Phong trào Thanh Niên Tiền Phong đã phát triển rất nhanh chóng ở hầu như khắp các tỉnh. Ở Sài Gòn, Chợ Lớn các công sở cũng như các hãng tư lớn nhỏ đều có bộ phận TNTP và các thủ lãnh để trông coi, nhất là ở các xí nghiệp. Ở các tỉnh và quận, làng, TNTP cũng được tổ chức nhưng các thủ lãnh thường được gọi là Trưởng Thanh niên, Tráng trưởng, Thiếu trưởng...TNTP được thành hình với đồng phục, cách chào kính na ná giống như tổ chức Hướng đạo nhưng TNTP không có các hoạt động như thể thao, cắm trại, du ngoạn... Ðây là một đoàn thể được thành lập để đáp ứng lòng hăng hái của tuổi trẻ muốn tham gia vào sinh hoạt quốc gia đang chuyển mình qua giai đoạn độc lập. Việc thu hút giới thanh niên đã diễn ra rất phấn khởi, không có vấn đề đảng phái, tôn giáo, thành phần giai cấp... Lời Hiệu triệu đã được thanh niên miền Nam hưởng ứng nồng nhiệt với ba câu :
“Các bạn chỉ có một đẳng cấp: Ðẳng cấp của Thanh niên.
Các bạn chỉ có một nhiệm vụ: Nhiệm vụ của Thanh niên.
Các bạn chỉ có một mục đích: Giải phóng Dân tộc” Những lời kêu gọi kích thích như vậy trước kia đã chưa từng được công khai phổ biến vì Việt Nam đang còn bị Pháp chiếm ngự. Khẩu hiệu: “Cải tổ xã hội, nâng cao đời sống đồng bào” nay là câu được nhắc thường trực trong các buổi hội.Công việc cấp thời lúc bấy giờ là giúp thu dọn, xây cất lại các khu bị dội bom, nhất là các xóm nhà lá. Dân chúng thành phố Sài Gòn đã hoan hô nhiệt liệt việc đào xới các nơi bị sụp đổ, cấp cứu các nạn nhân bị vùi lấp, an táng các tử thi... Ở Bắc lại khởi đầu có nạn đói hoành hành. Việc chuyên chở gạo tiếp tế cho Trung, Bắc đã bị ngưng trệ vì đường xe lửa Sài Gòn-Hà Nội bị máy bay Ðồng minh oanh tạc hằng ngày. TNTP đã tình nguyện chất gạo lên xe lửa di chuyển ban đêm. Ban ngày lại phải chất giấu cho đến tối. Việc chuyên chở gạo ra Bắc bằng ghe theo đường biển tuy chậm chạp nhưng cũng đã được thực hiện trong muôn vàn khó khăn.Ngày 15 tháng 4, 1945 một Ðại hội Thanh niên đã được tổ chức ở sân Vận động Chợ Lớn. Lần đầu tiên dân chúng đã thấy được các thanh thiếu niên diễn hành, hàng ngũ ngay ngắn, đi đứng nhịp nhàng. Các đội thiếu nhi 7, 8 tuổi đã được nhiệt liệt hoan hô. Các cuộc tập họp thanh niên càng ngày càng lôi cuốn giới trẻ tham gia hoạt động cộng đồng.
Ngày 11 tháng 6 một Lễ Hưng quốc Khánh niệm đã được cử hành với một bàn thờ Tổ Quốc thiết lập trang nghiêm ngoài trời. Ba thiếu nữ trang sức theo lối ăn mặc ba miền Bắc, Trung, Nam được kết chung bằng một giải lụa trắng tượng trưng đất nước thống nhất, ôm hoa đứng trước bàn thờ là một hình ảnh gây nhiều xúc cảm trong những người tham dự lễ.Trong tình huống cần nung đúc ý chí thanh niên, một cuộc tuyên thệ của TNTP đã được chuẩn bị ra mắt ngày 1 tháng 7 ở sân vận động Vườn Ông Thượng. Ðây là một cuộc biểu dương lực lượng chưa từng thấy ở miền Nam của giới trẻ quyết tâm chứng tỏ ý chí cương quyết sẵn sàng phụng sự Tổ Quốc.Hơn ba ngàn dân chúng và các nhân vật tai mắt thời bấy giờ như Thống đốc Minoda, Tổng Ủy viên Thanh niên Iida, thân hào nhân sĩ Việt, Nhật đã đến chứng kiến lễ tuyên thệ. Lễ chào Quốc kỳ mới, có hình quẻ Ly và bài Thanh niên Hành khúc đã làm xúc động nhiều dân chúng.Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã đọc một diễn văn khêu gợi ý chí thanh niên. Lễ tuyên thệ với sự hiện diện của các Huynh trưởng Nguyễn Văn Thủ, Kha Vạng Cân, Huỳnh Văn Tiểng, Kiều Công Cung đã được tiến hành rất cảm động với các lời hô to: “Chúng tôi thề” của TNTP, sau khi các Thủ lãnh dõng dạc đọc xong từng lời thệ nguyện. Cuộc diễn hành kết thúc buổi lễ đã ghi sâu vào tâm não những người đã có được dịp chứng kiến sự hàng ngũ hóa thanh niên vừa thoát vòng nô lệ thực dân. Một lễ tuyên thệ tiếp sau đó cũng đã được long trọng tổ chức vào ngày 19 tháng 8 do bà Bác sĩ Nguyễn Ngọc Sương, Thủ lãnh Phụ Nữ Tiền Phong. Hằng ngàn phụ nữ với đồng phục nón rơm, áo sơ mi trắng ngắn tay, quần dài đen, đã dõng dạc đưa tay hô: “Chúng tôi thề” sau khi bà bác sĩ Sương tuyên đọc các lời nguyền. Buổi lễ đã được long trọng diễn tiến trong cơn mưa. Thật không ai có thể ngờ đó là buổi tập hợp cuối cùng của Phụ Nữ Tiền Phong tại sân vận động Vườn Ông Thượng. Bà Nguyễn Ngọc Sương, y khoa bác sĩ tốt nghiệp từ Pháp, và chồng là luật sư Hồ Vĩnh Ký, khoảng một tháng sau ngày mở màn Nam bộ Kháng chiến, đã bị bộ hạ của Trần Văn Giàu xử bắn ở Bến Súc cùng nhiều đồng chí khác, ngày 23 tháng 10-1945, khi quân đội Anh-Ấn tiến chiếm Thủ Dầu Một. Những người bị Trần Văn Giàu bắt ở Thủ Ðức trong đó có Trần Văn Thạch (người đã hỏi Trần Văn Giàu trong buổi họp có báo chí tham dự ngày 30 tháng 8-1945, năm ngày sau khi Lâm ủy Hành chánh ra mắt: “Ai đã cử anh làm Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp?”), tất cả đã bị bọn cai ngục được lịnh phải thủ tiêu. Bà bác sĩ Nguyễn Ngọc Sương đã bảo người cầm súng: “Hãy nhắm đúng tim tôi mà bắn”.Những cuộc tuyên thệ trọng thể cũng đã được tổ chức ở Cần Thơ, Mỹ Tho và nhiều tỉnh khác.Phan Anh, Bộ trưởng Thanh niên của Nội các Trần Trọng Kim đã trình vua Bảo Ðại biết về lực lượng thanh niên ở Nam Kỳ. Ngày 3 tháng 7-1945, hơn 30 thanh niên trường Huấn luyện TNTP đã được đưa đến trình diện vua Bảo Ðại. Phạm Ngọc Thạch đã được Bảo Ðại chuẩn cho chức Xứ trưởng Thanh niên, đại diện cho Phan Anh ở Nam Kỳ.
Một số TNTP ở Sài Gòn cũng như các tỉnh bắt đầu tự trang bị thêm dao găm dắt bên hông. Số TNTP càng ngày càng tăng, dao găm trở nên rất khó kiếm. Chú Sáu của Triệu tình nguyện về tỉnh nhờ các lò rèn địa phương sản xuất giúp. Thế là Triệu lại có dịp trở về Sa Ðéc và được đi thăm nhiều làng xa trong tỉnh. Một hôm Triệu đến viếng cụ Cử Võ Hoành. Cụ cho hay phải ở lại tham dự buổi lễ ra mắt của hội Truyền Bá Quốc Ngữ địa phương. Ðồng thời cụ cũng bảo phải đi nghe ông Huỳnh Phú Sổ thuyết giảng và khuyến nông vì ở Bắc và Trung hiện có nạn đói trầm trọng. Ðây là dịp đầu tiên Triệu có cơ hội gặp vị Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo.Khi Triệu đến chợ Sa Ðéc thì đã thấy rất đông dân chúng vây quanh ông Huỳnh Phú Sổ, một người dáng trông thanh lịch, rất trẻ, tóc để dài ngang vai, có cặp mắt rất sáng. Ông nói năng giọng sang sảng nhưng chậm rãi, cử chỉ từ tốn. Ðồng bào càng lúc càng đến đông nhưng rất im lặng, trật tự. Vài người nói nhỏ với nhau:
“ Thiên hạ nay đến nghe Ðức Thầy rất đông. Lúc trước còn Tây ở đây, lính kín đến nghe Thầy còn đông hơn dân chúng”.Bài Khuyến Nông của Ông đã thật tình giúp người nông dân mộc mạc, khiêm tốn, nay hãnh diện ý thức được vai trò của mình và lo lắng cho đồng bào ruột thịt tận miền Trung, Bắc:
“Hỡi đồng bào! Hỡi đồng bào!
Thần chết đã tràn vào Trung Bắc...
.....................................
Kẻ phu tá cũng là trọng trách,
Cứu giống nòi quét sạch non sông
Một mai vác cuốc ra đồng
Thề rằng ruộng phải được trồng lúa khoai
.....................................
Nam Kỳ đâu phải sống riêng,
Mà còn cung cấp cho miền Bắc Trung
.....................................
Miễn sao cho cánh đồng Nam
Dồi dào lúa chín gặt đem về nhà
Chừng ấy mới hát ca vui vẻ
Ai còn khinh là kẻ dân ngu”
Buổi thuyết giảng mở đầu bằng “Khuyến Nông” sau đó đã được ông Huỳnh Phú Sổ chuyển qua dạy về Tứ Ân của Phật giáo Hòa Hảo: Ân Tổ tiên Cha mẹ, Ân Ðất nước, Ân Tam Bảo, Ân Ðồng bào Nhân loại. Ông nhắc cho tín đồ cách tu giản dị: chỉ cần một bàn Thông Thiên ngoài trời, bàn thờ Phật và bàn thờ Ông Bà trong nhà nhưng không tượng Phật, chỉ cúng nước lã, bông hoa và đèn hương. Có nhang thì đốt, không có thì nguyện không. Phật giáo Hòa Hảo không chủ trương cất chùa, đúc tượng Phật, không dùng chuông mõ. “Nên dùng tiền cứu người nghèo khổ, thay vì cất chùa to, đúc tượng lớn”.Ông Huỳnh Phú Sổ đã phổ biến giáo lý Phật giáo với những lời thơ bình dân, dễ hiểu, dễ nhớ. Suốt buổi giảng Ông không dùng ngôn ngữ cầu kỳ, những ý nghĩ trừu tượng. Sấm giảng, thi văn của Ông phù hợp với trình độ đại chúng nông thôn và đáp ứng được tâm lý quần chúng vốn không thể lãnh hội được thiên kinh, vạn quyển của giáo lý Phật giáo.Buổi đầu tiên được nghe Huỳợnh Giáo chủ thuyết giảng, ấn tượng một người trẻ nhưng phi thường đã ám ảnh Triệu suốt nhiều năm tháng và Triệu đã có ý định cần phải tìm hiểu về chủ trương Phật giáo Dân tộc này. Sau khi phong trào Nam Kỳ Khởi Nghĩa thất bại, thành phần nông dân là bộ phận bị chánh quyền thực dân đàn áp hung bạo nhất. Ý chí tập hợp đấu tranh người dân quê tưởng chừng như đã bị tan rã. Thế mà dân chúng nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu lại đã đáp ứng nồng nhiệt và gia nhập Phật giáo Hòa Hảo của ông Huỳnh Phú Sổ. Việc ấy chắc hẳn phải có lý do cần được tìm hiểu sâu rộng hơn. Vào buổi chiều hôm đó, Triệu còn được chứng kiến đêm văn nghệ ra mắt của hội Truyền Bá Quốc Ngữ. Những bài tân nhạc Việt đã được trình diễn lần đầu tiên cho dân chúng tỉnh nhỏ. Họ chưa từng có dịp nghe các khúc nhạc của Lưu Hữu Phước, Ðặng Thế Phong, Dương Thiệu Tước... Việc nô nức của giới trẻ quyết tâm tham gia vào việc tình nguyện phổ biến chữ quốc ngữ cho dân chúng khiến Triệu nhớ lại những buổi đầu đi dạy ở xóm nhà lá Khánh Hội. Nhớ gương mặt sáng rỡ trong ánh đèn dầu của anh chị em lao động, những người buôn gánh bán bưng khi học bài đầu tiên: “I, Tờ giống móc cả hai, I ngắn có chấm, Tờ dài có ngang” và được nghe họ vui mừng thốt lên: “Trời ơi! chữ mình dễ ợt như vậy hà? Hồi trước tới giờ có ai dạy đâu mà học!”. Triệu đã thật sự cảm động đến rớt nước mắắt, thấy mình đã làm được chút việc giúp ích cho dân chúng! Trong những chuyến đi cùng chú Sáu, thăm các lò rèn địa phương và phổ biến tin Pháp đã bị lật đổ cho dân chúng thôn quê, Triệu đã có dịp đi về các nơi hẻo lánh ven Ðồng Tháp Mười. Nơi đây Triệu đã được thấy tình người nông dân đối với những cặp trâu cùng chung lo việc đồng áng với họ. Những chiếc mùng thật to đã được may bằng vải ta để trâu không bị muỗi cắn về đêm. Mỗi nhà thường có treo một cái trống to để liên lạc với những nhà khác, thường ở cách nhau rất xa. Việc này thật giống như Triệu đã được xem trong phim nói về các bộ lạc ở Phi châu, dùng tiếng trống để báo tin với nhau. Người dân quê tuy sống một đời đạm bạc nhưng đồng ruộng miền Nam đã giúp họ có một cuộc sống không đến nỗi thiếu thốn như các vùng khác của đất nước, như Triệu sẽ được nhận thức về sau này. Cá tôm không thiếu trong sông rạch, chỉ cần đào ụ và chận ụ để bắt cá khi cần. Các chim chóc như ốc cao, chằng nghịt, võ vẽ, gà nước... người dân tuy không có ná, cung, súng ống nhưng chỉ cần tổ chức đông người, gây tiếng động lớn để “đuổi chim”, lùa vào lưới và rọ như bắt cá dưới sông. Có nơi lại thường dùng một cách bắt chim đặc biệt khác là đốt đuốc nom chim về đêm. Thi sĩ Mặc Khải ở Thiềng Ðức, Vĩnh Long đã có bài “Chim mùa lúa chín”:
Ra đồng đốt đuốc nom chim,
Rạ khô sột soạt, sao chìm bưng, ao,
Võ vẽ, chằng nghịt, ốc cao,
Lúa thơm, chim mập, thịt xào bầu non.
Chuột đồng béo bở, ướp xả ớt, chiên hoặc nướng lửa than, là một món ăn thích thú khác của thôn quê miền Nam. Triệu có nhiều chú, bác được ông Nội của Triệu khi về thăm quê ở Hà Tĩnh đã rủ đưa vào sống ở Cao Lãnh. Lúc chưa vào Nam, các chú, bác của Triệu đã phê bình các món ăn như rắn, chuột đồng và bảo: “Ở trong đó ăn những gì mà gớm ghiếc thế”. Nhưng sau khi được vào sinh sống trong Nam rồi, các chú lại là những người mê các món ăn đó nhất!
Ði vào các kinh, rạch vào trưa nắng hay các buổi chiều, trong cảnh vắng lặng, Triệu đã có dịp được thấy những sinh động của từng đoàn cá di chuyển giữa dòng nước trong vắt của kinh lạch, những con rắn nước chờ mồi, rùa, cua đinh thong thả bơi như vô tư lự... Hai bên bờ kinh những con chim nhỏ tỉ mỉ tước lá làm ổ kêu nhau chíu chít, những đàn cò im lặng đứng rình cá... Những người sống ở phố phường nhộn nhịp, những người từng hay đọc sách các văn sĩ miền Bắc mô tả những núi đồi, nông trại, thường chê miền Nam phong cảnh không có gì hấp dẫn, toàn một vùng thẳng tắp, nhiều lắm chỉ có chút tô điểm với những đàn cò trắng bay lượn xa xa... Những người đó chưa có dịp lắng nghe được trong không gian tưởng chừng như vắng lặng lại có tiếng động của lòng đất và khúc ca của cảnh vật đồng nội miền Nam. Phải có được dịp sống trên đồng ruộng miền Nam mới hiểu được vì sao người nông dân Nam bộ lại gắn bó với ruộng đồng sông Cửu như thế. Một đêm ở vùng kinh xáng Bờ Bao, Triệu đã thức suốt đêm vì hôm đó trên một cành gòn, một con chim vịt lạc đàn đã thỉnh thoảng cất tiếng kêu não nuột suốt đêm. Có sống được trong tình huống đó mới thấm thía được câu hát ru em của miền Nam:
“Chiều chiều chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ bạn, chín chiều ruột đau”
Nhưng rồi sau đó, Triệu lại cùng người chú trở lên Sài Gòn. Ngày 6 tháng Tám 1945 Mỹ đã thả bom nguyên tử xuống Hiroshima. Ngày 9 tháng 8, một trái bom nguyên tử khác lại được thả xuống Nagasaki. Ngày 10-8-1945, Nhật hoàng Hirohito nhờ Thụy Ðiển đứng ra làm trung gian xin ngưng bắn và sau đó, ngày 15-8-1945 tuyên bố đầu hàng Ðồng Minh, vô điều kiện.Ðến lúc đó, ngày 14-8 Nhật mới tuyên bố trả Nam bộ cho triều đình Huế và Bảo Ðại đã bổ nhiệm Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai Nam kỳ. Chánh phủ Trần Trọng Kim được thành lập ngày 17-4-1945 trong bối cảnh Ðồng Minh đang chiến thắng ở Âu Châu, đã phải đệ đơn từ chức ngày 5-8-1945, không đầy sáu tháng sau ngày ra mắt! Vua Bảo Ðại đã chấp thuận cho Nội Các từ chức nhưng đã ủy nhiệm cho Trần Trọng Kim lập Nội các mới. Trong thời gian ngắn ngủi cầm quyền, chánh phủ Trần Trọng Kim đã phải đương đầu lo giải quyết nạn đói đang hoành hành trên đất Bắc trong khi phải đặt cơ sở cho một nền hành chánh mới. Một thành công đáng ghi nhớ là Ban Cải cách Giáo dục, dưới sự hướng dẫn của Hoàng Xuân Hãn đã cho ra đời chương trình “Ban Trung đẳng 7 năm” được áp dụng sau này ở miền Nam.Tin Nhật đầu hàng vô điều kiện Ðồng Minh ngày 15-8-1945 đã là khởi điểm cho những biến cố dồn dập ở Nam Bộ.Các tổ chức chính trị miền Nam đã thỏa thuận thành lập “Mặt trận Quốc gia Thống nhất”, theo đề nghị của Hồ Văn Ngà. Mặt trận gồm có: Việt Nam Quốc gia Ðộc lập Ðảng, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Ðài, Tịnh độ Cư sĩ, Liên đoàn Công chức, Thanh niên Tiền Phong, Nhóm Trí thức.Trụ sở đặt ở đường Léon Combes.Trong khi đó, ở Pháp, ngày 16-8-1945, sau khi được thông báo về sự đột ngột đầu hàng của Nhật, tướng De Gaulle đã chỉ định Ðô đốc Thierry d’Argenlieu, một linh mục, làm Toàn quyền Ðông Dương và tướng Leclerc làm Tổng Tư lịnh Lục quân Ðông Dương. Ngày 21 tháng 8, 1945, để chứng tỏ cho thế giới biết quyết tâm của dân chúng Việt Nam không chấp nhận các mưu toan của Pháp định trở lại Ðông Dương, Mặt trận Quốc gia Thống nhất đã tổ chức một cuộc biểu tình khổng lồ có hơn 200 ngàn người, diễn hành trên khắp đường phố Sài Gòn.Triệu vào lúc này đang cư ngụ ở Bà Chiểu, gần xóm Nhà Thờ, nên thường sinh hoạt với Nguyễn Thanh Liêm, một bạn học cùng lớp ở Petrus Ký nhưng là học sinh ngoại trú. Liêm người cao lớn, chạy bộ rất giỏi nhưng lại mê thích đua xe đạp. Anh có một chiếc xe course để thi đua mà anh quý còn hơn bạn gái. Mượn gì anh cũng có thể cho nhưng đừng hòng mượn xe của anh. Liêm rủ Triệu tham dự các buổi nói chuyện tối của nhóm Việt Nam Quốc Dân Ðảng của Nguyễn Hòa Hiệp, ở một căn phố đường Hàng Dừa. Triệu không thích mấy, khi nghe những trình bày về các thuyết Tam Dân Chủ Nghĩa, các quá trình tranh đấu của Ðảng... vì cũng đã có đọc và biết thuyết này trong quá khứ. Liêm và Triệu đến tham dự vì chỉ muốn có cơ hội được huấn luyện quân sự. Vào thời buổi đó, súng ống là vấn đề cấm kỵ. Chỉ có những người có quốc tịch Pháp hoặc có địa vị đặc biệt mới được sắm súng, mặc dầu chỉ là súng săn. Nay nước nhà kể như đã thâu hồi được độc lập, lại có cơ hội được huấn luyện tháo gỡ, lau chùi, sử dụng súng dài, súng ngắn, hỏi sao không mê thích được, nhất là đối với thanh niên. Thường thì các lớp huấn luyện này chỉ học nhiều về lý thuyết. Thực hành chỉ có lau chùi, tháo ráp vì có súng nhưng không có đạn! Triệu chỉ được biết là súng được tịch thu khi các anh lớn được giao cho điều hành bót Hàng Keo, Gia Ðịnh. Súng thì có nhưng Pháp đã dấu đi các đạn dược nên chỉ lấy được rất ít, các anh cất giấu để sử dụng khi cần. Lựu đạn cũng có nhưng lẽ tất nhiên đã được tháo kíp nổ và thuốc súng cũng đã được trút hết ra khi đưa cho cầm thử để biết nặng nhẹ ra sao. Sau thời kỳ huấn luyện, Triệu và Liêm được coi như đã gia nhập Dân Quốc Quân của Nguyễn Hòa Hiệp, người chỉ huy đã được huấn luyện ở trường quân sự Hoàng Phố bên Tàu. Triệu tham dự cuộc biểu tình trong đoàn Dân Quốc Quân và rất hãnh diện được cấp cho một ca lô màu xanh dương đậm, có gắn một ngôi sao đồng bóng chói. Ðồng phục là áo sơ mi trắng ngắn tay, quần sọt xanh, trang bị tầm vong vạt nhọn như Thanh Niên Tiền Phong. Trong buổi đi biểu tình hôm đó, chỉ có các toán quân Heiho của Cao Ðài là các đơn vị diễn hành đẹp, có kỷ luật vì đã có dịp được huấn luyện thành thục từ trước. Kế theo đó là các toán Thanh Niên Tiền Phong và Phụ Nữ Tiền Phong. Các đơn vị TNTP tham dự diễn hành được tổ chức theo các xóm, các vùng ngoại ô hay có khi tùy theo các công sở, tư sở, các xí nghiệp như hỏa xa hay xe điện... Vì đều có mặc đồng phục và trang bị tầm vong vạt nhọn, khẩu hiệu được tập hô to đồng đều, TNTP được đồng bào chú ý và tán thưởng nhất. Dân Quốc Quân của Triệu tương đối cũng khá vì phần đông là thanh niên các trường Trung học đã từng được huấn luyện thể thao. Các toán dân quân Hòa Hảo, đặc biệt là các đơn vị Bảo An được Ông Huỳnh Phú Sổ chỉ định thành lập, hai năm trước khi có Thanh Niên Tiền Phong, vận đồng phục áo quần bà ba đen, đầu chít khăn màu dà, chơn đi không, quần quấn xà cạp đen, trang bị giáo mác, mã tấu ...Các toán diễn hành đi đứng tuy không nhịp nhàng nhưng được đồng bào hai bên đường rất hoan nghinh vì khí phách hiên ngang trên gương mặt nông dân sạm nắng của họ. Trong thành phần tham dự cuộc biểu tình ngày 21 tháng 8, 1945 Triệu đã thấy nhóm Ðệ Tứ cũng có diễn hành mặc dầu không phải là thành viên của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất của Hồ Văn Ngà. Lá cờ Tranh Ðấu của nhóm với hình quả địa cầu có tia chớp như số 4 xẹt ngang thấy phấp phới trước nhóm công nhân tập họp ở góc Massiges-Norodom. Bóng dáng các anh lớn của nhóm rất ít thấy trong nhóm nhân ngày diễn hành này. Phần đông hình như đang họp hành khẩn cấp ở trụ sở Lagrandière. Tạ Thu Thâu thì không còn thấy đến tòa soạn nữa. Nghe bảo là Tạ Thu Thâu đã đi ra Bắc lo việc cứu nạn đói nhưng cũng đi để biết thêm về tổ chức Việt Minh và đồng thời lo tổ chức đảng Thợ thuyền.Phan Văn Hùm đã nhận lời giao phó đi tiếp xúc với Việt Minh vì phần đông các đại biểu đảng phái không biết Việt Minh là ai. Triệu nghe nói lúc ấy chỉ có ông Huỳnh Phú Sổ, Phật giáo Hòa Hảo là có phát biểu như đùa: “...thì Việt Minh có đâu đây, cần gì phải đi xa mà kiếm...”. Sau này khi các sự việc khác xảy ra, nhiều người tự hỏi không biết lúc đó ông Huỳnh Phú Sổ muốn nói Việt Minh đã có tiếp xúc với ông rồi, hoặc ông muốn ám chỉ đến Trần Văn Giàu lúc đó đã tìm cách len lỏi xin vào Ðảng Quốc Gia Ðộc Lập của HồVăn Ngà!Ở Sài Gòn, ngoài đường phố đã bắt đầu thấy có nhiều tin tức về Việt Minh. Trước cuộc biểu tình ngày 21 tháng 8-1945, trên các đường phố Sài Gòn, Chợ Lớn đều được chăng la liệt những tấm biểu ngữ bằng vải trắng, vải màu, hoặc các tấm dệt bằng lá buông vì là loại rẻ tiền, dễ kiếm. Lần đầu tiên, Triệu được thấy các biểu ngữ chữ Nga vì có những chữ viết lộn ngược, khác với cách viết thông thường, nhưng Triệu cũng thấy nhiều biểu ngữ viết na ná giống tiếng Y Pha Nho nhưng không giống hẳn vì Triệu có học qua ngôn ngữ này. Khi hỏi các anh lớn mới biết rằng đó là ngôn ngữ Quốc tế Espéranto. Triệu cũng đã đọc được Anh ngữ nhưng là Anh ngữ trong văn chương học ở trường. Lần này mới có dịp biết “đả đảo” phải nói là “Down with...” vì đi đâu cũng thấy “Ðả đảo chế độ Thực dân”, “Down with Colonialism”. Khẩu hiệu được treo nhiều nhất là “Independence or Death”... Triệu có dịp về Biên Hòa cũng đã thấy nhiều banderole treo ngang các đường phố, nhưng các biểu ngữ tiếng ngoại quốc chỉ có lẻ loi vài tấm mà thôi. Sài Gòn lúc nào cũng là nơi quan trọng để thế giới chú ý. Ngoài các banderole treo ngang đường phố, rất nhiều bích chương, phần đông được viết tay thay vì in, đã được dán trên các tường, nhiều nhất là chung quanh chợ Bến Thành và các chợ khác như Tân Ðịnh, Bà Chiểu, Gò Vấp... Ngay cả về các banderole, Triệu đã thấy có một thay đổi mới, vì các banderole bằng vải đỏ viết chữ trắng hay chữ vàng đã thấy xuất hiện nhiều hơn trước. Cách viết tiếng Nga cũng thấy đều đặn và không có vẻ xô bồ, xô bộn như lúc đầu. Các bích chương đã bắt đầu thay đổi để đưa tin tức hằng ngày cho dân chúng. Tin chiến hạm Richelieu của Pháp chở quân trở lại Ðông Dương được phổ biến làm hoang mang dư luận. Rồi liền sau đó vài hôm lại có tin: “Ba vạn Hồng quân Trung Quốc tại Hoa Nam sẵn sàng bảo vệ, ngăn thực dân Pháp không cho tái chiếm Việt Nam”. Hôm khác lại thấy có bích chương vẽ hình chiến hạm Richelieu với tin tức mới:“Chiến hạm Richelieu đã được lịnh ngừng lại ở đảo Ceylan và sẽ quay trở về Pháp vì ở Ðông Dương hiện có đảng từng chiến đấu cạnh Ðồng Minh nắm chánh quyền”. Sau đó lại có tin đăng trên các báo: “Tướng De Gaulle đã gởi điện tín cho người Pháp ở Ðông Dương, cho biết là không thể gởi một vị Toàn Quyền qua Ðông Dương vì hiện có một chánh đảng Việt Nam đi đôi với Ðồng Minh sẽ thay thế Pháp!”. Những tờ truyền đơn nhỏ đã được dán hay phân phát từ các chợ để giới thiệu Mặt Trận Việt Minh là những đoàn thể đã đứng trong hàng ngũ Ðồng Minh. Việt Minh sẽ dễ dàng “ăn nói” với Ðồng Minh hơn những người đã giúp Nhật đánh Pháp vì Nhật nay là kẻ thù đã đầu hàng. Ðừng để Ðồng Minh coi Việt Nam là bạn của Nhật. Khẩu hiệu: “Chánh quyền về Việt Minh” đã được in và phát càng ngày càng nhiều.Mỗi chiều, Triệu và các bạn cố bắt nghe tin tức thế giới, nhất là đài Hoa Kỳ phát thanh từ Cựu Kim Sơn. Ðài này càng ngày càng được bắt dễ dàng hơn sau khi Tướng Mac Arthur của Mỹ đã đổ bộ tái chiếm Phi Luật Tuân. Chiếc Radio hiệu Phillips này được một nha sĩ tản cư về Sa Ðéc gởi cho chú Triệu và là mối dây liên lạc của Triệu với thế giới bên ngoài vì tin tức do hãng thông tin Domei của Nhật chỉ phổ biến các tin chiến sự có lợi cho Nhật mà thôi. Mỗi lần nghe lời giới thiệu: “Ðây là đài Phát thanh Cựu Kim Sơn...” tiếng nói đưa vọng về từ bên kia bờ Thái Bình Dương, lòng Triệu thấy se thắt lại, nghĩ đến ngày nào đó, nước nhà thật sự độc lập, xuất ngoại tự do, hy vọng mình sẽ có ngày đặt chân lên nhiều viễn xứ... Triệu bắt được tin Việt Minh đã cướp chánh quyền ở Bắc. Chánh phủ Nhân dân Lâm thời được thành lập với chủ tịch Hồ Chí Minh. Các anh lớn xôn xao bàn tính, không biết Hồ Chí Minh là ai. Chú Sáu của Triệu là người đã kiểm điểm lại các gương mặt đang hoạt động ở biên giới Việt, Trung Hoa và cuối cùng đã đưa đến kết luận: Hồ Chí Minh, chính là Nguyễn Ái Quốc, người mà chú đã giúp đưa đường dẫn lối lúc còn ở Xiêm.Chỉ một ngày sau cuộc biểu tình 200.000 người do Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất, Triệu được tin có một Ðại tá Pháp (Jean Cédille) nhảy dù xuống Tây Ninh. Một người bạn của Triệu đã tham dự cuộc bắt sống viên Ðại tá này sau một đêm mệt nhọc không ngủ nhưng đã phải giao người Pháp này cho quân đội Nhật vì người Nhật đã ép buộc phải giao Jean Cédille cho họ! Cũng trong ngày đó tức ngày 22 tháng 8, 1945 Triệu lại nghe được đài Cựu Kim Sơn thông báo Hoàng Ðế Bảo Ðại tuyên bố thoái vị. Lễ Thoái vị đã được cử hành hai ngày sau, ngày 24 tháng 8 tại Ngọ Môn. Kiếm và Ấn tỷ, biểu hiệu triều đình Nguyễn, đã được giao lại cho Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận.
Trần Ngươn Phiêu
Monday, March 5, 2018
GIÓ MÙA ĐÔNG BẮC (Chương 6) Về quê Cao Lãnh Trở lại Sài Gòn trước cơn khói lửa
Triệu được người chú thứ Sáu từ Sa Ðéc lên đón tản cư về quê nội Sa Ðéc. Ông nội Triệu muốn đem đứa cháu nội đích tôn ra khỏi vùng lửa đạn Sài Gòn. Trên chuyến tàu Nguyễn Văn Kiệu đưa hành khách về Lục Tỉnh nhân dịp này, có rất nhiều học sinh các trường tản cư về quê nên không khí rất nhộn nhịp, vui tươi. Những bài hát mới của Lưu Hữu Phước như Bạch Ðằng Giang, Dòng Sông Hát, Lên Ðàng đã được học sinh đồng ca đến mãi tận khuya mới chấm dứt, để các người trên tàu được an nghỉ.Quê nội của Triệu ở xã Mỹ Long, quận Cao Lãnh, một làng xa xôi ven biên Ðồng Tháp Mười của tỉnh Sa Ðéc. Từ châu thành Sa Ðéc về làng phải dùng phương tiện đò hay ghe, xuồng. Con đường bộ giao thông từ Hồng Ngự đến An Hảo để tiếp nối vào Quốc lộ 4 đi Lục Tỉnh chưa được xây cất. Vào chiều tối, vài nông dân trong làng có cái thú vui leo lên các ngọn dừa cao, nhìn về hướng Sa Ðéc, đón xem đèn hải hành xanh, đỏ của các thuyền tàu di chuyển trên Sông Tiền Giang lên hướng Cam Bốt.Mẹ của Triệu nguyên là con của một công chức trước ở Sài Gòn, trưởng thành trong khung cảnh thành thị. Sau khi thành hôn, về làm dâu trong một gia đình nho phong, lễ giáo ở một thôn dã tít mù ven biên Ðồng Tháp, quả cũng là việc phi thường. Ông nội của Triệu là một nhà Nho, thủ hạ của Phan Ðình Phùng trong thời kháng Pháp. Khi phong trào tan vỡ, làng mạc trong quận Kỳ Anh, vùng Ðèo Ngang bị Pháp thiêu hủy nên ông đã chọn lưu lạc từ Hà Tĩnh vào Nam vì nơi đây đã có ông Bác của Triệu bị Pháp lưu đày ở Nha Mân, Sa Ðéc. Ông nội của Triệu đã được cho làm giáo học ở làng Mỹ Long hẻo lánh này. Ðến khi lập gia đình, bên bà nội của Triệu vốn có tiếng tăm khá giả, đã tặng cho một sở đất rộng trên mười mẫu. Với chí hướng cần cù, ông nội Triệu đã tạo nên một mảnh vườn và một thửa ruộng để nuôi nấng một gia đình hơn mười hai con. Triệu nghe những người trong làng hay nhắc lại là vào thuở trước, ông nội của Triệu mà dân làng gọi là Ông Giáo đã có công khai phá mảnh đất hoang vu này thành mảnh vườn đầu tiên trong vùng.
Ông đã dẫn đường khai lối cho sự phát triển về sau của nhiều người theo dấu chân lập nghiệp. Cách bố trí để tạo dựng đất hoang thành vườn, đã được nhiều dân chúng áp dụng. Dọc theo bờ sông, ông trồng vông gai để ghe thuyền không thể cập bờ bừa bãi. Kế đến là trồng các hàng dừa để có hoa lợi thường xuyên trong năm. Vì vườn nằm dọc theo sông cái, thường có gió to nên ông lại trồng thêm một hàng me nước, thân cây có tiếng rất dẻo để cản gió. Sau đó mới đào mương song song để trồng cam, quít vốn chịu loại đất của tỉnh Sa Ðéc.Tỉnh Sa Ðéc là nơi Pháp đã chỉ định an trí cho một số nhân vật cách mạng bị Pháp đày vào Nam vì có liên quan đến phong trào Ðông Kinh Nghĩa Thục. Ðặc biệt ngay tỉnh lỵ, có cụ Cử Vũ Hoành. Nhà Cụ thường có khách và các đồng chí tứ phương đến thăm viếng. Pháp cho đặt gần nhà Cụ một quán nước để nhân viên mật thám có nơi canh gác, theo dõi các khách tới lui. Nhắc đến ông, chỉ cần gọi Cụ Cử thì dân Sa Ðéc đều biết. Cụ có dáng ngồi và đi đứng đặc biệt: lưng lúc nào cũng giữ rất thẳng. Cụ thường nói với con cháu: “Lưng tao thẳng vì tao không lòn cúi ai”.Những nhà cách mạng bị Pháp đày vùng Sa Ðéc sống rất khắng khít với nhau. Các chú của Triệu đều ở trọ nhà Cụ Cử khi đến lúc phải theo học trường Tỉnh. Những ngày gần Tết, các chú sau khi đi giẫy mã các thân nhân, đều có phận sự phải giẫy cho mộ của ông Phó bảng Huy, thân phụ của Nguyễn Ái Quốc, trên đường từ làng đến quận Cao Lãnh. Vào thời đó, Nguyễn Ái Quốc chưa mang tên Hồ Chí Minh. Ông Phó Bảng đã mất ở Cao Lãnh trên bước đường luân lạc vào Nam. Sau năm 1975, từ một nấm mộ đất nhỏ bên đường, giữa những nấm mồ vô chủ khác sau Miễu Trời Sanh, nay ngôi mả lại được trùng tu, xây thành một lăng tẩm uy nghi, đồ sộ!Triệu về quê nội, mang trong hành trang một sách tự học Anh văn “L’Anglais sans Maitre” của Xavier de Bouges và bộ “Hán văn Tự học” của Nguyễn Văn Ba. Gia đình bên nội của Triệu vốn từng tham gia các phong trào cách mạng nên tiên đoán là thời cuộc thế giới và trong xứ sắp qua nhiều biến chuyển, xáo trộn. Việc học hành có thể sẽ không suông sẻ như trước.Trong gia đình bên nội, đã từng có cái thông lệ là con cháu trưởng thành được khuyến khích đi xa lập nghiệp, bay nhảy nhưng nếu gặp trắc trở không may, có thể trở về co rụm lại trong đại gia đình bên nội, chuẩn bị những bước tiến mới.Người chú thứ Sáu có phận sự lên Sài Gòn đem Triệu tản cư về quê, vốn đã có một thời gian sống ở Cam Bốt và Thái, hoạt động kinh tài cho các cơ sở cách mạng. Chú là người sống độc thân, tham gia tranh đấu sau khi được qua cái lò huấn luyện của cụ Cử Hoành, nên vẫn được ông nội Triệu thương quý. Chú Sáu Triệu đã phải bỏ công việc làm ăn đang phát đạt ở Nam Vang sau khi được ông nội của Triệu vì thương nhớ con nên gởi cho chú một bài thơ:
Lóng nghe tàu thổiLóng nghe tàu thổi dạ trông con,Chẳng thấy con về dạ héo von,Nhỏ dại nào rời cha với mẹ,Lớn khôn bao quản nước cùng non.Trời Xiêm mắt ngó hơi chưa mỏi,Ðất Thổ chơn đi dấu đã mòn,Buôn bán nhịp rồi nghe cũng khá,Lóng nghe tàu thổi dạ trông con.
Vì bài thơ của cha gởi nhắn nên chú Sáu của Triệu đã giao phó lại trách nhiệm cho các bạn để trở về, chuyển hướng hoạt động để sống gần nhà. Ngay trước khi rời Nam Vang, chú thấy trong ga ra còn một thùng xăng lớn nên chở tặng một đồng chí thương gia. Hai người cùng đi trên xe nhưng không may bị xe khác đụng. Xe cháy, chú thoát nạn, nhưng đồng chí ngồi cùng xe bị chết cháy. Bao nhiêu của cải riêng tư của chú cũng bị thiêu hủy. Pháp vốn đã từng theo dõi các hoạt động của các đoàn thể, nên truy tố việc này như một cuộc thanh toán đảng phái. Vì vậy, chẳng những chú của Triệu trở thành trắng tay, mà gia đình còn phải tốn kém nhiều tiền của, tranh tụng trước pháp đình để chú thoát vòng tù tội. Trong gia đình từ đó đã coi đất Miên là một miền đất linh thiêng như dân miền Nam thường bảo nhau: “Nam Vang đi dễ, khó về”. Có lẽ vì mang trong đầu ý nghĩ đó nên về sau này Triệu đã thoát nạn trong gang tấc khi có dịp hành sử trên đất Miên trong dịp đưa Việt kiều hồi hương lánh nạn.Ðược về sống ở đồng ruộng, xa hẳn thị thành, Triệu mới thực sự hiểu được nỗi buồn khi trong đêm vắng, nghe được hồi còi tàu vang dội đưa đến từ sông Cái xa xôi. Sau này lớn lên sống nhiều năm xa đất nước, những khi nghe được còi tàu lanh lảnh báo hiệu để tránh nhau (Corne des brumes) trong các đêm sương mù dầy đặc ở cửa biển Gironde, Bordeaux ở Pháp hoặc ở vịnh San Francisco ở Mỹ, Triệu mới thấm thía nỗi buồn xa xứ. Mỗi lần như vậy, Triệu luôn nhớ đến một đoạn thơ của người chú thứ Sáu thân mến, một đời thương dân, thương nước, nhưng rồi cũng bị Cộng sản thủ tiêu vì khác chánh kiến. Khi bôn ba trên đất Xiêm, đất Thổ, chú có bài “Ðất khách gặp bạn”:
Ngàn dậm xa xôi gặp cố tri,Nỗi mừng rơ rỡ biết mần ri!Mặt ngơ ngẩn mặt trơ như gỗ,Tay bắt chặt tay biết thốt gì.Muốn hỏi bạn chừ về cố quốc?Lại e tự tủi phận còn đi...
Mặc dầu mang tiếng là về làng tản cư tránh bom đạn, nhưng vì tất cả mọi người trong đại gia đình đều có phân công phân việc hằng ngày nên Triệu cũng phải có những giờ giấc học tập nhất định. Mỗi sáng Triệu tự học Hán văn theo sách chỉ dẫn của Nguyễn Văn Ba. Ðây là những giờ thích thú nhất vì tự do học được các thi, phú của các thi hào danh tiếng như “Quy khứ lai từ” của Ðào Tiềm, hoặc “Tiền Xích Bích”, “Hậu Xích Bích”... của Tô Ðông Pha... Sau hai giờ học tự do đó phải ăn mặc chỉnh tề vì đến giờ học với ông nội. Sáng sớm khí trời còn mát nên Ông lo việc vườn tược. Khi mặt trời đã lên cao, trời bắt đầu nóng, Ông mới vào nhà giảng sách cho các cháu. Trong gia đình, có những buổi mọi người phải mặc áo quần sạch sẽ mới được phép ngồi vào bàn. Ðó là vào giờ cơm, để tỏ lòng biết ơn các nông dân đã sản xuất thức ăn và khi ngồi vào bàn học để tỏ lòng kính trọng với bực hiền triết. Mặc dầu việc giảng dạy được thực hành theo lối dạy cổ điển nên nhiều khi học rất ngán, nhưng vì được nghe đi, nghe lại nhiều lần, những câu như “Ðại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện...” nên kết quả là những lời cổ nhân đã thật sự dần dần thấm vào tâm não nên không thể quên được.Buổi chiều, thời gian dành tự học Anh văn, Triệu được hoàn toàn tự do, thoải mái tự sắp xếp công việc. Ở nhà quê, tối chỉ có đèn dầu dừa vừa đủ sáng, không thể học hành gì được nên cả nhà thường phải đi ngủ sớm, chỉ trừ bà nội Triệu lần chuỗi đọc kinh trước bàn Phật.Sáng tinh sương, Triệu thích nhất là nằm nghe được tiếng ông Nội thức từ sớm, vừa ngồi thưởng thức uống trà, vừa kể cho con cháu nghe những chuyện hay, tích cũ, những kinh nghiệm Ông đã trải qua để hướng dẫn lớp hậu sinh. Triệu và các con cháu trong nhà thường gọi các chuyện đó là “Những bài học lúc rạng đông”, khó có thể quên được. Nhờ lối kiến trúc cổ điển nhà ba gian, hai chái, đại gia đình cùng sống quây quần, nên Triệu mới có được cơ hội được dạy dỗ như thế. Ngày nay, với kiến trúc tân thời, nhà được xây cất với những phòng riêng biệt, cơ hội được cùng học hỏi như vậy thật khó có thể thực hiện.Cuộc sống tản cư êm đềm trôi qua. Ở quê, không điện, không có radio, chỉ vài hôm có được vài tờ báo từ Sài Gòn gởi về, khiến Triệu mù tịt tin tức.Nhưng bỗng một hôm, có người liên lạc cấp tốc từ Sài Gòn về cho hay Nhật đã lật đổ chánh quyền Decoux. Dân chúng quận Cao Lãnh gấp rút chuẩn bị họp mít tinh. Những nhân vật cách mạng bấy lâu mai danh ẩn tích trong vùng Cao Lãnh, sau cuộc đàn áp của Pháp vào thời Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nay bắt đầu xuất hiện. Những ý kiến chính trị khác biệt đã bắt đầu ló dạng. Một số đông dân chúng vui mừng thấy chánh quyền thực dân Pháp đã bị lật đổ sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, vua Bảo Ðại đã tuyên bố hủy bỏ các hòa ước bị Pháp bắt buộc ký từ trước, một nội các Việt Nam sắp được thành hình... Nhưng thỉnh thoảng cũng thấy ít nhiều truyền đơn dán ở các gốc cây, ở các chợ, hô hào chống “phát xít Nhật”. Ðất Cao Lãnh là một trong các nôi cách mạng miền Nam, những việc thay đổi thường bắt nguồn trước tiên ở đây.Mặc dầu sau cuộc đảo chính Pháp, đại diện Nhật có tuyên bố là Nam Kỳ vẫn giữ tình trạng không thuộc triều đình Huế nhưng vì không còn sự hiện diện của chánh quyền cai trị Pháp nên các hoạt động chánh trị đã ào ạt xuất hiện. Nhà cụ Cử Vũ Hoành lúc này tấp nập khách vì không ai còn sợ bị mật thám Pháp theo dõi khi đến thăm cụ. Chú Sáu của Triệu được cụ khuyên là nên trở lên Sài Gòn tìm hiểu thêm tình hình và nối tiếp hoạt động. Triệu đã được chú cho tháp tùng, dự định sẽ thăm thành phố trong một thời gian ngắn rồi về lại Mỹ Long.Khi lên trở lại Sài Gòn, Triệu mới nhận thấy khí thế cách mạng đã thật sự bộc phát trở lại. Không ai còn e dè bàn chuyện chính trị như trước kia. Các tổ chức hội đoàn hoạt động bí mật trước kia nay đã công khai hô hào dân chúng tham gia. Trong khi chú của Triệu đi suốt ngày gặp gỡ bạn bè, hoặc tiếp xúc với các nhiều yếu nhân Nhật, Triệu được các bạn học vùng Tân Bình, Gia Ðịnh móc nối để đẩy mạnh phong trào Truyền bá Quốc ngữ . Mọi người đều ý thức phải lo ngay vấn đề giáo dục quần chúng để chung lo củng cố nền độc lập vừa thấy ló dạng. Những buổi văn nghệ nhỏ đã được tổ chức để giới thiệu và lôi cuốn những người còn mù chữ theo học các lớp Truyền bá Quốc ngữ. Một giáo viên đã giới thiệu cho các buổi trình diễn một học sinh cỡ sáu, bảy tuổi nhưng có một giọng hát hấp dẫn, trong suốt như pha lê. Mỗi lần trình diễn, phải bắt một ghế cao để ca sĩ tí hon này đứng hát cho thiên hạ nghe. Giới bình dân rất tán thưởng khi nghe em ráng gân cổ hát bài: “Gieo Ánh Sáng”
Lòng vui sướng, anh em ơi, tim thấm nồng,Tình đồng bào, trai đời mới,Sao cho nên tiếng trai,Cùng đi gieo khắp nơiVào lòng người đọa đầyCùng đi gieo khắp nơi chữ taNơi hương thôn tối tămÐời mịt mù xót xa,Tiếng kêu than, tiếng kêu vang, đồng quê.Ðánh thức giấc toàn dânChìm đắm trong cơn mê Nhọc nhằn mới nên danh Thanh niên!
Mấy chục năm về sau, Triệu gặp lại em ca sĩ tài hoa nhưng nay lại là một danh tướng của quân đội VNCH đã đánh một trận để đời trước khi miền Nam mất hẳn về tay Cộng sản: “Trận Xuân Lộc”. Ðó là tướng Lê Minh Ðảo.Nỗi vui mừng lớn nhất vào thời buổi này là hôm tiếp đón các nhà cách mạng bị đày từ Côn Ðảo trở về. Bác sĩ Trần Tuấn Phát đã được Thủ tướng Trần Trọng Kim ủy nhiệm liên lạc với Nhật để tổ chức chuyến tàu đưa các nhà ái quốc bị Pháp lưu đày ở Côn Sơn trở về đất liền. Xe đưa các cựu tù nhân từ bến tàu Khánh Hội về Tòa Thanh tra Lao Ðộng đường Trần Hưng Ðạo. Các bạn trẻ học sinh Petrus Ký đã nhận được ngay hình dáng cao lêu nghêu với gương mặt phúc hậu của giáo sư Trần Văn Quế. Gia đình giáo sư đã phải tranh đua với đám thanh niên đang mừng thầy thoát nạn, mới kéo được giáo sư về nhà. Các đoàn thể hoạt động nổi bật lúc bấy giờ là Cao Ðài với tổ chức bán quân sự Hei Ho. Giáo phái Cao Ðài đã được móc nối từ trước với Ðức Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể nên đã tuyển chọn nhân công phụ trách đóng các tàu cây chuyên chở cho quân đội Nhật ở bến Khánh Hội. Ban đêm, các công nhân đóng tàu được huấn luyện thành đội ngũ quân sự.Một nhân vật khác là ông Hồ Văn Ngà đã tổ chức Ðảng Việt Nam Quốc Gia, nay có cơ hội công khai phát triển đảng thành đảng Quốc Gia Ðộc Lập. Ông là một trong 19 sinh viên Việt Nam đã bị Pháp trục xuất về Việt Nam trên tàu Athos II, rời cảng Marseille ngày 24 tháng 6 năm 1930, sau cuộc biểu tình trước Ðiện Élysée, nơi cư ngụ của Tổng thống Pháp, để kêu gọi giảm án cho các liệt sĩ Yên Bái bị kết tội tử hình. Cùng đi trên tàu về nước là những gương mặt sáng giá trong lịch sử chống thực dân Pháp: Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Tạo, Trần Văn Giàu, Huỳnh Văn Phương...Sau ngày đảo chánh Pháp, chánh quyền Nhật ở Nam Kỳ do Thống đốc Minoda đại diện đã có ý định tổ chức thanh niên như thời Ducoroy. Lãnh sự Iito được bổ sung làm Tổng ủy viên Thanh niên và Thể dục Ðông Dương. Iito đã nhờ Hồ Văn Ngà phụ trách. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là Tổng Bí thơ của đảng Quốc gia Ðộc lập được Hồ Văn Ngà phối hợp với các nhân sĩ như Kha Vạng Cân, Nguyễn Văn Thủ, luật sư Thái Văn Lung.... để tổ chức Thanh Niên Tiền Phong. Ngày 18 tháng 3, 1945 tức hơn một tuần sau ngày Nhật đảo chánh 9 tháng 3, lần đầu tiên ở Sài Gòn đã có một cuộc biểu tình khổng lồ, công khai, trên 50.000 người ở sân thể thao Vườn Ông Thượng. Dân chúng Sài Gòn đã nô nức hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Văn Ngà tham dự lễ tưởng niệm các nhà ái quốc Hoàng Hoa Thám, Phan Ðình Phùng, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học, Nguyễn An Ninh, Dương Bá Trạc. Hài cốt hỏa thiêu của Dương Bá Trạc đã được ông Trần Văn Ân gởi về từ Chiêu Nam (Singapour). Một bàn thờ Tổ Quốc với một đại kỳ màu vàng trên có khắc hai chữ Việt Nam đỏ chói được dựng lên giữa sân, khói trầm nghi ngút. Lần lượt lên diễn đàn có: Hồ Văn Ngà chủ tịch Việt Nam Quốc gia Ðộc lập Ðảng, Trần Quang Vinh đại biểu Cao Ðài, Nguyễn Vĩnh Thạnh đoàn trưởng Cận vệ quân và Nội ứng Nghĩa binh (đã cộng tác với quân đội Nhật trong ngày đảo chánh Pháp), luật sư Diệp Ba... Những lời kêu gọi dân chúng tham gia cùng đứng lên củng cố hàng ngũ quyết tâm xóa tan tàn tích thực dân Pháp, những lời tha thiết tưởng niệm các nhà ái quốc đã từng hy sinh cho đại cuộc chống ngoại xâm, đã được hùng hồn nói lên trong bầu không khí tự do, phấn khởi của một dân tộc không còn e dè, lo ngại kẻ thù như trước. Triệu đã thấy lòng tràn ngập một niềm hãnh diện vô biên trước tương lai xán lạn của đất nước. Triệu nâng niu tờ truyền đơn in trên giấy đỏ hồng, kêu gọi dân chúng tham gia mừng ngày nước Việt vừa thoát ách thực dân. Ðể đánh dấu ngày lịch sử, Triệu đã trân trọng dán tờ truyền đơn vào Nhật ký.Phong trào Thanh Niên Tiền Phong đã vô cùng sôi động, lôi cuốn quần chúng thanh niên, thanh nữ. Ðầu đội nón rơm to vành, đồng phục áo sơ mi tay ngắn trắng, quần sọt xanh dương sậm, trang bị tầm vong vạt nhọn, các đội ngũ thanh niên đã hăng hái xuổng cuốc giúp dọn dẹp các khu dân cư đổ nát vì bom đạn. Những buổi tập hát đồng ca hành khúc tuổi trẻ, các buổi huấn luyện cứu thương đã là những dịp để thanh niên bắt đầu ưa thích hoạt động tập thể. Triệu đã có được dịp về quê ngoại Biên Hòa để sinh hoạt chung với các bạn học cũ. Ðây là thời kỳ tân nhạc được phổ biến và được dân chúng hưởng ứng, tán thưởng. Tuy nhiên, vì trong chương trình học thời bấy giờ, không có giờ dạy nhạc, nên người có kiến thức về nhạc còn rất hiếm. Các bài hành khúc được học và truyền lại, tam sao thất bổn. Triệu và các bạn được phái đi các xóm để dạy lại cho đồng nhất. Triệu vẫn còn nhớ mãi những ngày được một giáo viên vùng Hóa An mời về làng để dạy hát cho toán thanh niên ông phụ trách. Ông nhận thấy là những bài hát ông được nghe ở tỉnh Biên Hòa nó khác xa những bài của các toán của ông. Triệu đã xách đàn mandoline về làng dạy lại nhưng phải tế nhị gây cảm tình để không làm mất lòng những người đã có công dạy trước. Sau buổi lửa trại đêm đầu đến làng, không mùng màn mà trời về đêm ở Biên Hòa thường rất lạnh nên Triệu đã trăn trở không ngủ được. Ðến giữa khuya mới thấy cuộn chiếu quanh người theo dân chúng thường làm, cũng được ấm không thua gì được đắp mền bông. Người nông dân Nam Bộ hay chun vào nóp ngủ, vừa tránh được muỗi mòng lại rất ấm áp. Không hiểu vì sao dân miền núi Biên Hòa lại không dùng nóp?Không khí chính trị tại Sài Gòn đã khởi sắc náo nhiệt vì các báo nay được tự do phát biểu ý kiến, không còn bị kiểm duyệt gắt gao như thời Pháp. Ông Trần Văn Ân đã từ Chiêu Nam trở về và chủ trương tờ Hưng Việt, được coi như tờ báo phát ngôn chánh thức của Hồ Văn Ngà. Báo Thanh Niên của nhóm Huỳnh Tấn Phát, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Nghệ ra đời năm 1943 nhưng bị Pháp đóng cửa sau năm 1944, đã thấy xuất hiện trở lại, lời lẽ không còn phải e dè như thời còn Pháp. Các ý kiến đã thấy có chiều thay đổi vì các anh em sinh viên trong nhóm Tân Dân Chủ, nghe đồn nay đã theo các lớp huấn luyện chính trị của Trần Văn Giàu và được dược sĩ Trần Kim Quan yểm trợ phương tiện. Các buổi học tập do Trần Văn Giàu và Nguyễn Văn Nguyễn phụ trách thường được tổ chức ở văn phòng kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát ở 68-70 đường Mayer ( Ðường Hiền Vương). Việc gì cũng được nhóm Huỳnh Tấn Phát, Huỳnh Văn Tiểng đến hỏi ý kiến của quân sư Trần Văn Giàu.Huỳnh Văn Tiểng có viết trong quyển “Làm Ðẹp Cuộc Ðời” (Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội- 1995, trang 113-114) về việc đã cùng Huỳnh Tấn Phát đến gặp luật sư Huỳnh Văn Phương, chú ruột của Huỳnh Tấn Phát, sau ngày Nhật đảo chánh Pháp. Theo Huỳnh Văn Tiểng, ông Phương có nói: “Tao định sẽ ra làm việc với Nhật. Vì lúc này Việt Minh chưa thể ra được. Tụi bây nói với mấy anh trên việc này. Các anh có cần gì, cho tao hay, tao sẽ tìm cách đáp ứng”. Sau đó Phát và Tiểng đã báo cáo lại với lãnh đạo, thì được trả lời: “Ai làm gì cho đất nước có lợi cho lúc này thì cứ làm”, đồng thời nêu việc cần làm gấp là thay đổi tức khắc bộ máy công an của Pháp để lại và việc cần được trang bị súng. Những người bị Pháp bắt lúc bấy giờ như Trần Văn Trà, Bùi Văn Dự... đã được Huỳnh Văn Phương trả tự do. Huỳnh Văn Tiểng và Huỳnh Tấn Phát có đêm đã đem xe lớn vào bót Catinat chở súng ngắn mới mà ông Phương đã đào tìm ra được vì cò Bazin đã chôn giấu trước khi Nhật đến chiếm. Ông Phương còn để cho Thanh Niên Tiền Phong được sử dụng sân tập bắn của cảnh sát ở Chợ Quán.Thế mà về sau, ngay vào những ngày đầu mở màn cuộc Kháng Chiến Nam Bộ, Trần Văn Giàu đã cùng với Nguyễn Văn Trấn xử tử Huỳnh Văn Phương ở Tân An vì tội “cộng tác với Nhật”!Tờ báo La Lutte của nhóm Ðệ Tứ vào thời buổi này được xuất bản với tên Việt: Tranh Ðấu, có biểu hiệu là hình trái đất tròn, giữa có ánh sét chớp như số 4. Ông Phan Văn Hùm, trước bị Pháp xử biệt cư ở Tân Uyên ( Biên Hòa) nay đã về lại Sài Gòn, thường xuyên có mặt để lo cho tờ báo. Triệu thường theo bạn là Phan Phục Hổ, con ông Hùm đến đây vì thích thú theo dõi nghề làm báo. Hổ và Triệu là hai tay “chạy hiệu” không công, khi ông Hùm cần liên lạc trao đổi giấy tờ trong thành phố. Nơi đây Triệu thường nghe nhiều bàn luận về một nhân vật mà Triệu có được nghe biết tiếng là Ông Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo. Người thường có mặt ở tòa soạn là ông quản lý Lê Văn Vững. Ông cũng là một thủ lãnh Thanh Niên Tiền Phong vùng Da Kao. Phan Văn Hùm mỗi lần thấy ông Vững đến dựng xe đạp trước cửa nhà báo, thường hay gọi đùa “Anh Thủ lãnh đến rồi”. Một hôm có mặt Tạ Thu Thâu và Trần Văn Thạch, ông Vững cười nói: “Các cha cứ lo bàn đại sự mà chưa lo đến đào tạo tổ chức thanh niên”. Ông chỉ vào Hổ và Triệu và nói thêm: “Các anh không lo huấn luyện ngay từ bây giờ mấy thằng “cóc keng” như hai thằng này, ngày sau ai giúp sức các anh. Không lẽ Phạm Ngọc Thạch nó lo tổ chức thành lập Thanh Niên Tiền Phong để nó dâng cho các anh sao?”.Ông Hùm nói thêm: “Còn bao nhiêu việc phải lo. Mỗi tối nghe radio tin tức thế giới dồn dập chiến sự, Ðồng Minh đang trên đà thắng Phát xít, phải lo chỉnh đốn gấp hàng ngũ anh em. Chuyện tổ chức thanh niên gấp đó, các anh em lo giùm một tay. Còn chuyện lớn hơn nữa là tổ chức quần chúng nông dân, chưa làm tới đâu hết!”. Trần Văn Thạch hỏi ông Hùm: “Anh từng nghiên cứu Phật Giáo, ý kiến anh về Huỳnh Phú Sổ ra sao?”.Ông Hùm:
- Tôi viết nhiều về Duy vật Biện Chứng pháp, không phải là người Duy tâm, nhưng nhiều khi có những chuyện không hiểu được. Ban đầu tôi cũng nghi ngờ Huỳnh Phú Sổ, nhưng không hiểu với tuổi còn trẻ và học thức cỡ Sơ học, làm sao ông Sổ lại có được kiến thức Phật giáo rất uyên thâm, dịch rất sát các lời chú nguyện và kinh Phật, làm được cả thơ chữ Hán?. Cách thực hành Phật giáo một cách bình dân của ông là theo Phật Thầy Tây An, nhưng đó mới thật là đúng lời Phật dạy, không thờ phượng hình tướng, không xây dựng chùa chiền, không sử dụng chuông mõ. Nói về cả Phật Thích Ca, anh Thâu là dân thích Toán và Khoa học, anh nên nhớ là hơn 2400 năm về trước, với khả năng quán chiếu, Phật đã biết trong chén nước uống có bao nhiêu sanh vật tí ti, Phật đã biết vũ trụ có trên ba ngàn đại thiên thế giới trong đó giải ngân hà của mình chỉ là một đơn vị nhỏ nhoi. Mình không muốn đụng đến một tôn giáo khác nhưng phải nói trong lúc đó, ngay khoảng thế kỷ 14, các ông tu sĩ giáo phái nầy vẫn còn lay hoay kết tội những người như Galilé, đã khám phá là trái đất tròn và quay xung quanh mặt trời. Sau cuộc Nam Kỳ Khởi Nghĩa thất bại, nông dân đã quy tụ theo ông Huỳnh Phú Sổ. Nay có hằng triệu tín đồ nông dân được ông giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo hướng dẫn theo tinh thần công bình xã hội. Không giúp ông Sổ, coi chừng tụi staliniên nó nhảy vào chớp hết.Ông Thạch nói đùa:
- Người ta gọi anh Hùm là ông ba rưởi thiệt rất đúng: Ðệ tứ không ra Ðệ tứ, Ðệ tam nó cũng không ưa.
Lê Văn Vững thêm vào:
- Tôi và anh thợ trồng răng (Ouvrier dentaire) Lê Tường Khai, tụi tôi ở gần rạp Asam và Casino Dakao xin làm chứng việc này: Mấy lần anh Hùm đọc diễn văn ở rạp Casino, vợ ảnh, chị Mai Huỳnh Hoa là người to tiếng nhất hô: “Ðả đảo Phan Văn Hùm”.Tạ Thu Thâu cười nhưng nghiêm nghị:
-Tôi cần đi ra Bắc trong nay mai, xin nhờ anh Hùm cho tôi gặp lại ông Huỳnh Phú Sổ trước khi đi. Mình cũng nên làm các điện văn kêu gọi Pháp thả về nước ông Phạm Công Tắc bên Cao Ðài và hai anh Ngô Chỉnh Phến cùng Ðào Hưng Long của mình còn bị tụi nó giam ở Madagascar. Ðó là lần chót Triệu còn ghi trong ký ức hình ảnh giáo sư và nhà ái quốc mang kính cận thị nặng, da ngăm đen, mình cao trên hơn một thước bảy (1), lãnh tụ Ðệ Tứ Việt Nam: Tạ Thu Thâu.(1) Một nhà văn có viết về “Tạ Thu Thâu, mình cao một thước tám”. Năm 2007, một nhân vật ở Quảng Ngãi đã gởi cho bà Tạ Thu Thâu ở Pháp một thẻ căn cước của Tạ Thu Thâu do chánh quyền Pháp cấp ngày 8-4-1926. Di vật này được một chứng nhân lưu giữ sau khi Tạ Thu Thâu bị giết ở bờ biển Mỹ Khê. Căn cước ghi: “Tạ Thu Thâu, Giáo sư, sanh năm 1904, cao 1m 73”. (T.N.P.)
Ông đã dẫn đường khai lối cho sự phát triển về sau của nhiều người theo dấu chân lập nghiệp. Cách bố trí để tạo dựng đất hoang thành vườn, đã được nhiều dân chúng áp dụng. Dọc theo bờ sông, ông trồng vông gai để ghe thuyền không thể cập bờ bừa bãi. Kế đến là trồng các hàng dừa để có hoa lợi thường xuyên trong năm. Vì vườn nằm dọc theo sông cái, thường có gió to nên ông lại trồng thêm một hàng me nước, thân cây có tiếng rất dẻo để cản gió. Sau đó mới đào mương song song để trồng cam, quít vốn chịu loại đất của tỉnh Sa Ðéc.Tỉnh Sa Ðéc là nơi Pháp đã chỉ định an trí cho một số nhân vật cách mạng bị Pháp đày vào Nam vì có liên quan đến phong trào Ðông Kinh Nghĩa Thục. Ðặc biệt ngay tỉnh lỵ, có cụ Cử Vũ Hoành. Nhà Cụ thường có khách và các đồng chí tứ phương đến thăm viếng. Pháp cho đặt gần nhà Cụ một quán nước để nhân viên mật thám có nơi canh gác, theo dõi các khách tới lui. Nhắc đến ông, chỉ cần gọi Cụ Cử thì dân Sa Ðéc đều biết. Cụ có dáng ngồi và đi đứng đặc biệt: lưng lúc nào cũng giữ rất thẳng. Cụ thường nói với con cháu: “Lưng tao thẳng vì tao không lòn cúi ai”.Những nhà cách mạng bị Pháp đày vùng Sa Ðéc sống rất khắng khít với nhau. Các chú của Triệu đều ở trọ nhà Cụ Cử khi đến lúc phải theo học trường Tỉnh. Những ngày gần Tết, các chú sau khi đi giẫy mã các thân nhân, đều có phận sự phải giẫy cho mộ của ông Phó bảng Huy, thân phụ của Nguyễn Ái Quốc, trên đường từ làng đến quận Cao Lãnh. Vào thời đó, Nguyễn Ái Quốc chưa mang tên Hồ Chí Minh. Ông Phó Bảng đã mất ở Cao Lãnh trên bước đường luân lạc vào Nam. Sau năm 1975, từ một nấm mộ đất nhỏ bên đường, giữa những nấm mồ vô chủ khác sau Miễu Trời Sanh, nay ngôi mả lại được trùng tu, xây thành một lăng tẩm uy nghi, đồ sộ!Triệu về quê nội, mang trong hành trang một sách tự học Anh văn “L’Anglais sans Maitre” của Xavier de Bouges và bộ “Hán văn Tự học” của Nguyễn Văn Ba. Gia đình bên nội của Triệu vốn từng tham gia các phong trào cách mạng nên tiên đoán là thời cuộc thế giới và trong xứ sắp qua nhiều biến chuyển, xáo trộn. Việc học hành có thể sẽ không suông sẻ như trước.Trong gia đình bên nội, đã từng có cái thông lệ là con cháu trưởng thành được khuyến khích đi xa lập nghiệp, bay nhảy nhưng nếu gặp trắc trở không may, có thể trở về co rụm lại trong đại gia đình bên nội, chuẩn bị những bước tiến mới.Người chú thứ Sáu có phận sự lên Sài Gòn đem Triệu tản cư về quê, vốn đã có một thời gian sống ở Cam Bốt và Thái, hoạt động kinh tài cho các cơ sở cách mạng. Chú là người sống độc thân, tham gia tranh đấu sau khi được qua cái lò huấn luyện của cụ Cử Hoành, nên vẫn được ông nội Triệu thương quý. Chú Sáu Triệu đã phải bỏ công việc làm ăn đang phát đạt ở Nam Vang sau khi được ông nội của Triệu vì thương nhớ con nên gởi cho chú một bài thơ:
Lóng nghe tàu thổiLóng nghe tàu thổi dạ trông con,Chẳng thấy con về dạ héo von,Nhỏ dại nào rời cha với mẹ,Lớn khôn bao quản nước cùng non.Trời Xiêm mắt ngó hơi chưa mỏi,Ðất Thổ chơn đi dấu đã mòn,Buôn bán nhịp rồi nghe cũng khá,Lóng nghe tàu thổi dạ trông con.
Vì bài thơ của cha gởi nhắn nên chú Sáu của Triệu đã giao phó lại trách nhiệm cho các bạn để trở về, chuyển hướng hoạt động để sống gần nhà. Ngay trước khi rời Nam Vang, chú thấy trong ga ra còn một thùng xăng lớn nên chở tặng một đồng chí thương gia. Hai người cùng đi trên xe nhưng không may bị xe khác đụng. Xe cháy, chú thoát nạn, nhưng đồng chí ngồi cùng xe bị chết cháy. Bao nhiêu của cải riêng tư của chú cũng bị thiêu hủy. Pháp vốn đã từng theo dõi các hoạt động của các đoàn thể, nên truy tố việc này như một cuộc thanh toán đảng phái. Vì vậy, chẳng những chú của Triệu trở thành trắng tay, mà gia đình còn phải tốn kém nhiều tiền của, tranh tụng trước pháp đình để chú thoát vòng tù tội. Trong gia đình từ đó đã coi đất Miên là một miền đất linh thiêng như dân miền Nam thường bảo nhau: “Nam Vang đi dễ, khó về”. Có lẽ vì mang trong đầu ý nghĩ đó nên về sau này Triệu đã thoát nạn trong gang tấc khi có dịp hành sử trên đất Miên trong dịp đưa Việt kiều hồi hương lánh nạn.Ðược về sống ở đồng ruộng, xa hẳn thị thành, Triệu mới thực sự hiểu được nỗi buồn khi trong đêm vắng, nghe được hồi còi tàu vang dội đưa đến từ sông Cái xa xôi. Sau này lớn lên sống nhiều năm xa đất nước, những khi nghe được còi tàu lanh lảnh báo hiệu để tránh nhau (Corne des brumes) trong các đêm sương mù dầy đặc ở cửa biển Gironde, Bordeaux ở Pháp hoặc ở vịnh San Francisco ở Mỹ, Triệu mới thấm thía nỗi buồn xa xứ. Mỗi lần như vậy, Triệu luôn nhớ đến một đoạn thơ của người chú thứ Sáu thân mến, một đời thương dân, thương nước, nhưng rồi cũng bị Cộng sản thủ tiêu vì khác chánh kiến. Khi bôn ba trên đất Xiêm, đất Thổ, chú có bài “Ðất khách gặp bạn”:
Ngàn dậm xa xôi gặp cố tri,Nỗi mừng rơ rỡ biết mần ri!Mặt ngơ ngẩn mặt trơ như gỗ,Tay bắt chặt tay biết thốt gì.Muốn hỏi bạn chừ về cố quốc?Lại e tự tủi phận còn đi...
Mặc dầu mang tiếng là về làng tản cư tránh bom đạn, nhưng vì tất cả mọi người trong đại gia đình đều có phân công phân việc hằng ngày nên Triệu cũng phải có những giờ giấc học tập nhất định. Mỗi sáng Triệu tự học Hán văn theo sách chỉ dẫn của Nguyễn Văn Ba. Ðây là những giờ thích thú nhất vì tự do học được các thi, phú của các thi hào danh tiếng như “Quy khứ lai từ” của Ðào Tiềm, hoặc “Tiền Xích Bích”, “Hậu Xích Bích”... của Tô Ðông Pha... Sau hai giờ học tự do đó phải ăn mặc chỉnh tề vì đến giờ học với ông nội. Sáng sớm khí trời còn mát nên Ông lo việc vườn tược. Khi mặt trời đã lên cao, trời bắt đầu nóng, Ông mới vào nhà giảng sách cho các cháu. Trong gia đình, có những buổi mọi người phải mặc áo quần sạch sẽ mới được phép ngồi vào bàn. Ðó là vào giờ cơm, để tỏ lòng biết ơn các nông dân đã sản xuất thức ăn và khi ngồi vào bàn học để tỏ lòng kính trọng với bực hiền triết. Mặc dầu việc giảng dạy được thực hành theo lối dạy cổ điển nên nhiều khi học rất ngán, nhưng vì được nghe đi, nghe lại nhiều lần, những câu như “Ðại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện...” nên kết quả là những lời cổ nhân đã thật sự dần dần thấm vào tâm não nên không thể quên được.Buổi chiều, thời gian dành tự học Anh văn, Triệu được hoàn toàn tự do, thoải mái tự sắp xếp công việc. Ở nhà quê, tối chỉ có đèn dầu dừa vừa đủ sáng, không thể học hành gì được nên cả nhà thường phải đi ngủ sớm, chỉ trừ bà nội Triệu lần chuỗi đọc kinh trước bàn Phật.Sáng tinh sương, Triệu thích nhất là nằm nghe được tiếng ông Nội thức từ sớm, vừa ngồi thưởng thức uống trà, vừa kể cho con cháu nghe những chuyện hay, tích cũ, những kinh nghiệm Ông đã trải qua để hướng dẫn lớp hậu sinh. Triệu và các con cháu trong nhà thường gọi các chuyện đó là “Những bài học lúc rạng đông”, khó có thể quên được. Nhờ lối kiến trúc cổ điển nhà ba gian, hai chái, đại gia đình cùng sống quây quần, nên Triệu mới có được cơ hội được dạy dỗ như thế. Ngày nay, với kiến trúc tân thời, nhà được xây cất với những phòng riêng biệt, cơ hội được cùng học hỏi như vậy thật khó có thể thực hiện.Cuộc sống tản cư êm đềm trôi qua. Ở quê, không điện, không có radio, chỉ vài hôm có được vài tờ báo từ Sài Gòn gởi về, khiến Triệu mù tịt tin tức.Nhưng bỗng một hôm, có người liên lạc cấp tốc từ Sài Gòn về cho hay Nhật đã lật đổ chánh quyền Decoux. Dân chúng quận Cao Lãnh gấp rút chuẩn bị họp mít tinh. Những nhân vật cách mạng bấy lâu mai danh ẩn tích trong vùng Cao Lãnh, sau cuộc đàn áp của Pháp vào thời Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nay bắt đầu xuất hiện. Những ý kiến chính trị khác biệt đã bắt đầu ló dạng. Một số đông dân chúng vui mừng thấy chánh quyền thực dân Pháp đã bị lật đổ sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, vua Bảo Ðại đã tuyên bố hủy bỏ các hòa ước bị Pháp bắt buộc ký từ trước, một nội các Việt Nam sắp được thành hình... Nhưng thỉnh thoảng cũng thấy ít nhiều truyền đơn dán ở các gốc cây, ở các chợ, hô hào chống “phát xít Nhật”. Ðất Cao Lãnh là một trong các nôi cách mạng miền Nam, những việc thay đổi thường bắt nguồn trước tiên ở đây.Mặc dầu sau cuộc đảo chính Pháp, đại diện Nhật có tuyên bố là Nam Kỳ vẫn giữ tình trạng không thuộc triều đình Huế nhưng vì không còn sự hiện diện của chánh quyền cai trị Pháp nên các hoạt động chánh trị đã ào ạt xuất hiện. Nhà cụ Cử Vũ Hoành lúc này tấp nập khách vì không ai còn sợ bị mật thám Pháp theo dõi khi đến thăm cụ. Chú Sáu của Triệu được cụ khuyên là nên trở lên Sài Gòn tìm hiểu thêm tình hình và nối tiếp hoạt động. Triệu đã được chú cho tháp tùng, dự định sẽ thăm thành phố trong một thời gian ngắn rồi về lại Mỹ Long.Khi lên trở lại Sài Gòn, Triệu mới nhận thấy khí thế cách mạng đã thật sự bộc phát trở lại. Không ai còn e dè bàn chuyện chính trị như trước kia. Các tổ chức hội đoàn hoạt động bí mật trước kia nay đã công khai hô hào dân chúng tham gia. Trong khi chú của Triệu đi suốt ngày gặp gỡ bạn bè, hoặc tiếp xúc với các nhiều yếu nhân Nhật, Triệu được các bạn học vùng Tân Bình, Gia Ðịnh móc nối để đẩy mạnh phong trào Truyền bá Quốc ngữ . Mọi người đều ý thức phải lo ngay vấn đề giáo dục quần chúng để chung lo củng cố nền độc lập vừa thấy ló dạng. Những buổi văn nghệ nhỏ đã được tổ chức để giới thiệu và lôi cuốn những người còn mù chữ theo học các lớp Truyền bá Quốc ngữ. Một giáo viên đã giới thiệu cho các buổi trình diễn một học sinh cỡ sáu, bảy tuổi nhưng có một giọng hát hấp dẫn, trong suốt như pha lê. Mỗi lần trình diễn, phải bắt một ghế cao để ca sĩ tí hon này đứng hát cho thiên hạ nghe. Giới bình dân rất tán thưởng khi nghe em ráng gân cổ hát bài: “Gieo Ánh Sáng”
Lòng vui sướng, anh em ơi, tim thấm nồng,Tình đồng bào, trai đời mới,Sao cho nên tiếng trai,Cùng đi gieo khắp nơiVào lòng người đọa đầyCùng đi gieo khắp nơi chữ taNơi hương thôn tối tămÐời mịt mù xót xa,Tiếng kêu than, tiếng kêu vang, đồng quê.Ðánh thức giấc toàn dânChìm đắm trong cơn mê Nhọc nhằn mới nên danh Thanh niên!
Mấy chục năm về sau, Triệu gặp lại em ca sĩ tài hoa nhưng nay lại là một danh tướng của quân đội VNCH đã đánh một trận để đời trước khi miền Nam mất hẳn về tay Cộng sản: “Trận Xuân Lộc”. Ðó là tướng Lê Minh Ðảo.Nỗi vui mừng lớn nhất vào thời buổi này là hôm tiếp đón các nhà cách mạng bị đày từ Côn Ðảo trở về. Bác sĩ Trần Tuấn Phát đã được Thủ tướng Trần Trọng Kim ủy nhiệm liên lạc với Nhật để tổ chức chuyến tàu đưa các nhà ái quốc bị Pháp lưu đày ở Côn Sơn trở về đất liền. Xe đưa các cựu tù nhân từ bến tàu Khánh Hội về Tòa Thanh tra Lao Ðộng đường Trần Hưng Ðạo. Các bạn trẻ học sinh Petrus Ký đã nhận được ngay hình dáng cao lêu nghêu với gương mặt phúc hậu của giáo sư Trần Văn Quế. Gia đình giáo sư đã phải tranh đua với đám thanh niên đang mừng thầy thoát nạn, mới kéo được giáo sư về nhà. Các đoàn thể hoạt động nổi bật lúc bấy giờ là Cao Ðài với tổ chức bán quân sự Hei Ho. Giáo phái Cao Ðài đã được móc nối từ trước với Ðức Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể nên đã tuyển chọn nhân công phụ trách đóng các tàu cây chuyên chở cho quân đội Nhật ở bến Khánh Hội. Ban đêm, các công nhân đóng tàu được huấn luyện thành đội ngũ quân sự.Một nhân vật khác là ông Hồ Văn Ngà đã tổ chức Ðảng Việt Nam Quốc Gia, nay có cơ hội công khai phát triển đảng thành đảng Quốc Gia Ðộc Lập. Ông là một trong 19 sinh viên Việt Nam đã bị Pháp trục xuất về Việt Nam trên tàu Athos II, rời cảng Marseille ngày 24 tháng 6 năm 1930, sau cuộc biểu tình trước Ðiện Élysée, nơi cư ngụ của Tổng thống Pháp, để kêu gọi giảm án cho các liệt sĩ Yên Bái bị kết tội tử hình. Cùng đi trên tàu về nước là những gương mặt sáng giá trong lịch sử chống thực dân Pháp: Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Tạo, Trần Văn Giàu, Huỳnh Văn Phương...Sau ngày đảo chánh Pháp, chánh quyền Nhật ở Nam Kỳ do Thống đốc Minoda đại diện đã có ý định tổ chức thanh niên như thời Ducoroy. Lãnh sự Iito được bổ sung làm Tổng ủy viên Thanh niên và Thể dục Ðông Dương. Iito đã nhờ Hồ Văn Ngà phụ trách. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là Tổng Bí thơ của đảng Quốc gia Ðộc lập được Hồ Văn Ngà phối hợp với các nhân sĩ như Kha Vạng Cân, Nguyễn Văn Thủ, luật sư Thái Văn Lung.... để tổ chức Thanh Niên Tiền Phong. Ngày 18 tháng 3, 1945 tức hơn một tuần sau ngày Nhật đảo chánh 9 tháng 3, lần đầu tiên ở Sài Gòn đã có một cuộc biểu tình khổng lồ, công khai, trên 50.000 người ở sân thể thao Vườn Ông Thượng. Dân chúng Sài Gòn đã nô nức hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Văn Ngà tham dự lễ tưởng niệm các nhà ái quốc Hoàng Hoa Thám, Phan Ðình Phùng, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học, Nguyễn An Ninh, Dương Bá Trạc. Hài cốt hỏa thiêu của Dương Bá Trạc đã được ông Trần Văn Ân gởi về từ Chiêu Nam (Singapour). Một bàn thờ Tổ Quốc với một đại kỳ màu vàng trên có khắc hai chữ Việt Nam đỏ chói được dựng lên giữa sân, khói trầm nghi ngút. Lần lượt lên diễn đàn có: Hồ Văn Ngà chủ tịch Việt Nam Quốc gia Ðộc lập Ðảng, Trần Quang Vinh đại biểu Cao Ðài, Nguyễn Vĩnh Thạnh đoàn trưởng Cận vệ quân và Nội ứng Nghĩa binh (đã cộng tác với quân đội Nhật trong ngày đảo chánh Pháp), luật sư Diệp Ba... Những lời kêu gọi dân chúng tham gia cùng đứng lên củng cố hàng ngũ quyết tâm xóa tan tàn tích thực dân Pháp, những lời tha thiết tưởng niệm các nhà ái quốc đã từng hy sinh cho đại cuộc chống ngoại xâm, đã được hùng hồn nói lên trong bầu không khí tự do, phấn khởi của một dân tộc không còn e dè, lo ngại kẻ thù như trước. Triệu đã thấy lòng tràn ngập một niềm hãnh diện vô biên trước tương lai xán lạn của đất nước. Triệu nâng niu tờ truyền đơn in trên giấy đỏ hồng, kêu gọi dân chúng tham gia mừng ngày nước Việt vừa thoát ách thực dân. Ðể đánh dấu ngày lịch sử, Triệu đã trân trọng dán tờ truyền đơn vào Nhật ký.Phong trào Thanh Niên Tiền Phong đã vô cùng sôi động, lôi cuốn quần chúng thanh niên, thanh nữ. Ðầu đội nón rơm to vành, đồng phục áo sơ mi tay ngắn trắng, quần sọt xanh dương sậm, trang bị tầm vong vạt nhọn, các đội ngũ thanh niên đã hăng hái xuổng cuốc giúp dọn dẹp các khu dân cư đổ nát vì bom đạn. Những buổi tập hát đồng ca hành khúc tuổi trẻ, các buổi huấn luyện cứu thương đã là những dịp để thanh niên bắt đầu ưa thích hoạt động tập thể. Triệu đã có được dịp về quê ngoại Biên Hòa để sinh hoạt chung với các bạn học cũ. Ðây là thời kỳ tân nhạc được phổ biến và được dân chúng hưởng ứng, tán thưởng. Tuy nhiên, vì trong chương trình học thời bấy giờ, không có giờ dạy nhạc, nên người có kiến thức về nhạc còn rất hiếm. Các bài hành khúc được học và truyền lại, tam sao thất bổn. Triệu và các bạn được phái đi các xóm để dạy lại cho đồng nhất. Triệu vẫn còn nhớ mãi những ngày được một giáo viên vùng Hóa An mời về làng để dạy hát cho toán thanh niên ông phụ trách. Ông nhận thấy là những bài hát ông được nghe ở tỉnh Biên Hòa nó khác xa những bài của các toán của ông. Triệu đã xách đàn mandoline về làng dạy lại nhưng phải tế nhị gây cảm tình để không làm mất lòng những người đã có công dạy trước. Sau buổi lửa trại đêm đầu đến làng, không mùng màn mà trời về đêm ở Biên Hòa thường rất lạnh nên Triệu đã trăn trở không ngủ được. Ðến giữa khuya mới thấy cuộn chiếu quanh người theo dân chúng thường làm, cũng được ấm không thua gì được đắp mền bông. Người nông dân Nam Bộ hay chun vào nóp ngủ, vừa tránh được muỗi mòng lại rất ấm áp. Không hiểu vì sao dân miền núi Biên Hòa lại không dùng nóp?Không khí chính trị tại Sài Gòn đã khởi sắc náo nhiệt vì các báo nay được tự do phát biểu ý kiến, không còn bị kiểm duyệt gắt gao như thời Pháp. Ông Trần Văn Ân đã từ Chiêu Nam trở về và chủ trương tờ Hưng Việt, được coi như tờ báo phát ngôn chánh thức của Hồ Văn Ngà. Báo Thanh Niên của nhóm Huỳnh Tấn Phát, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Nghệ ra đời năm 1943 nhưng bị Pháp đóng cửa sau năm 1944, đã thấy xuất hiện trở lại, lời lẽ không còn phải e dè như thời còn Pháp. Các ý kiến đã thấy có chiều thay đổi vì các anh em sinh viên trong nhóm Tân Dân Chủ, nghe đồn nay đã theo các lớp huấn luyện chính trị của Trần Văn Giàu và được dược sĩ Trần Kim Quan yểm trợ phương tiện. Các buổi học tập do Trần Văn Giàu và Nguyễn Văn Nguyễn phụ trách thường được tổ chức ở văn phòng kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát ở 68-70 đường Mayer ( Ðường Hiền Vương). Việc gì cũng được nhóm Huỳnh Tấn Phát, Huỳnh Văn Tiểng đến hỏi ý kiến của quân sư Trần Văn Giàu.Huỳnh Văn Tiểng có viết trong quyển “Làm Ðẹp Cuộc Ðời” (Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội- 1995, trang 113-114) về việc đã cùng Huỳnh Tấn Phát đến gặp luật sư Huỳnh Văn Phương, chú ruột của Huỳnh Tấn Phát, sau ngày Nhật đảo chánh Pháp. Theo Huỳnh Văn Tiểng, ông Phương có nói: “Tao định sẽ ra làm việc với Nhật. Vì lúc này Việt Minh chưa thể ra được. Tụi bây nói với mấy anh trên việc này. Các anh có cần gì, cho tao hay, tao sẽ tìm cách đáp ứng”. Sau đó Phát và Tiểng đã báo cáo lại với lãnh đạo, thì được trả lời: “Ai làm gì cho đất nước có lợi cho lúc này thì cứ làm”, đồng thời nêu việc cần làm gấp là thay đổi tức khắc bộ máy công an của Pháp để lại và việc cần được trang bị súng. Những người bị Pháp bắt lúc bấy giờ như Trần Văn Trà, Bùi Văn Dự... đã được Huỳnh Văn Phương trả tự do. Huỳnh Văn Tiểng và Huỳnh Tấn Phát có đêm đã đem xe lớn vào bót Catinat chở súng ngắn mới mà ông Phương đã đào tìm ra được vì cò Bazin đã chôn giấu trước khi Nhật đến chiếm. Ông Phương còn để cho Thanh Niên Tiền Phong được sử dụng sân tập bắn của cảnh sát ở Chợ Quán.Thế mà về sau, ngay vào những ngày đầu mở màn cuộc Kháng Chiến Nam Bộ, Trần Văn Giàu đã cùng với Nguyễn Văn Trấn xử tử Huỳnh Văn Phương ở Tân An vì tội “cộng tác với Nhật”!Tờ báo La Lutte của nhóm Ðệ Tứ vào thời buổi này được xuất bản với tên Việt: Tranh Ðấu, có biểu hiệu là hình trái đất tròn, giữa có ánh sét chớp như số 4. Ông Phan Văn Hùm, trước bị Pháp xử biệt cư ở Tân Uyên ( Biên Hòa) nay đã về lại Sài Gòn, thường xuyên có mặt để lo cho tờ báo. Triệu thường theo bạn là Phan Phục Hổ, con ông Hùm đến đây vì thích thú theo dõi nghề làm báo. Hổ và Triệu là hai tay “chạy hiệu” không công, khi ông Hùm cần liên lạc trao đổi giấy tờ trong thành phố. Nơi đây Triệu thường nghe nhiều bàn luận về một nhân vật mà Triệu có được nghe biết tiếng là Ông Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo. Người thường có mặt ở tòa soạn là ông quản lý Lê Văn Vững. Ông cũng là một thủ lãnh Thanh Niên Tiền Phong vùng Da Kao. Phan Văn Hùm mỗi lần thấy ông Vững đến dựng xe đạp trước cửa nhà báo, thường hay gọi đùa “Anh Thủ lãnh đến rồi”. Một hôm có mặt Tạ Thu Thâu và Trần Văn Thạch, ông Vững cười nói: “Các cha cứ lo bàn đại sự mà chưa lo đến đào tạo tổ chức thanh niên”. Ông chỉ vào Hổ và Triệu và nói thêm: “Các anh không lo huấn luyện ngay từ bây giờ mấy thằng “cóc keng” như hai thằng này, ngày sau ai giúp sức các anh. Không lẽ Phạm Ngọc Thạch nó lo tổ chức thành lập Thanh Niên Tiền Phong để nó dâng cho các anh sao?”.Ông Hùm nói thêm: “Còn bao nhiêu việc phải lo. Mỗi tối nghe radio tin tức thế giới dồn dập chiến sự, Ðồng Minh đang trên đà thắng Phát xít, phải lo chỉnh đốn gấp hàng ngũ anh em. Chuyện tổ chức thanh niên gấp đó, các anh em lo giùm một tay. Còn chuyện lớn hơn nữa là tổ chức quần chúng nông dân, chưa làm tới đâu hết!”. Trần Văn Thạch hỏi ông Hùm: “Anh từng nghiên cứu Phật Giáo, ý kiến anh về Huỳnh Phú Sổ ra sao?”.Ông Hùm:
- Tôi viết nhiều về Duy vật Biện Chứng pháp, không phải là người Duy tâm, nhưng nhiều khi có những chuyện không hiểu được. Ban đầu tôi cũng nghi ngờ Huỳnh Phú Sổ, nhưng không hiểu với tuổi còn trẻ và học thức cỡ Sơ học, làm sao ông Sổ lại có được kiến thức Phật giáo rất uyên thâm, dịch rất sát các lời chú nguyện và kinh Phật, làm được cả thơ chữ Hán?. Cách thực hành Phật giáo một cách bình dân của ông là theo Phật Thầy Tây An, nhưng đó mới thật là đúng lời Phật dạy, không thờ phượng hình tướng, không xây dựng chùa chiền, không sử dụng chuông mõ. Nói về cả Phật Thích Ca, anh Thâu là dân thích Toán và Khoa học, anh nên nhớ là hơn 2400 năm về trước, với khả năng quán chiếu, Phật đã biết trong chén nước uống có bao nhiêu sanh vật tí ti, Phật đã biết vũ trụ có trên ba ngàn đại thiên thế giới trong đó giải ngân hà của mình chỉ là một đơn vị nhỏ nhoi. Mình không muốn đụng đến một tôn giáo khác nhưng phải nói trong lúc đó, ngay khoảng thế kỷ 14, các ông tu sĩ giáo phái nầy vẫn còn lay hoay kết tội những người như Galilé, đã khám phá là trái đất tròn và quay xung quanh mặt trời. Sau cuộc Nam Kỳ Khởi Nghĩa thất bại, nông dân đã quy tụ theo ông Huỳnh Phú Sổ. Nay có hằng triệu tín đồ nông dân được ông giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo hướng dẫn theo tinh thần công bình xã hội. Không giúp ông Sổ, coi chừng tụi staliniên nó nhảy vào chớp hết.Ông Thạch nói đùa:
- Người ta gọi anh Hùm là ông ba rưởi thiệt rất đúng: Ðệ tứ không ra Ðệ tứ, Ðệ tam nó cũng không ưa.
Lê Văn Vững thêm vào:
- Tôi và anh thợ trồng răng (Ouvrier dentaire) Lê Tường Khai, tụi tôi ở gần rạp Asam và Casino Dakao xin làm chứng việc này: Mấy lần anh Hùm đọc diễn văn ở rạp Casino, vợ ảnh, chị Mai Huỳnh Hoa là người to tiếng nhất hô: “Ðả đảo Phan Văn Hùm”.Tạ Thu Thâu cười nhưng nghiêm nghị:
-Tôi cần đi ra Bắc trong nay mai, xin nhờ anh Hùm cho tôi gặp lại ông Huỳnh Phú Sổ trước khi đi. Mình cũng nên làm các điện văn kêu gọi Pháp thả về nước ông Phạm Công Tắc bên Cao Ðài và hai anh Ngô Chỉnh Phến cùng Ðào Hưng Long của mình còn bị tụi nó giam ở Madagascar. Ðó là lần chót Triệu còn ghi trong ký ức hình ảnh giáo sư và nhà ái quốc mang kính cận thị nặng, da ngăm đen, mình cao trên hơn một thước bảy (1), lãnh tụ Ðệ Tứ Việt Nam: Tạ Thu Thâu.(1) Một nhà văn có viết về “Tạ Thu Thâu, mình cao một thước tám”. Năm 2007, một nhân vật ở Quảng Ngãi đã gởi cho bà Tạ Thu Thâu ở Pháp một thẻ căn cước của Tạ Thu Thâu do chánh quyền Pháp cấp ngày 8-4-1926. Di vật này được một chứng nhân lưu giữ sau khi Tạ Thu Thâu bị giết ở bờ biển Mỹ Khê. Căn cước ghi: “Tạ Thu Thâu, Giáo sư, sanh năm 1904, cao 1m 73”. (T.N.P.)
GIÓ MÙA ĐÔNG BẮC (Chương 5) Phong trào Thanh niên
Trong ý định tìm cách hướng dẫn đánh lạc tâm lý quần chúng, để họ quên đi các biến chuyển thời cuộc, nhà cầm quyền thực dân Pháp đã bày vẽ nhiều hoạt động mới ở Ðông Dương. Nối theo kinh nghiệm đã thành công ở Hà Nội năm trước, Sài Gòn cũng rầm rộ tổẩ chức một hội chợ triểẩn lãm tại vườn Ông Thượng để lôi cuốn dân chúng đến vui chơi. Ðây là một cơ hội để trình bày các phẩm vật sản xuất ở Ðông Dương với ý định tìm cách thay thế các sản phẩm từng phải nhập cảng từ Pháp, trước chiến tranh. Phần lớn các món hàng này đều thuộc về loại tiêu thụ thông thường như thuốc lá, nước ngọt, nước trái cây, quần áo dệt trong xứ... Các trò chơi vui nhộn thì được chú ý bày vẽ rất nhiều. Toàn thể họa đồ khu vực triển lãm được một kiến trúc sư Việt phác họa, một kiến trúc sư mà tên tuổi sẽ được nhắc nhở rất nhiều về sau: kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Chủ tịch Chánh phủ Cộng Hòa Lâm thời Miền Nam trong thập niên 1970!Decoux còn chỉ định Ðại tá Maurice Ducoroy thành lập Tổng cục Thể dục, Thể thao và Thanh niên. Một trường Cao Ðẳng Thể Dục được thành lập ở Phan Thiết (E.S.E.P.I.C. tức École Supérieure de l’Éducation Physique de l’Indochine). Ðại tướng Dương Văn Minh khi chưa vào quân đội là người đã tốt nghiệp khóa đầu tiên của trường nầy.Phong trào thể dục, thể thao nở rầm rộ để lôi cuốn thanh niên. Cuộc đua xe đạp nối liền Nam Vang, Vạn Tượng, Hà Nội, Huế, Sài Gòn với các tay đua Vũ Văn Thân ở Bắc, Lê Thành Các trong Nam là đề tài bàn tán hằng ngày trên các báo hoặc ở các quán rượu, quán ăn... Các tổ chức thanh niên được khuyến khích thành lập, nhằm phổ biến các lời kêu gọi của Thống chế Pétain. Học sinh các trường được hướng dẫn tham gia các buổi tập hợp đốt đuốc ngoài trời ở sân vận động Lareynière hay trước Thảo cầm viên vào buổi tối.Thừa cơ hội này, việc tổ chức đoàn ngũ thanh niên đã được các tổ chức chánh trị âm thầm bắt đầu thực hiện. Các bài hát thanh niên cũng như các bản âm mhạc cải cách rất hiếm vào thời buổi ấy. Anh Trần Văn Khê, sinh viên đại học mới vừa học xong năm thứ nhất Y khoa ở Hà Nội về, ghé trường cũ để tiếp xúc với học sinh. Anh đã trình bày cho đàn em các bản tân nhạc hùng tráng: “Sinh viên Hành khúc” (Marche des Étudiants), “Bạch Ðằng Giang”, “Lên đường”... của Lưu Hữu Phước. Anh quảng cáo mời học sinh tham dự buổi ca, nhạc, kịch sẽ tổ chức tại Nhà hát Tây (Théâtre Municipal) do phân bộ miền Nam của Tổng hội Sinh viên Ðông Dương thực hiện. Các anh em trong toán của Triệu đã được Trần Văn Khê và các anh khác tuyển chọn để tập trình diễn các hợp ca Sinh viên Hành khúc, Bạch Ðằng Giang, Ải Chi Lăng... Lần đầu tiên, bản Con Thuyền Không Bến được ra mắt ở Sài Gòn do một nữ sinh viên là chị Sương trình bày. Chị Sương về sau sẽ là vợ anh Khê.Anh em Triệu rất phấn khởi được góp phần đánh thức lương tâm giới thanh niên bằng những bản hùng ca, khiến học sinh bắt đầu hãnh diện với lịch sử và văn hóa nước nhà. Buổi trình diễn đầu tiên đã thành công rực rỡ và được nối tiếp bằng nhiều lần khác. Trong toán của Triệu có anh Phạm Văn Thanh là người có tiếng hâm mộ quân đội Nhật nên hôm trình diễn đã cạo đầu trọc lóc, bóng loáng khi tham dự hợp ca “Bạch Ðằng Giang”. Sau đêm ra mắt thành công đó, các anh em sinh viên đã nối tiếp tổ chức các buổi diễn kịch: Ðêm Lam Sơn, Con Thỏ ngọc, Tục Lụy của Lưu Hữu Phước. Khán giả Sài Gòn đã nồng nhiệt hoan hô luồng sinh khí văn nghệ mới.Trong bóng tối, tổ chức Cộng sản đã theo dõi, nhận thức được trào lưu làm sống lại tinh thần yêu nước của quần chúng do các sinh viên trí thức trẻ thực hiện. Trần Văn Giàu do đó đã tìm cách móc nối với các sinh viên từ Hà Nội về. Những lớp huấn luyện chính trị cho các toán thanh niên thuộc đảng Tân Dân Chủ đã được tổ chức ở văn phòng tư của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát ở số 68-70 đường Mayer (Hiền Vương). Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước, Trương Công Cán... thường vẫn lui tới nơi đây. Ngoài ra, một lớp huấn luyện khác, đông người hơn, cũng được Trần Văn Giàu đảm trách ở Thị Nghè ở nhà dược sĩ Trần Kim Quan cho toán Thanh niên Dân chủ của Tạ Bá Tòng, sinh viên đã từng hoạt động trong Thanh niên Cứu Quốc khi theo học ở Hà Nội. Kỳ nghỉ hè năm đó, các học sinh Pétrus Ký hai tỉnh Gò Công và Tây Ninh đã cố tập luyện và đã trình diễn những buổi văn nghệ tương tự ở tỉnh nhà để phổ biến các bản hợp ca và tân nhạc đến đồng bào địa phương. Lưu Hữu Phước đã sáng tác một bài hợp ca riêng cho trường Petrus Ký bằng tiếng Pháp: “Hymne au Lycée Petrus Ký”. Bài này được sự chấp thuận của Giám đốc trường là Lejeannic. Vợ ông Lejeannic dạy nhạc nên đã giúp học sinh trình diễn đồng ca ở nhà Hát lớn Sài Gòn. Bản hát được in sau khi được Chánh sở Kiểm duyệt tên Marquis thông qua. Sau tháng 8 năằm 1943, nhân dịp tổ chức Trại Suối Lồ Ồ, bài Hiệu ca Petrus Ký, lời Việt mới được lén lút phổ biến.Triệu và một số bạn hữu đã cùng nhau tổ chức các cuộc cắm trại ngoài trời. Các túi đeo sau lưng của các hướng đạo sinh rất hiếm vào thời đó vì giao thương với Pháp đã bị gián đoạn. Tuy nhiên ở đường Garcerie (Duy Tân), có một tiệm may đồ da rất khéo, đã theo mẫu các túi cắm trại nhập cảng từ Pháp để sản xuất trang bị cho hướng đạo sinh. Nhà sản xuất này đã làm việc không ngừng vì phong trào du lịch, cắm trại được phát triển ồ ạt. Trường đã đồng ý cho thành lập Ðoàn S.E.T. (Section d’Excursion et de Tourisme) với sự tán thưởng của các giáo sư Roumégous, Lê Văn Huấn, Lê Văn Cẩm... Ðoàn SET sau được đổi tên Việt thành Ðoàn Hùng. Học sinh được chấp thuận cho mang phù hiệu trường do giáo sư hội họa Hồ Văn Lái vẽ: một ngọn đuốc đỏ trên nền trời xanh dương, đường viền bên phải ánh đuốc có hình chữ S của bờ biển Việt Nam.Theo chỉ thị từ Pháp của chánh phủ Pétain gởi cho chánh quyền thực dân ở Ðông Dương, phong trào “thanh niên khỏe” được Ducoroy phát triển mạnh mẽ trên toàn cõi Việt, Miên, Lào. Các cuộc tập hợp, diễn hành của thanh niên các trường Việt, Pháp kể ra tháng nào cũng có, khi ở sân Hoa Lư, lúc khác ở sân vận động Richaud hoặc Lareynière. Học sinh Việt lúc đầu thường phải đồng ca cùng học sinh Pháp các bài “Maréchal, Nous voilà” (Thưa Thống chế, có chúng tôi đây), sau lại nhân cơ hội, bắt đầu hợp ca các bài Việt: Lên đường, Sinh viên Hành khúc, Hiệu ca Petrus Ký...Trường Petrus Ký có truyền thống tổ chức Lễ Tiễn Ông Táo, mỗi năm trước khi về nhà nghỉ Tết. Lúc trường còn ở Nancy, Lễ được tổ chức ở phòng ăn lớn. Khi về tạm trú cùng trường Sư Phạm ở Sở thú thì phải thiết lập sân khấu lộ thiên vì ở đây không có phòng rộng có khả năng chứa đám đông học sinh. Bắt đầu niên khóa 1941, trường có mở thêm ban Cổ điển cổ ngữ La tinh như các trường ở Pháp. Học sinh theo lớp Métropolitain này được chọn trong số thí sinh trúng tuyển cao của bốn trường công: Petrus Ký, Nữ Học Ðường, Mỹ Tho và Cần Thơ. Giám đốc Lejeannic thường hãnh diện khoe: lớp Métro này là thành phần ưu tú nhất của miền Nam. Giáo sư Pháp tên Champion là người phụ trách chánh cho các lớp Métro này. Qua năm sau, trường lại tổ chức thêm lớp Cổ điển Á Ðông. Lớp đầu gọi là 6è E.O.(Classique D’Extrême Orient) được giao cho giáo sư Phạm Thiều phụ trách. Vì thí sinh được tuyển lựa từ bốn trường công miền Nam nên lần đầu tiên có các lớp hỗn hợp nam, nữ ở cấp Trung học. Lúc trước chỉ có ở ban Tú tài mới có các nữ sinh như các chị Nguyễn Thị Sương, Mã Thị Chu, Phạm Thị Danh...Vợ của Giám Ðốc Lejeannic là giáo sư âm nhạỳc, năm đó có đề nghị một màn kịch câm, nhân dịp Tết Ông Táo. Bà giới thiệu một nữ sinh lớp E.O. được bà dạy vũ, tên Lý, quê ở Chợ Ông Văn, Mỹ Tho, người gốc Minh Hương, má lúm đồng tiền, miệng cười duyên dáng rất đẹp. Triệu được chọn đóng vai một thi sĩ, ngồi vò tai, bứt tóc không tìm ra thi tứ. Bỗng dưng một cơn gió thổi qua làm lá vàng lả tả rơi và thi sĩ nhân đó, đã tìm ra thi hứng để ghi rối rít những vần thơ vừa chớm nở. Nhìn trong đám lá vàng bay, thi nhân chợt nhận thấy Nàng Thơ của mình hiện ra, nhảy múa theo một nhạc điệu vĩ cầm réo rắt. Thi nhân vội chạy đến níu Nàng Thơ nhưng đã trượt chân té bổ nhào, kết thúc màn kịch “Thi nhân và Nàng Thơ” trong tiếng cười vui nhộn của khán giả. Câu chuyện Nàng thơ, Thi sĩ từ sau đó là đề tài các bạn thường nhắc đến để trêu chọc Triệu. Thường mỗi sáng, học sinh nội trú đứng trên lầu cao, nhìn xuống sân xem các học sinh ngoại trú dẫn xe đạp cất vào sân sau lớp học. Mỗi bận thấy Lý đi dưới sân, các bạn thường gọi lớn: “Nàng Thơ”, khiến Lý thẹn thùng phải có những bước đi lúng túng.Năm học đó là năm kết thúc bốn năm nội trú của Triệu, năm thi lấy bằng Thành chung và ra trường. Một buổi chiều lộng gió, lá vàng bay tơi tả trong một góc sân đã thật sự khơi dậy một xúc cảm mạnh trong lòng Triệu khi nghĩ đến lúc phải xa lìa trường, xa lìa bè bạn. Nhà “thi sĩ” trẻ đã nhân lúc trào lòng, làm bài thơ kỷ niệm:
NHỮNG NGÀY QUA.Gió đến chiều nay lá rụng nhiều,
Nhìn trời lòng bỗng vướng đìu hiu:
Ngày qua... đã bốn lần thu đến,
Lá cuốn bâng quơ giữa nắng chiều
Ðã mấy năm qua ở chốn nầy,
Cùng nhau vui sống tuổi thơ ngây.
Một mùa thi đến như thu đến,
Bày cảnh chia ly, én lạc bầy.
Hôm nay lá rụng nhuộm sân trường,
Bỗng thấy lòng như rộn nhớ thương.
Bâng khuâng mơ tiếc ngày vui cũ,
Bao phút đời chưa tẻ ngõ đường.
Thu đến nhủ tôi giấc mộng rồi,
Cuộc đời vui trẻ đã mờ trôi.
Hôm nay nhìn lá quay trong gió,
Chỉ biết ngồi êm tiếc mẫu đời!
Vào thời khoảng nầy chiến tranh Nhật, Mỹ đã bắt đầu bùng nổ. Hạm đội Nhật đã bất thần tấn công Trân Châu Cảng và thiêu hủy các phi cơ, tàu chiến của hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đang thả neo ở đây. Cuộc tấn công mở màn chiến sự đã xảy ra vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, giờ Honolulu. Riêng phần Triệu thì vẫn ghi trong tâm khảm là sự việc đã xảy ra ngày 8 tháng 12 vì Nhật đã báo tin ngày thắng trận lịch sử này bằng nhiều bích chương to lớn, vẽ chiến hạm Nhật với hai họng súng đại bác đen ngòm, đặt trên dưới theo hình số 8. Giờ tấn công, theo quần chúng Nhật và người châu Á, là ngày 8, theo giờ Tokyo.Thân phụ Triệu vốn có nhiều kinh nghiệm trong ngành quản lý các khách sạn lớn của Pháp, nay được đổi về Ðà Lạt để trông nom hai khách sạn Langbian Palace và Hôtel du Parc. Ông đã từng quản lý khách sạn Majestic ở Sài Gòn, sau được phái lên Cam Bốt lo cho các khách sạn ở Angkor Wat và khách sạn Bokor vùng bờ biển Kép.Nhân đó, lần đầu tiên Triệu được lên thăm cao nguyên nhân kỳ nghỉ hè. Vào thời Pháp còn chiếm Việt Nam, từ Nam ra Trung hay Bắc phải có giấy thông hành! Triệu náo nức chuẩn bị hành trình, nhưng khi nửa đêm đến ga Tour Chàm (Phan Thiết) thì bị kẹt lại. Thiết lộ phải dành cho quân đội Nhật ưu tiên chuyển quân. Hành khách dân sự phải đợi đến ngày hôm sau mới có các chuyến dành cho dân chúng.Trong chuyến tàu của Triệu có đoàn thanh niên cắm trại của một trường Pháp. Trong khi chờ đợi ngoài trời sân ga, họ đã cùng nhau ca hát những bản hành khúc vui nhộn. Nhưng về sau, trời càng khuya, tất cả đều mệt mỏi. Bỗng nhiên có một thanh niên người da ngâm đen, vừa đàn guitar, vừa hát bản “Tabou” của người Phi Châu rất trầm buồn. Bản hát như lời than vãn của một sắc dân trên đà diệt vong. Lời hát vang trong không trung lãnh thổ Chàm, một quốc gia đã có một thời thịnh trị, nay chỉ còn những tháp di tích sừng sững trong đêm, xa xa ngoài sân ga, đã khiến Triệu bùi ngùi nhớ đến hình ảnh các nông dân Việt bị thực dân Pháp xỏ tay nhau, chở từ Mỹ Tho lên ga Sài Gòn đưa đi tù, sau các ngày Nam Kỳ Khởi Nghĩa thất bại. Dân tộc mình nếu không tiếp tục đấu tranh, e sẽ có ngày bị xóa tên trên hoàn vũ chăng?Trong khi có những băn khoăn đó, tình cờ từ trong đám đông những người ra ga đón thân nhân, có một bạn học cũ, tên Lai trước đã từng cùng học cấp tiểu học ở Biên Hòa, chợt nhìn ra Triệu. Vì còn phải chờ thêm một ngày, mà nhà anh Lai hơi xa nên anh đề nghị giới thiệu đến một chùa gần đó nghỉ qua đêm. Sáng hôm sau thức dậy, nhìn lên cổng chùa, Triệu mới biết tình cờ, mình đã qua một đêm trong khuôn viên“Lý Viên Tự ”! Ðến Ðà Lạt, Triệu thích thú được sống cạnh bờ hồ nên thơ của thành phố. Ba của Triệu đã thuê được một nhà cạnh hồ, không xa với khách sạn Langbian. Nơi đây thuở trước nguyên là một biệt thự hai tầng, được chủ nhân sau biến thành một lữ quán có tên là Boite à Sardines (Hộp cá mòi). Trên tường các phòng, có những cảnh vẽ bằng phấn đen (fusain) rất đẹp, mô tả các hoạt động của thủy thủ, từ việc sinh sống trên chiến hạm đến những lúc đi bờ. Bến tàu, các ngọn hải đăng, chiến hạm rẽ sóng ra khơi là cảnh thường thấy trên các bức tường. Triệu được nghe ba Triệu cho biết là người chủ quán đầu tiên là một thủy thủ hồi hưu, đã quen biết bạn họa sĩ Hải quân danh tiếng này và đã nhờ vẽ hộ. Anh bạn này có thể đến quán ăn nhậu suốt đời, khỏi phải trả một xu phí tổn. Cả nhiều tháng năm, có lẽ vì Triệu đã ngắm nhìn các cảnh sống các thủy thủ nên trong thâm tâm lúc nào cũng cảm thấy vướng mắc bao nhiêu mộng hải hồ. Một buổi chiều, Triệu có dịp đi dạo và ngồi nghỉ chân trên một băng nhỏ ở sân vận động ven hồ. Trời đã xế chiều. Một tiểu đội lính Việt, quân phục kiểu triều đình Huế, chỉ được thấy ở Trung, sửa soạn lễ Hạ kỳ. Cờ là cờ nền vàng, có một sọc đỏ theo chiều dài ở giữa. Ðây là “Cờ Bảo Ðại” như dân miền Nam thường gọi khi thấy cờ phất phới ở Ðà Lạt. Khi điệu kèn hạ cờ nổi lên, Triệu đã đứng lên nghiêm chỉnh chào lá cờ từ từ hạ mà trong lòng bỗng thấy có một cảm giác lạ thường. Triệu đã từng có nhiều cơ hội dự lễ chào cờ vào các buổi khai giảng niên học ở Petrus Ký. Trường thường nhờ một đại đội lính và một đại đội quân nhạc từ thành Ô Ma sang phụ trách nghi lễ thượng kỳ. Nhạc trỗi hùng hồn, sĩ quan chỉ huy tuốt gươm trần sáng loáng dõng dạc truyền lịnh bằng tiếng Pháp, nhưng Triệu không có cái cảm giác kỳ lạ, cảm động như lần đầu tiên được đứng nghiêm chào cờ của đất nước mình. Với cái cảm giác lâng lâng đó, Triệu về phòng ghi trong Nhật ký: “Hôm nay tôi đã cảm động tham dự một cuộc chào cờ nghiêm chỉnh nhất!” Anh, Mỹ và Trung Hoa đã tuyên chiến với Nhật. Chánh quyền Decoux đã phải ký với Nhật một loạt các Hiệp ước quân sự về phòng thủ Ðông Dương. Thế là Việt Nam đã bị lôi cuốn vào cuộc chiến. Quân đội Nhật đã lấn chiếm Mã Lai, Singapour, Borneo. Quần đảo Philippines lần lượt bị chiếm đóng. Manila mất ngày 2-1-1942. Bataan thất thủ sau ba tháng bị bao vây, 70 ngàn binh Mỹ bị bắt. Ngày 6 tháng 5 năm 1942, 60 ngàn binh Mỹ đầu hàng ở Corrigedor. Miến Ðiện cũng bị chiếm đóng cùng với Nam Dương Quần đảo.Nhật kể như đã hoàn thành ý đồ Ðại Ðông Á của họ nhưng vào tháng 6, 1942, sau ba ngày hải chiến, Mỹ với ưu thế không lực đã chận Hải quân Nhật ở trận Midway. Bước tiến của Nhật Bản đã bị chùn lại từ đây trong khi quân Ðồng Minh đã đổ bộ ở Bắc Phi Châu để đánh đuổi Ðức, Ý.Chiến cuộc từ nay đã bắt đầu xoay chiều. Quân Ðồng Minh mở thêm chiến dịch chiếm đảo Silicy. Phi cơ Mỹ đã bắt đầu oanh kích Hải Phòng và đường xe lửa xuyên Việt. Ngày 6-6-1944, quân Ðồng Minh bắt đầu cuộc đổ bộ lịch sử Normandie và từ đó tái chiếm nước Pháp. Ngày 24-8-1944, Sư đoàn 2 Thiết Giáp của tướng Pháp Leclerc tiến vào Paris. Ở Ðông Dương, vì e ngại quân Ðồng Minh sẽ đổ bộ lên căn cứ hậu cần quan trọng nầy nên quân Nhật đã bắt đầu chuẩn bị kế hoạch lật đổ chánh quyền thuộc địa Pháp.Hồ Chí Minh bị Trung Hoa bắt giam cầm ở Liễu Châu, nay được Trương Phát Khuê cho phép lên đường trở về Việt Nam để thực hiện kế hoạch “Hoa Quân nhập Việt”.Ở Mặt trận Âu châu, Quân đoàn 6 của Ðức đầu hàng Hồng quân Liên Sô ở Stalingrad. Ðệ nhị Thế chiến đã bước qua giai đoạn bắt đầu kết thúc.Mỹ đã chiếm lại đảo Guam và ở Phi Luật Tân, quân Mỹ đã đổ bộ lên Luzon. Ðông Dương lại càng bị Ðồng Minh dội bom liên tục hơn. Trong đêm 5-5-1944, máy bay Mỹ định thả bom xuống khu bến tàu Khánh Hội nhưng bom lại thả trật vào khu nhà lá Xóm Chiếu, gây nhiều đám cháy khổng lồ, nhiều thiệt hại về nhân mạng. Học sinh được cho nghỉ hè sớm hơn hai tháng. Kỳ khai trường niên khóa 1944-1945, học sinh nội trú trường Petrus Ký được chuyển về Nữ Học đường. Các lớp học vẫn hoạt động tại trường Sư Phạm. Triệu thi bằng Thành Chung bị loại ngay từ kỳ Pháp ngữ nên trở lại học năm thứ Tư nhưng phải ở ngoại trú. Sài Gòn lại bị phi cơ Mỹ giội bom suốt ngày 12-1-1945 xuống phi trường Tân Sơn Nhất và khu Bến tàu. Ngày 15-2-1945, sứ quán Anh đường Norodom (đại lộ Thống Nhất) cạnh trường lại bị đánh bom. Hiệu trưởng Taillade phải ra thông cáo cho bãi trường sớm để học sinh trở về gia đình để chuẩn bị tham dự lễ Tết Ất Dậu.
Trần Ngươn Phiêu.
NHỮNG NGÀY QUA.Gió đến chiều nay lá rụng nhiều,
Nhìn trời lòng bỗng vướng đìu hiu:
Ngày qua... đã bốn lần thu đến,
Lá cuốn bâng quơ giữa nắng chiều
Ðã mấy năm qua ở chốn nầy,
Cùng nhau vui sống tuổi thơ ngây.
Một mùa thi đến như thu đến,
Bày cảnh chia ly, én lạc bầy.
Hôm nay lá rụng nhuộm sân trường,
Bỗng thấy lòng như rộn nhớ thương.
Bâng khuâng mơ tiếc ngày vui cũ,
Bao phút đời chưa tẻ ngõ đường.
Thu đến nhủ tôi giấc mộng rồi,
Cuộc đời vui trẻ đã mờ trôi.
Hôm nay nhìn lá quay trong gió,
Chỉ biết ngồi êm tiếc mẫu đời!
Vào thời khoảng nầy chiến tranh Nhật, Mỹ đã bắt đầu bùng nổ. Hạm đội Nhật đã bất thần tấn công Trân Châu Cảng và thiêu hủy các phi cơ, tàu chiến của hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đang thả neo ở đây. Cuộc tấn công mở màn chiến sự đã xảy ra vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, giờ Honolulu. Riêng phần Triệu thì vẫn ghi trong tâm khảm là sự việc đã xảy ra ngày 8 tháng 12 vì Nhật đã báo tin ngày thắng trận lịch sử này bằng nhiều bích chương to lớn, vẽ chiến hạm Nhật với hai họng súng đại bác đen ngòm, đặt trên dưới theo hình số 8. Giờ tấn công, theo quần chúng Nhật và người châu Á, là ngày 8, theo giờ Tokyo.Thân phụ Triệu vốn có nhiều kinh nghiệm trong ngành quản lý các khách sạn lớn của Pháp, nay được đổi về Ðà Lạt để trông nom hai khách sạn Langbian Palace và Hôtel du Parc. Ông đã từng quản lý khách sạn Majestic ở Sài Gòn, sau được phái lên Cam Bốt lo cho các khách sạn ở Angkor Wat và khách sạn Bokor vùng bờ biển Kép.Nhân đó, lần đầu tiên Triệu được lên thăm cao nguyên nhân kỳ nghỉ hè. Vào thời Pháp còn chiếm Việt Nam, từ Nam ra Trung hay Bắc phải có giấy thông hành! Triệu náo nức chuẩn bị hành trình, nhưng khi nửa đêm đến ga Tour Chàm (Phan Thiết) thì bị kẹt lại. Thiết lộ phải dành cho quân đội Nhật ưu tiên chuyển quân. Hành khách dân sự phải đợi đến ngày hôm sau mới có các chuyến dành cho dân chúng.Trong chuyến tàu của Triệu có đoàn thanh niên cắm trại của một trường Pháp. Trong khi chờ đợi ngoài trời sân ga, họ đã cùng nhau ca hát những bản hành khúc vui nhộn. Nhưng về sau, trời càng khuya, tất cả đều mệt mỏi. Bỗng nhiên có một thanh niên người da ngâm đen, vừa đàn guitar, vừa hát bản “Tabou” của người Phi Châu rất trầm buồn. Bản hát như lời than vãn của một sắc dân trên đà diệt vong. Lời hát vang trong không trung lãnh thổ Chàm, một quốc gia đã có một thời thịnh trị, nay chỉ còn những tháp di tích sừng sững trong đêm, xa xa ngoài sân ga, đã khiến Triệu bùi ngùi nhớ đến hình ảnh các nông dân Việt bị thực dân Pháp xỏ tay nhau, chở từ Mỹ Tho lên ga Sài Gòn đưa đi tù, sau các ngày Nam Kỳ Khởi Nghĩa thất bại. Dân tộc mình nếu không tiếp tục đấu tranh, e sẽ có ngày bị xóa tên trên hoàn vũ chăng?Trong khi có những băn khoăn đó, tình cờ từ trong đám đông những người ra ga đón thân nhân, có một bạn học cũ, tên Lai trước đã từng cùng học cấp tiểu học ở Biên Hòa, chợt nhìn ra Triệu. Vì còn phải chờ thêm một ngày, mà nhà anh Lai hơi xa nên anh đề nghị giới thiệu đến một chùa gần đó nghỉ qua đêm. Sáng hôm sau thức dậy, nhìn lên cổng chùa, Triệu mới biết tình cờ, mình đã qua một đêm trong khuôn viên“Lý Viên Tự ”! Ðến Ðà Lạt, Triệu thích thú được sống cạnh bờ hồ nên thơ của thành phố. Ba của Triệu đã thuê được một nhà cạnh hồ, không xa với khách sạn Langbian. Nơi đây thuở trước nguyên là một biệt thự hai tầng, được chủ nhân sau biến thành một lữ quán có tên là Boite à Sardines (Hộp cá mòi). Trên tường các phòng, có những cảnh vẽ bằng phấn đen (fusain) rất đẹp, mô tả các hoạt động của thủy thủ, từ việc sinh sống trên chiến hạm đến những lúc đi bờ. Bến tàu, các ngọn hải đăng, chiến hạm rẽ sóng ra khơi là cảnh thường thấy trên các bức tường. Triệu được nghe ba Triệu cho biết là người chủ quán đầu tiên là một thủy thủ hồi hưu, đã quen biết bạn họa sĩ Hải quân danh tiếng này và đã nhờ vẽ hộ. Anh bạn này có thể đến quán ăn nhậu suốt đời, khỏi phải trả một xu phí tổn. Cả nhiều tháng năm, có lẽ vì Triệu đã ngắm nhìn các cảnh sống các thủy thủ nên trong thâm tâm lúc nào cũng cảm thấy vướng mắc bao nhiêu mộng hải hồ. Một buổi chiều, Triệu có dịp đi dạo và ngồi nghỉ chân trên một băng nhỏ ở sân vận động ven hồ. Trời đã xế chiều. Một tiểu đội lính Việt, quân phục kiểu triều đình Huế, chỉ được thấy ở Trung, sửa soạn lễ Hạ kỳ. Cờ là cờ nền vàng, có một sọc đỏ theo chiều dài ở giữa. Ðây là “Cờ Bảo Ðại” như dân miền Nam thường gọi khi thấy cờ phất phới ở Ðà Lạt. Khi điệu kèn hạ cờ nổi lên, Triệu đã đứng lên nghiêm chỉnh chào lá cờ từ từ hạ mà trong lòng bỗng thấy có một cảm giác lạ thường. Triệu đã từng có nhiều cơ hội dự lễ chào cờ vào các buổi khai giảng niên học ở Petrus Ký. Trường thường nhờ một đại đội lính và một đại đội quân nhạc từ thành Ô Ma sang phụ trách nghi lễ thượng kỳ. Nhạc trỗi hùng hồn, sĩ quan chỉ huy tuốt gươm trần sáng loáng dõng dạc truyền lịnh bằng tiếng Pháp, nhưng Triệu không có cái cảm giác kỳ lạ, cảm động như lần đầu tiên được đứng nghiêm chào cờ của đất nước mình. Với cái cảm giác lâng lâng đó, Triệu về phòng ghi trong Nhật ký: “Hôm nay tôi đã cảm động tham dự một cuộc chào cờ nghiêm chỉnh nhất!” Anh, Mỹ và Trung Hoa đã tuyên chiến với Nhật. Chánh quyền Decoux đã phải ký với Nhật một loạt các Hiệp ước quân sự về phòng thủ Ðông Dương. Thế là Việt Nam đã bị lôi cuốn vào cuộc chiến. Quân đội Nhật đã lấn chiếm Mã Lai, Singapour, Borneo. Quần đảo Philippines lần lượt bị chiếm đóng. Manila mất ngày 2-1-1942. Bataan thất thủ sau ba tháng bị bao vây, 70 ngàn binh Mỹ bị bắt. Ngày 6 tháng 5 năm 1942, 60 ngàn binh Mỹ đầu hàng ở Corrigedor. Miến Ðiện cũng bị chiếm đóng cùng với Nam Dương Quần đảo.Nhật kể như đã hoàn thành ý đồ Ðại Ðông Á của họ nhưng vào tháng 6, 1942, sau ba ngày hải chiến, Mỹ với ưu thế không lực đã chận Hải quân Nhật ở trận Midway. Bước tiến của Nhật Bản đã bị chùn lại từ đây trong khi quân Ðồng Minh đã đổ bộ ở Bắc Phi Châu để đánh đuổi Ðức, Ý.Chiến cuộc từ nay đã bắt đầu xoay chiều. Quân Ðồng Minh mở thêm chiến dịch chiếm đảo Silicy. Phi cơ Mỹ đã bắt đầu oanh kích Hải Phòng và đường xe lửa xuyên Việt. Ngày 6-6-1944, quân Ðồng Minh bắt đầu cuộc đổ bộ lịch sử Normandie và từ đó tái chiếm nước Pháp. Ngày 24-8-1944, Sư đoàn 2 Thiết Giáp của tướng Pháp Leclerc tiến vào Paris. Ở Ðông Dương, vì e ngại quân Ðồng Minh sẽ đổ bộ lên căn cứ hậu cần quan trọng nầy nên quân Nhật đã bắt đầu chuẩn bị kế hoạch lật đổ chánh quyền thuộc địa Pháp.Hồ Chí Minh bị Trung Hoa bắt giam cầm ở Liễu Châu, nay được Trương Phát Khuê cho phép lên đường trở về Việt Nam để thực hiện kế hoạch “Hoa Quân nhập Việt”.Ở Mặt trận Âu châu, Quân đoàn 6 của Ðức đầu hàng Hồng quân Liên Sô ở Stalingrad. Ðệ nhị Thế chiến đã bước qua giai đoạn bắt đầu kết thúc.Mỹ đã chiếm lại đảo Guam và ở Phi Luật Tân, quân Mỹ đã đổ bộ lên Luzon. Ðông Dương lại càng bị Ðồng Minh dội bom liên tục hơn. Trong đêm 5-5-1944, máy bay Mỹ định thả bom xuống khu bến tàu Khánh Hội nhưng bom lại thả trật vào khu nhà lá Xóm Chiếu, gây nhiều đám cháy khổng lồ, nhiều thiệt hại về nhân mạng. Học sinh được cho nghỉ hè sớm hơn hai tháng. Kỳ khai trường niên khóa 1944-1945, học sinh nội trú trường Petrus Ký được chuyển về Nữ Học đường. Các lớp học vẫn hoạt động tại trường Sư Phạm. Triệu thi bằng Thành Chung bị loại ngay từ kỳ Pháp ngữ nên trở lại học năm thứ Tư nhưng phải ở ngoại trú. Sài Gòn lại bị phi cơ Mỹ giội bom suốt ngày 12-1-1945 xuống phi trường Tân Sơn Nhất và khu Bến tàu. Ngày 15-2-1945, sứ quán Anh đường Norodom (đại lộ Thống Nhất) cạnh trường lại bị đánh bom. Hiệu trưởng Taillade phải ra thông cáo cho bãi trường sớm để học sinh trở về gia đình để chuẩn bị tham dự lễ Tết Ất Dậu.
Trần Ngươn Phiêu.
GIÓ MÙA ĐÔNG BẮC (Chương 4) - Một thời sôi động trước Nam bộ Kháng chiến
Ngày 29 tháng 7 năm 1941, sau khi Nhật ồ ạt đổ bộ vào miền Nam, vào đầu năm học, trường Petrus Ký là nơi được Nhật chọn làm Ðại Bản Doanh. Trường đã phải cấp tốc dời về ở đậu với trường Sư Phạm, ngó qua Sở Thú Sài Gòn, ở đường Dr Angier (Nguyễn Bỉnh Khiêm). Tại đây còn có trường Tiểu học và Trung học cho học sinh Pháp. Trường Sư Phạm chỉ có độ 50 khóa sinh. Ngày khai trường niên khóa 1941-1942 vì thế phải để trễ đến 29-9-1941.
Ðây là thời kỳ sôi động chánh trị ở Nam bộ. Năm 1940, phân nửa nước Pháp đã bị Ðức chiếm. Chánh phủ Thống chế Pétain lên cầm quyền ở Pháp. Năm 1941, mặt trận về phía Ðông giữa Ðức và Nga đã mở màn.
Ngay trước Ðệ Nhị Thế Chiến, các đảng phái chính trị miền Nam đã có cơ hội hoạt động mạnh mẽ khi Mặt Trận Bình Dân lên nắm chánh quyền ở Pháp. Ðể có một cuộc cải cách ở các thuộc địa, chánh phủ Pháp có ý định phái một Ủy ban Ðiều tra sang Nam Kỳ. Nắm lấy cơ hội đó, để thu góp nguyện vọng toàn dân, đòi hỏi cải thiện chế độ cai trị, các nhà cách mạng Việt Nam, đặc biệt là Nguyễn An Ninh, phát động Phong trào Ðông Dương Ðại hội và thành lập Ủy ban Hành động ở các nơi. Thực dân Pháp nhận thấy các nguy cơ có thể xảy ra nên đã tìm cách giải tán Ủy ban Lâm thời tổ chức Ðại Hội. Sau cùng, Ðông Dương Ðại hội bị Pháp cấm. Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Tạo, Tạ Thu Thâu bị bắt giam. Ba người đã đấu tranh bãi thực trong 11 ngày, một cuộc bãi thực dài nhất trong lịch sử Khám Lớn Sài Gòn. Dân chúng Ðô thành đã tổ chức đình công để ủng hộ và làm áp lực Pháp phải thả. Khi Tạ Thu Thâu được đặt trên cáng đưa về trước tòa sạn báo Tranh Ðấu (La Lutte) ở đường Lagrandière, dân chúng đã có người khóc, sợ ông sắp chết!
Ðệ nhị Thế chiến sắp xảy ra ở Âu châu, thực dân Pháp ở Ðông Dương ra tay giam cầm, bắt bớ, xử biệt xứ các nhà cách mạng, kiểm soát báo chí, ấn phẩm. Ngày 23 tháng 8 năm 1939, Stalin là người cổ võ chống Phát xít lại chỉ thị Molotov thay Nga ký Hiệp ước bất xâm phạm với phái bộ Von Ribbentrop của Ðức ở Moscow! Mặc dầu có thể coi đây là kế hoạch hoãn binh của Nga nhưng quyết định động trời này đã bắt Maurice Thorez, thủ lãnh Cộng sản Pháp ra thông cáo ủng hộ chủ trương “ hiếu hòa” của Stalin! Ðảng Cộng sản Ðệ tam ở miền Nam phải tìm cách mọi cách ngụy biện để giải thích việc Stalin ôm hôn Von Ribbentrop ở ga xe lửa Moscow. Nguyễn Văn Trấn là người phải đại diện giải thích Hiệp ước này có nhắc lại trong quyển “Viết cho Mẹ và Quốc hội” sau này (Trang 63). Triệu còn nhớ anh Phan Phục Hổ, con của Phan Văn Hùm đã nói đùa với Triệu và các bạn: “Ba tao nói là Stalin đã làm Nguyễn Văn Trấn báo Dân Chúng trẹo cần cổ và nói ngọng khi gặp các bạn viết báo hỏi về cái quyết định 'động trời' của Stalin”.
Ngày 29 tháng 9 năm 1939, Nga và Ðức ký Hiệp ước Biên giới và Hữu nghị. Stalin chỉ thị các đảng Cộng sản trên thế giới ngưng chống Ðức, hại các đảng này ở vào tình thế kẹt khó xử vì ngày 3 tháng 9 năm 1940, Anh và Pháp đã tuyên chuyến với Ðức.
Ở Ðông Dương, viên Toàn quyền Catroux ra lịnh cấm hoạt động chánh trị, đình hoãn các cuộc bầu cử. Chánh phủ Pháp đặt đảng Cộng sản Pháp ra ngoài vòng pháp luật. Cán bộ Cộng sản ở Bắc, Trung, Nam Việt Nam lần lượt bị bắt cùng nhiều nhà cách mạng khác. Hội Ái hữu Báo giới Nam kỳ (Association des journalistes annamites de Cochinchine, A.J.A.C) bị giải tán và ban Trị sự bị tống giam. Ở Pháp các đảng viên Cộng sản danh tiếng như Jacques Duclos, Franchon phải lẩn trốn, lãnh tụ Maurice Thorez phải đào ngũ sang Nga.
Ðầu năm 1940, Catroux ký sắc lịnh bắt giam bất cứ ai có thể làm nguy hại đến trật tự công cộng. Ðây là thời kỳ đen tối nhứt của đảng Cộng sản trong Nam. Lê Duẩn, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai... đều bị bắt, kể cả Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư đảng. Các trại giam Bà Rá, Tà Lài được thành lập ở Nam Kỳ. Nhiều trại khác cũng được thành lập ở Trung và Bắc để giam cả ngàn người.
Trong năm này Nhật làm áp lực để Catroux ngưng tiếp tế cho Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh. Catroux bị áp lực phải thương thuyết với phái đoàn Nhật và sau cùng bị chánh phủ Pétain mới lên cầm quyền cách chức. Tư lịnh Hải quân Pháp ở Viễn Ðông là Decoux được chỉ định thay thế Catroux làm Toàn Quyền Ðông Dương . Tháng 7-1940, Quốc hội Pháp ở Vichy trao toàn quyền cho Thống chế Pétain, chấm dứt nền Ðệ tam Cộng hòa đã có từ năm 1871!
Quốc trưởng Pétain, 84 tuổi, thay thế khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Hữu nghị” bằng khẩu hiệu mới “Cần lao, Gia đình, Tổ quốc”. Ông cũng ra sắc lịnh giải tán các hội kín ở các thuộc địa.
Ðại sứ Thái Lan ở Pháp chuyển cho chánh phủ Pétain văn thư xin định lại biên giới Ðông Dương-Thái. Ở Hà Nội, Trưởng Phái đoàn thương thuyết Nhật là Nishihara đưa tối hậu thư cho Decoux, đòi hỏi phải thỏa thuận để quân đội Nhật sử dụng các phi trường, hải cảng ở Ðông Dương và tự do di chuyển quân lính. Decoux đành phải thuận ký hiệp ước quân sự. Hiệp ước đã được thông báo cho tướng Nakamura của Sư đoàn 5 Nhật, nhưng vào 10 giờ đêm hôm đó quân Nhật vẫn vượt biên tấn công. Chiến lũy Ðồng Ðăng và Lạng Sơn thất thủ. Việc bất chấp thượng lịnh nầy đã làm một số các tướng Lộ quân miền Nam của Nhật ra tòa án quân sự và bị giáng chức. Trần Trung Lập, lãnh tụ Kiến Quốc Quân của Hoàng thân Cường Ðể tình nguyện ở lại vùng Lạng Sơn chống Pháp và sau cùng đã bị bắt và bị xử bắn vào cuối năm 1940.
Dựa vào thân thế với Nhật, Thái Lan bắt đầu chuyển quân đến biên giới Thái-Cambốt. Pháp phải rút nhiều đơn vị từ Việt Nam lên để đối phó. Trong thời gian sắp có biến động ở biên thùy như vậy, ở miền Nam, hằng ngàn chiến sĩ cách mạng lại tiếp tục bị Pháp bắt hay bị chỉ định an trí. Vì không thể ngồi im để cho Pháp vô hiệu hóa lực lượng đấu tranh, Ðảng Cộng sản đã bí mật hội ở Bà Ðiểm (Gia Ðịnh) và đã lấy quyết định phải khởi nghĩa. Phan Ðăng Lưu được Xứ ủy Nam kỳ gởi ra Bắc dự Hội nghị của Ðảng ở Ðình bảng (Bắc Ninh). Yêu cầu xin khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ không được chấp thuận. Phan Ðăng Lưu trở về đem chỉ thị mới nhưng trong Nam, từ lâu, Xứ ủy đã cho lịnh “Tổng khởi nghĩa” vào tối đêm 22 tháng 11 năm 1940, và không còn cách gì để ngưng lại được !
Thống đốc Nam kỳ là Véber đã được báo động vì Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ là Tạ Uyên bị bắt khi soạn tuyên cáo khởi nghĩa. Vì tin tức khởi nghĩa đã bị tiết lộ, Pháp tức tốc bố trí đề phòng. Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Lê Hồng Phong... đã được trùm mật thám Arnoux đích thân đem biệt giam ở khám Chí Hòa. Các cuộc bạo động quanh Sài Gòn như Bà Quẹo, Hóc Môn, Bình Thới... cùng các nổi dậy ở Tân An, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Trà Vinh không đạt được kết quả mong muốn. Các mục tiêu trong Sài Gòn như Ba Son (Hải Quân Công xưởng), nhà máy đèn, khám Chí Hòa, trại binh... không bị phá hay chiếm giữ. Chương trình phá Khám Lớn Sài Gòn của Nguyễn Văn Trấn không thể thực hiện được vì Pháp đã bố trí ngăn chặn trước. Toán của Trấn phải rút trở về lại Tân An.
Thực dân Pháp đã nhân cơ hội này đàn áp phong trào chống Pháp một cách tàn bạo. Phi cơ thả bom xuống các làng như Xoài Hột (Mỹ Tho), Ðồng Tháp Mười... Tàu chiến, thiết giáp, lính Lê Dương đã được tận dụng. Dân chúng nhiều làng đã bị tàn sát, khủng bố. Nhà tù không đủ chỗ chứa. Toàn quyền Decoux cử Rivoal làm Thống đốc Nam kỳ thay thế cho Véber. Rivoal đã dùng các sà lan nhốt tù trên sông, mặc nắng mưa, đói khát hành hạ. Dây kẽm dài xỏ một lúc qua bàn tay và gót chân của nhiều tù phạm đã được sử dụng thay cho gông cùm vì gông cùm không có đủ so với số người bị bắt!
Nam Kỳ Khởi Nghĩa đã bị đàn áp trong máu lửa.
Toàn dân miền Nam bàng hoàng đau xót đọc các tin phi cơ bắn phá, bỏ bom xuống các làng xã; xe tăng, thiết giáp càn quét ruộng vườn, nhà cửa dân chúng...
Riêng các bạn tâm huyết của Triệu, khi bí mật được tin có cuộc nổi dậy ở Sài Gòn, mặc dầu không biết rõ các nhân vật khởi xướng, cũng đã toan tính góp sức khi việc sẽ xảy đến. Một bạn của Triệu nay cũng đã trên bảy mươi hiện đang định cư ở Mỹ tên Nguyễn Thanh Nhàn, có khiếu về âm nhạc đã được anh em nhờ đặt các bản hùng ca để kêu gọi dân chúng hưởng ứng. Quê anh Nhàn ở Thạnh Vĩnh Ðông (Tân An) và anh đã có sáng tác bản nhạc “Làng tôi”, được anh em trẻ Petrus Ký rất thích. Các anh Trần Thanh Mậu và Bùi Ðức Tâm chuẩn bị các diễn văn hiệu triệu giới trẻ. Triệu vì đã được huấn luyện về cứu thương nên được giao phụ trách yểm trợ y tế. Triệu đã nghiên cứu kế hoạch đánh cắp thuốc của bịnh xá trường Petrus Ký và của Bịnh viện Chú Hỏa.
Triệu và các bạn có kín đáo tiếp xúc với giáo sư Trần Văn Quế. Giáo sư khuyên nên thận trọng triệt để. Có tin tức gì giáo sư sẽ tiếp xúc sau và tất cả nên hạn chế các cuộc gặp gỡ. Một thời gian sau, giáo sư cũng bị Pháp bắt và đày Côn Ðảo. Ðạo Cao Ðài hình như không có trong tổ chức khởi nghĩa nhưng Pháp đã muốn nhân cơ hội để phá vỡ tôn giáo này. Giáo sư Quế bị bắt, anh em Triệu như rắn mất đầu!
Khoảng thời gian 1940-1941 đã đánh dấu và chứng minh sự tàn bạo của thực dân Pháp để đàn áp phong trào vùng lên giải phóng khỏi ách 80 năm đô hộ. Chánh quyền thực dân đang bị cô lập với chánh quốc vì Ðệ nhị Thế Chiến đã cắt hết đường tàu bè liêân lạc. Ðồng thời họ còn bị Nhật ép buộc phải cho họ đổ bộ vào Ðông Dương cũng như xui Thái Lan gây khó dễ đòi phân định lại biên giới nên thời gian kể ra rất thuận lợi để phát động khởi nghĩa. Pháp đã đàn áp trong máu lửa sự nổi dậy, khiến Ðảng Cộng sản Ðông Dương lâm vào một hoàn cảnh thoáùi trào quan trọng. Tuy nhiên thực dân đã không thể dập tắt được ngọn lửa đấu tranh trong lòng dân Việt.
Những tin tức loan truyền trong các giới hằng lưu tâm đến thời cuộc có lúc cũng đã làm nản lòng một số người. Trái lại sự căm thù thực dân Pháp trước những cảnh tù đày, bắt bớ lại càng được hun đúc thêm trong phần đông dân chúng.
Chánh quyền Decoux đã công bố 108 án tử hình, chuyển 81 vụ qua Bộ Chiến tranh, bắt giữ hơn 8000 người. Việc thanh trừng đẫm máu to lớn này của Decoux đã khiến Gaston Joseph, Tổng Giám đốc Chính trị Bộ Thuộc địa Pháp phải thốt lên: “Những bản án không thể giảm khinh và quá nhiều, khiến người Việt nghĩ rằng đó là sự kết tội cả một chủng tộc”.
Nguyễn Văn Cừ , Tổng Bí thư đảng CSÐD, Phan Ðăng Lưu, Ủy viên Trung ương, Nguyễn Thị Minh Khai... tuy bị bắt trước ngày Nam Kỳ Khởi Nghĩa nhưng cũng đều bị kết án tử hình. Mười ba liệt sĩ trong đó có Nguyễn Thị Minh Khai đã bị xử bắn làm hai đợt ở Hóc Môn (Gia Ðịnh). Viên Tỉnh trưởng tỉnh Gia Ðịnh là Dufour có bổn phậän phải làm phúc trình vì pháp trường nằm trong tỉnh. Trong biêân bản đợt hành hình thứ nhất, Dufour có ghi trong báo cáo: “Họ đã chết một cách can đảm” (Ils sont morts courageusement). Toàn quyền Decoux ở Hàø Nội sau khi đọc phúc trình đã viết cho Thống đốc Rivoal để khiển trách Dufour đã đề cao kẻ thù. Rivoal và Dufour là bạn cùng một trường, cùng khóa ở Pháp, nên Rivoal chỉ đưa cho Dufour xem công văn củûa Decoux, không bàn luận gì thêm.
Ðến lúc thi hành bản án đợt 2 (Nguyễn Thị Vịnh, tức Nguyễn Thị Minh Khai, cán bộ phụ nữõ đầu tiên được huấn luyện ở Nga, bị xử trong đợt này), Dufour cũng đã phải chứng kiến và làm phúc trình. Trong biên bản ông kết luận: “Họ đã chết rất can đảm” (Ils sont morts très courageusement).
Lần này thì Decoux không thể chấp thuận nên đích thân bay vào Sài Gòn, đòi Dufour vào phủ Toàn quyền, cách chức tỉnh trưởng Gia Ðịnh, cho về hưu trí non và thuyên chuyển về Pháp. Decoux yêâu cầàu Dufour phải viết tờ tự thú để ghép vào hồ sơ.
Cụ Vương Hồng Sển, công chức phủ toàn quyềàn có phận sự thâu nhận công văn mật có đọc được bản văn tự thú của Dufour. Ðại khái, Dufour đã viết: “Tôi, Dufour, cựu phi công trong trận giặc chống Ðức, có Tứ đẳng Bội tinh lãnh tại chiến trận, bị thương tại trận tiền. Là một binh sĩ, nêân ăn ngay, nói thật. Phàm kẻ địch chết dũng cảm, hô to “Việt Nam muôn năm” trước họïng súng, thì tôi có phận sự phúc trình: “Chúng nó chết một cách rất can đảm”. Nếu muốn đúng sự thật, đáùng lẽ tôi phải ghi thêm: các lính đều khiếp sợï khi bắn, nhất là tên đội được lịnh bắn phát ân huệ cuối cùng. Tên đội này hai lần run như cầy sấy, tôi lấy làm nhục cho quân đội Pháp, nhưng tôi không ghi trong phúc trình” (“Hơn Nửa Ðời Hư”,Vương Hồng Sển, Văn Nghệ 1995, tr. 344-345).
Trần Ngươn Phiêu
Sunday, February 25, 2018
Ngày Bình Thuận Tân Niên Hội Ngộ Mừng Xuân Mậu Tuất
HỘI THÂN HỮU BÌNH THUẬN
Ðể tiện việc sắp xếp, xin vui lòng cho chúng tôi biết số người cùng đến tham dự với quý vị. Sự hiện diện của quý vị sẽ là một vinh dự lớn lao cho Hội Thân Hữu Bình Thuận.
Binh Thuan Friendship Association
THƯ MỜI
Trân trọng kính mời: Ðồng hương Bình Thuận và Thân Hữu
Ðến tham dự "Ngày Bình Thuận Tân Niên Hội Ngộ Mừng Xuân Mậu Tuất"
của đồng hương Bình Thuận, sẽ được tổ chức:
Vào ngày: Chủ Nhật 04 tháng 3 năm 2018
Từ: 10:00 sáng - 3:00 chiều
Tại: Diamond Seafood Place Restaurant
8058 Lampson Ave.
Garden Grove, CA 92841
(714) 891-5347
Ðây là dịp họp mặt lớn trong năm để quý đồng hương Bình Thuận và thân hữu xa gần chung vui và mừng Xuân Mậu Tuất.
Chương trình gồm các tiết mục vui tươi, mang màu sắc Quê Hương Vùng Biển Mặn cùng những tập tục cổ truyền ngày Tết như Chúc Thọ, Lì xì .... và một chương trình văn nghệ mừng Xuân với sự góp mặt của các ca sĩ thân hữu Bình Thuận và các ca sĩ chuyên nghiệp. Chi phí cho mỗi người là $35.00.
Ðể tiện việc sắp xếp, xin vui lòng cho chúng tôi biết số người cùng đến tham dự với quý vị. Sự hiện diện của quý vị sẽ là một vinh dự lớn lao cho Hội Thân Hữu Bình Thuận.
Trân trọng kính mời,
TM Hội Thân Hữu Bình Thuận
Tạ Trung
Hội Trưởng
714-642-9590 (cell)
Subscribe to:
Posts (Atom)





