
Nhờ hai dòng hải lưu ngược chiều ven bờ kéo theo hiện tượng nước trồi, tạo ra nhiều thức ăn phù du “dụ khị” các loài cá nổi về đầy vịnh Phan Thiết từ Mủi Né cho đến Mủi Dinh. Tiếng lành đồn xa, Phan Thiết đã thu hút đông đảo ngư dân miệt ngoài về dựng lều chòi tạm sinh sống dọc theo cửa sông, bãi biển. Dần dần, có của ăn của để, xây dựng nhà cửa kiên cố, nhớ ơn Tiền hiền Trời Phật Thánh Thần cùng nhau xây Dinh xây Vạn thờ “Ông” (cá voi). Vạn Thuỷ Tú, Đức Thắng lập vào năm 1762 là ngôi Vạn sớm nhất ở Phan Thiết. Hình thành nghề nước mắm, có thể lúc đầu cá nhiều không tiêu thụ hết, ướp muối hoặc làm mắm để ăn dần bán dần, nhưng đến mùa cá nục cá cơm, cá nỗi đầy biển, cá nặng muốn chìm ghe, cá nhiều quá phải nghĩ ra cách kéo rút lấy nước mắm từ thủ công lu mái ảng sành ngoài trời đến công nghiệp thùng lều trong các dãy nhà lều to như nhà máy.
Thùng lều hình trụ thường bằng gỗ mềm như bằng lăng, mít, bờ lời để dễ niền lại bằng dây song chạy quanh mặt ngoài thân thùng, các mảnh ván gỗ được siết chặt vào nhau, không còn khe hở. Có thùng trổ, thùng phơi, thùng chứa. Các loại thùng này có kích thước khác nhau, thùng nhỏ hơn gọi là thùng ba, thùng lớn hơn gọi là thùng tư. Thùng muối cá, xuống ngang mặt đáy thùng có một lỗ lù để rút nước mắm. Trước khi muối cá phải đắp lù, dọn thùng thật sạch, để khô ráo, lấy vỏ ốc để phía trong lỗ lù, đắp bao tải trấu rồi đắp một lớp muối hạt lên trên.
Phan Thiết nổi tiếng thương hiệu nước mắm cá cơm. Cá cơm đánh bắt về được chọn lựa kỹ, bỏ những con to hay nhỏ quá hoặc không tươi, nên chọn cá cơm than hoặc sọc tiêu để nhiều nước mà ngon. Cá cơm được đem vào muối không cần rửa lại vì trước khi đem lên bờ, cá đã được rửa bằng nước biển. Khi muối tỷ lệ thường dùng là 3 cá 1 muối, hai thành phần đó trộn chung cho thật đều mà không để nát, gọi là chượp, cũng có thể lớp cá lớp muối. Sau khi cho chượp vào đầy thùng, rải một lớp muối lên trên rồi cài lá dừa, vỉ tre trên mặt và xếp đá hộc đè chặt xuống.

                  Công đoạn 2, để ngoài trời phơi nắng.
 Sau 2-4 ngày người ta mở nút lù ở đáy thùng tháo dịch cá chảy ra. Dịch này gọi là nước bổi, do các enzymes trong ruột cá giúp thuỷ phân phần nội tạng cá. Nước bổi có thành phần đạm cao, nhưng có mùi tanh, chưa ăn được, thường được vớt bỏ váng bẩn để làm nước châm vào các thùng chượp đã chín nhằm tăng độ đạm. Sau khi rút nước bổi, chượp trong thùng xẹp xuống và bắt đầu quá trình thuỷ phân chính. Tác nhân chính của quá trình này là một loại vi khuẩn kỵ khí, cần thời gian từ 8-18 tháng mới thuỷ phân xong thân cá. Khi quá trình này hoàn thành, tức chượp chín, nước mắm hình thành trong suốt với màu từ vàng rơm tới nâu đỏ cánh gián (tuỳ theo từng loại cá cơm) không còn mùi tanh mà có mùi thơm nồng, nhà lều dùng từ đã ”cẩn”. Nước nhất được rút từ thùng lều được gọi là nước mắm nhỉ, hoàn toàn từ thân cá thuỷ phân mà thành. Sau khi đã rút nước nhỉ, người ta đổ nước cốt châm vào để rút tiếp nước hai gọi là nước mắm ngang hoặc nước long, có long 1, long 2… Trong thời gian chế biến, hàng ngày 2 lần phải múc nước mắm từ thùng trổ đổ lên lại thùng muối, có thể thêm muối thêm cá thêm nước bổi nước cốt nhiều lần.
Nước mắm Phan Thiết còn một loại nỗi tiếng danh bất hư truyền, không phải là loại nước mắm nhỉ ăn với cơm nóng, mà là nước mắm lú, lấy nước mắm nhỉ để lâu thật là lâu nhiều khi quên mất (mới gọi là lú), màu cánh gián, bớt mặn bớt mùi, hơi hăng nồng, dùng trị bệnh là chính. Đau bụng, viêm họng, bất tĩnh trúng gió, đặc biệt là ca sỹ cần hơi dài gọng thanh, thợ lặn uống một ngụm ấm người trước khi xuống nước rất tốt.
  Rồi, nước mắm lên xe than đi khắp nơi của một thời, để nhớ, để thương
 
Những hãng chế biến nước mắm với số lượng lớn gọi là hàm hộ. Có hàm hộ nhỏ, hàm hộ lớn. Việc phân định cũng chỉ tương đối, căn cứ theo số que nước mắm và uy tín của hàm hộ. Mỗi que từ 12 - 20 thùng nước mắm lớn, mỗi thùng lớn có sức chứa từ 5 - 7 tấn cá hoặc nhiều hơn nữa. Mỗi hàm hộ lại có logo khác nhau, Kiết Thành biểu tượng 3 cua xanh, Mậu Hương 2 chữ thập xanh, Vạn Hương cá thu đen, Hiệp Hòa 2 ngôi sao đỏ, Hồng Hương có biểu tượng con tôm được xem là hàm hộ lớn nhất Phan Thiết.
Thật ra, cách chế biến nước mắm của các hàm hộ trước đây đều khác nhau, gần như “bí mật” dấu nghề từ cách chọn cá, dọn thùng, tỷ lệ cá - muối chượp, quy trình pha trộn các loại nước mắm, cả việc bỏ thêm đường cho dịu và bỏ màu cho bắt mắt, người Huế thích màu đỏ đậm, cao nguyên thích mặn, Đà Nẳng thích mùi. Hầu như hàm hộ Phan Thiết ai cũng cho các đầu nậu mượn tiền để có lượng cá làm nước mắm ổn định giá rẽ, đều có đội xe đội tàu, đều có đại lý kho hàng ở các nơi tiêu thụ, một dạng kinh doanh theo nguyên lý khai thác chuỗi giá trị đi trước thời đại.

Nước mắm Phan Thiết ban đầu chứa trong các tĩn nung hình bánh ú bằng đất sét trộn bùn non, mới hình thành xóm Lò Tỉn gần cầu Bốn mươi, mỗi tĩn có dung tích 3,5 lít, có gắn nắp trét hồ kín và dây quai xách. Theo các cụ lớn tuổi thì nước mắm vô tĩn hợp vệ sinh, hương vị màu sắc được giữ nguyên vẹn ở bất kỳ thời tiết nào, để càng lâu lại càng ngon. Nước mắm tĩn được chất lên những chiếc ghe bầu đi khắp nơi, nghe nói cả các nước Đông Nam Á.

 Ghe bầu Phan Thiết, đúng ra là ghe bầu Mủi Né khá nỗi tiếng, tiếp thu kỹ thuật đóng ghe của Malaya và Champa, làm kiểu cho ghe bầu miền Trung một thời. Dáng bầu bĩnh, trọng tải hàng 100 tấn chở được khoảng 20.000 tĩn nước mắm tương đương 10 toa đôi xe lửa, 3 buồm, nhiều khi xuôi gió chạy được tới 20km/giờ. Ghe có lái phụ, khoảng 12-14 người bạn chia làm 6 phiên, 1 tổng khậu lo bếp núc ăn uống. Mỗi chuyến đi vài tuần vào Sài Gòn hoặc vài ba tháng ra Trung, chở muối nước mắm đi bán và chở về gạo đường trái cây vải vóc. Công ty Liên Thành có 3 ghe bầu mang tên khá ngộ: Vị thuyền, Phan Thiết, Hải Thuyền.
Ghe bầu trở lái về đông
Con gái theo chồng bỏ mẹ ai nuôi
Khi đường bộ và công nghệ bao bì phát triển, nước mắm Phan Thiết được chuyên chở bằng thùng thiếc và thùng nhựa 20 lít, các chị em súc tĩn đã chuyển sang súc thùng, không còn ghe bầu vì đã có các tàu chở hàng trọng tải trên 200 tấn (những năm chiến tranh, đường bộ bị đắp mô, đường sắt ngừng hoạt động).
Sau giải phóng, nghề nước mắm Phan Thiết yếu hẳn, các hàm hộ phải vào quốc doanh, có người hiến cả sở lều đi làm công nhân múc nước mắm để con cháu đạt danh hiệu tốt. Từ đó, người ta lại nghiên cứu khoa học, xây bể chượp bằng bê tông gạch đá thay vì thùng gỗ truyền thống, làm nước mắm ngắn ngày thay cho quy trình đảo trộn lụi hụi trước đây. Kết quả thấy rõ, danh tiếng chất lượng thơm ngon nước mắm Phan Thiết chỉ còn trong kỹ niệm hoài cổ, danh hiệu nước mắm Phú Quốc lên ngôi. Dù hiện nay, không còn nước mắm quốc doanh, có tới trên 200 hãng nước mắm tư nhân Phan Thiết, đủ tên đủ tuổi, nhưng ngay cả tôi cũng dặn bà xã không nên mua về dùng, vì nếu không giả thì cũng dởm, mang tiếng Phan Thiết mình. Bởi vì, không gì ngon bằng, bữa cơm có chén nước mắn "thứ thiệt", vắt tý chanh, dăm lát ớt với đĩa rau xanh, đĩa cá bạc má, nồi cơm gạo "nàng xậu" hết veo ...Húp chút nước mắm còn thừa trong chén, miệng chép chép dư hương còn vấn vương trong kẻ răng, tôi hồi tưởng trước đây có tiếng như nước mắm Mậu Hương, Nam Hương, hoặc chữ Hương và chữ Hồng, Hồng Hương, Vạn Hương, Hoàng Hương, Tân Hương, Hồng Sanh, Hồng Xuyên, Hồng Hòa… Mùi cá, mùi nước mắm, cũng như mùi biển mặn đã ăn sâu vào hơi thở lối sống tính cách những người con xứ biển.


Đáng kể, công lao đức độ các bà Cửu Sanh, Cửu Mười, Hồng Hương, Hồng Sanh…, những người đàn bà cả đời tận tụy cho danh hiệu nước mắm Phan Thiết, nay đã thành người thiên cổ, đến nay tôi vẫn còn nhớ mãi !
Nguồn: FB Hoàng Cao Đồng

Thursday, September 29, 2016

Góc. Với chị

Chưa bao giờ tôi chờ đợi mùa Thu mòn mỏi như năm nay. Có lẽ, quá thấm thía khi trải qua một mùa Hè mưa bão và những ngày nóng kinh hồn. Chạy xe trên đường nhựa mà cảm giác như con đường hừng hực kia đang bốc khói, phủ phàng ném vào mình những hơi thở nóng bỏng, dù xe kín mít.
Cơn nóng làm người ta mệt mỏi, dễ cáu giận vô cớ và  loay hoay chẳng biết trút bỏ vào đâu.
Đôi khi thời tiết cũng ảnh hưởng ít nhiều đến cuộc sống đời thường.
Tảng sớm, trời rắc nhẹ  mưa Thu…
Bâng khuâng theo câu hát..
Anh mong chờ mùa Thu. Trời đất kia ngã mầu xanh lơ. 
 Đàn bướm kia đùa vui bên muôn hoa...Bên những bông hồng đẹp xinh..
Bao giờ mùa Thu cũng níu kéo trong tôi nỗi xao xuyến dường như bất tận. Chạnh lòng  khi nhìn đời lá  sắp lìa cành còn cố níu kéo chút khoảng trời mong manh. Đời người tựa hồ chiếc lá kia. Có hồn nhiên, có xanh tươi và cũng có lúc rời bỏ. Rời bỏ trong vô vàn nuối tiếc. Trái tim luôn khao khát được làm lại từ đầu, được một lần (có thể là lần cuối)  mở lại cánh cửa thời gian.
Sài gòn trong tôi ngày xưa, hình như bụi nắng không gom đủ tơ trời để thêu thùa ngọn gió heo may, cho những ngón tay tình nhân bối rối, se sắt tìm nhau.. Nhưng, nắng tinh khôi, trong trẻo và trở nên dịu dàng khi rưới trên mái tóc chị vừa gội hương chanh. Nó mượt mà, óng ả như vết sơn bóng nhung trên nền lụa nắng. Sao tôi lại nhớ chị vào lúc nầy ? Ngay khoảng khắc mùa Thu? Có sự liên kết nào giữa cuộc tình của chị trong vu vơ đầu ngày mang hơi hướm Thu về ?
Ở khoảng sân nhỏ yên tĩnh, anh ngồi cùng chị nơi bậc thềm trong những ngày anh về phép. Anh gửi những lời yêu thương nồng nàn trong tiếng đàn ngọt mềm, tha thiết đến lạ  lùng.Trái tim tôi thưở ấy chơi vơi, cuống quít theo từng nhánh tóc thanh tân , từng lời ca mùa Thu chan hòa nắng gió, tràn ứ mật ngọt của những người đang yêu nhau và sợ lìa nhau.
Những mối tình thời chiến tranh thường mất mát nhiều hơn được nhận.
Hình ảnh khoảng khắc ấy luôn in đậm trong ký ức của tôi, đến nỗi, chỉ bất chợt một ngọn lá nhỏ nhoi, một bước chân khe khẽ xao động gió Thu, tôi như thấy tôi ở đó, ngắm nhìn hạnh phúc của họ bằng nỗi xốn xang khó tả.
Anh mong chờ mùa Thu..Tà áo xanh nào về với giấc mơ..
Mầu áo xanh là mầu anh trót yêu..Mùa Thu quyến rũ anh rồi..
Không ray rứt nhưMùa Thu nào đưa người tình đi biền biệt..” Không cô đơn như “‘Mùa Thu không có em bờ đá công viên âm thầm..” không đau đớn nhưMùa Thu đã chết, đã chết rồi, em biết không..”
Mùa Thu của Đoàn Chuẩn- Từ Linh như một bức tranh lướt thướt mầu sắc, dường như bức tranh đó gom cả hương trời quyện mơ màng trong không gian, nhẹ nhàng như hơi thở và say đắm như cuộc tình của chị và anh. Những ngày phép ngắn ngủi níu kéo theo nhau  giọt nước mắt vội vã.
Cuộc chiến đã đưa anh xa dần những mùa Thu thành phố bình yên..
Thu nay vì đâu nhớ nhiều Thu nay vì đâu tiếc nhiều..
Đêm đêm nhìn cây trút lá lòng thấy rộn ràng ngỡ bóng ai về..
Xa anh, chắc chị sẽ nhớ lắm khoảng trời riêng mà họ đã giữ cho nhau, và trong chiếc hộp chất chứa trùng trùng  kỷ niệm,  chị đã nhiều lần ẩn náu, tìm cho mình dù chỉ một phút, một giây bình yên ở đời thường. Anh đã bỏ lại sau lưng, niềm vui ngắn ngủi nhưng nỗi đau thì vô cùng vô tận. Mối tình đó, với chị, vĩnh viễn ở tuổi thanh xuân, luôn bất diệt với thời gian. Anh có nghĩ như chị không. Có lúc nào, bất chợt, thảnh thốt khi nhớ về nhau ?
Anh có hạnh phúc không ? Chị muốn biết. Muốn biết..
Tôi yêu cuộc tình của họ như từng yêu Thu quyến rũ của Đoàn Chuẩn -Từ Linh. Bức tranh mùa Thu đó làm cuộc sống của tôi mềm mại hơn và mảng nắng mầu cánh gián của chờ đợi, của chia ly luôn làm tôi bâng khuâng.
Như sáng nay, một chiếc lá vừa rơi ngập ngừng  qua kẽ tay của tôi. Tôi ép chiếc lá với cọng khô vàng úa trong tập sách. Tôi nghĩ, khi bàn tay chị đóng lại chiếc hộp vô vàn kỷ niệm để giữ cho riêng mình, lòng chị chắc cũng ngậm ngùi như tôi, lúc  nhìn chiếc lá héo hon với đường viền hiu hắt buồn theo từng cánh xương gậm mòn run rẩy..
Ngậm ngùi , bởi  cuối cùng, chỉ còn giữ trong -tay- chiếc- lá- của- chia- lìa.
Chị. Hãy cùng tôi chia xẻ một chút mùa Thu sáng nay…Và dù cuộc đời xô đẩy chị về phía trước, chị vẫn còn nỗi nhớ để nương tựa, nỗi buồn để săm soi. Và như thế, đã đủ cho một mối tình suốt đời vô vọng tìm nhau.
"Anh mong chờ mùa Thu…Tà áo xanh nào về với giấc mơ..
Mầu áo xanh là  mầu anh trót yêu Người mơ không đến bao giờ…”
 “Người mơ không đến cùng tôi..” Có thể chị sẽ khóc như đã từng.
Nhưng, chị ơi. Dù là những giọt lệ đau khổ hay hạnh phúc, chúng ta vẫn luôn trân trọng những gì mà ta được nhận từ đời sống .
Bởi  mình không còn nhiều lần trong đời gửi về cuộc tình thầm lặng riêng tư những giọt nước mắt vụn vỡ , nuối tiếc mùa Thu.
.