Monday, November 9, 2015

Bánh rế - Phan Thiết

Bánh rế không chỉ là đặc sản mà còn là món ăn lót dạ trên những chặng đường du lịch, khám phá Phan Thiết.
Bánh rế có xuất xứ tại Phan Rang, Ninh Thuận nhưng ngày nay trở thành một trong những món ăn đặc sản ở Phan Thiết, Bình Thuận. Nghề làm bánh rế ở Phan Thiết tập trung chủ yếu trong khu vực  thành phố. Đây là nghề truyền thống của các gia đình, nên mỗi nơi cho ra lò những chiếc bánh rế có mùi vị và độ ngon khác nhau.
Những người làm bánh rế lâu đời tại Phan Thiết cho biết, món này thoạt đầu trông rất đơn giản, nhưng để chế biến thành công đòi hỏi người làm phải hết sức khéo léo. Nguyên liệu chính chủ yếu từ khoai mì hoặc khoai lang thái nhỏ.

Du khách muốn tìm hiểu thêm về nghề làm bánh rế có thể đến các lò làm bánh truyền thống ở phường Lạc Đạo, Đức Thắng, Phú Tài hay Đức Nghĩa để xem qua.
Khi làm bánh, người thợ bắc chảo dầu lên lò than đang ửng hồng, thêm một ít dầu dừa. Khi dầu sôi, bốc một nắm khoai mì, khoai lang bào sẵn bỏ vào vá (muỗng) có cán dài rồi nhúng vào chảo. Dùng đũa đảo sợi khoai lên cho chín đều và tránh bị dính vào thành cục quá dày.
Dầu nóng làm khoai chín và kết dính vào nhau, tạo nên những chiếc bánh có hình thù giống cái rế để lót nồi, xoong, niêu của người dân vùng quê, nhưng nhỏ hơn rất nhiều, từ đó mà "bánh rế" ra đời.
Chiên hết số sợi mì đã bào, cũng là lúc bánh rế đầy rổ. Người ta dùng một chảo khác để thắng đường. Gấp từng chiếc bánh rế một nhúng sâu vào chảo đường rồi lấy ra, cứ tiếp tục cho đến hết. Sau đó rắc thêm chút mè trắng rang sẵn lên mặt bánh rế để khi dùng tạo hương thơm và vị đặc biệt hơn.
Chiếc bánh rế chiên dầu vàng, nhai giòn tan, vừa ngọt vừa béo cùng với đó là hương thơm của mè, khoai lang, khoai mì…khiến vị giác của bạn như tan chảy mỗi khi nếm thử.
Du khách có thể tìm mua những chiếc bánh rế ở hầu khắp các quán đặc sản ở Phan Thiết, hay những gánh hàng rong ở các khu du lịch,  chợ Phan Thiết.
Nguồn: Internet

Sunday, November 8, 2015

Phan Thiết trên từng góc phố: 30 năm, một hàng bánh nghệ

Hàng bánh nghệ nằm ở góc ngã tư Nguyễn Tri Phương – Ngô Sĩ Liên (phường Đức Nghĩa, TP. Phan Thiết), từ lâu  trở thành điểm đến quen thuộc của nhiều người. Với diện tích vừa đủ đặt gánh hàng cùng vài chiếc ghế nhựa nhỏ và chỉ bán từ 6 - 9 giờ sáng mỗi ngày nhưng đặc biệt hút khách, kể cả khách du lịch.
Chủ hàng tên Huỳnh Thị Ngọc Hiền, ngụ tại khu phố 6, phường Đức Nghĩa, TP. Phan Thiết, ngoài tuổi 40 này nhưng đã có 30 năm với nghề bán bánh nghệ. “Làm bánh nghệ vừa vất vả vừa mất thời gian trong từng công đoạn nên ít người làm chịu làm chứ không phải tôi độc quyền!”, chị Hiền cười nói khi có khách hàng… thắc mắc.
Bánh nghệ được chị Hiền làm từ gạo, nếp và không chất phụ gia. Muốn bánh trắng, dai, thơm thì phải chọn loại gạo ngon, theo tỷ lệ 2 phần gạo, 1 phần nếp. Gạo ngâm nước cho nở rồi mang đi xay, để bột thật ráo nước. Lấy khối bột đặc ra bóp thật nhuyễn, trộn thêm vào ít bột lọc rồi cho vào nồi hấp khoảng 20 phút sau thì dùng máy đánh bột đánh cho thật nhuyễn, vừa đánh vừa cho thêm nước bột vào cho bột có độ mềm…
Bánh nghệ có màu trắng đục và mùi thơm của gạo. Nước mắm chấm bánh là nước mắm giã tỏi, ớt, chanh rồi nêm vừa ăn sao cho không quá ngọt hoặc mặn. Trong trí nhớ của những cụ cao niên thì ngày xưa bánh nghệ Phan Thiết được ăn kèm với xíu mại còn giờ đây, người bán lại cho thêm vài món phụ như chả lụa, chả cá, xoài xanh xắt nhuyễn cho thực khách dễ dàng chọn lựa. 
Một đĩa bánh nghệ giá chỉ từ 10.000 - 15.000 đồng không chỉ ngon miệng mà còn hợp với túi tiền của người lao động.
Trinh Thơ
Nguồn: Blog Bình Thuận

Bánh Hòn Bình Dân

Tiếng rao kéo dài, buồn của chị Ba Côi trôi theo từng vòng xe lăn nhưng dư vị của loại bánh có cái tên nghe không mấy cảm tình thì ở lại mãi với mỗi căn nhà mà chị Ba đi qua.
Đó là món bánh mà ngày nhỏ có chút tiền nào mẹ cho, lũ trẻ thường mua ăn, dù rất nhiều bà mẹ dư biết cách làm loại bánh này. Này nhé, đầu tiên là chọn bột mì loại tốt, mới (để tránh sâu, mọt và dai). Đường cát phải là loại thật khô, hạt to hay mịn đều được. Dừa thì chọn trái vừa, không non quá khó bào lấy sợi nhưng cũng đừng già quá ăn bị xảm. Vài lạng đậu phộng sống về rang hoặc ít thời gian thì mua loại rang sẵn. Nếu muốn có màu cho đẹp thì dùng ruột gấc, nước cốt lá cẩm, lá dứa… không thì cứ để bột màu trắng. Nếu thích màu mè thì phải dùng phẩm màu, vậy là xong phần nguyên liệu để làm bánh hòn.
Nhào bột kỹ cũng giúp cho bánh thành phẩm chất lượng hơn. Xong, vo bột lại thành sợi dài, lấy dao cắt ra từng viên trên thớt. Tùy theo sở thích có thể nhận vào giữa viên bột một hạt đậu phộng rang hoặc không, vo tròn viên bột. Chỉ còn thao tác luộc bột, cho ra thau nước lạnh, vớt để ráo, trộn với dừa đã bào sợi nữa là hoàn thành. Những viên bánh hòn có hình tròn, to nhỏ không đều nhau, khi chín có màu trắng trong, dính những sợi dừa trông thật hấp dẫn. Khi ăn, tùy theo sở thích mà trộn với đường cát hoặc rắc lên trên một ít muối đậu hay muối mè. Dai, giòn, sựt sựt, thơm, ngọt, bùi là những điều mà vị giác cảm nhận được khi dùng cây tăm ghim mấy viên bánh hòn cho vào miệng...Và cũng chắc vì bánh có dạng hình hòn bi nên gọi thành tên.
Ở Phan Thiết giờ cũng còn một số người bán bánh hòn dạo, khách hàng không chỉ là trẻ con. Tiếng rao “Ai… bánh… hòn… đê…!” như một nốt nhạc loang vào không gian, thấm vào dạ dày người nghe.
Do nguyên liệu dễ kiếm, không cầu kỳ, không đắt tiền nên giá thành một thau bánh hòn không cao. Người bán bánh hòn, vì vậy, bán một gói bánh đầy chỉ chừng 5.000 đồng hoặc cao lắm là 10.000 đồng... Nhiều du khách ở xa đến Phan Thiết đã nếm qua, có dịp ghé lại thường nhờ người quen tìm cho bằng được và khu vực đồi cát Mũi Né bên cạnh nhiều món ăn đặc sản khác vẫn còn sự tồn tại của bánh hòn. Chị Ba Côi, khu phố 2, phường Lạc Đạo kể, trước chỉ bán xôi, sau thấy nhiều người hỏi nên làm thêm bánh hòn từ năm 1985 tới nay. Mỗi ngày chị nhồi 1,3kg bột, thành phẩm là một thau nhỏ bánh hòn, xếp vào cùng thau xôi. Tầm 16 giờ, người phụ nữ luống tuổi bắt đầu rong ruổi miệt biển Đức Long, Lạc Đạo rồi đạp tuốt lên Tiến Lợi. Đến khoảng 20 giờ thì bán hết. Quầy “fastfood” của Siêu thị Co.op Mart Phan Thiết bên cạnh nhiều món ăn “tầm cỡ” cũng bày bán bánh hòn mà lạ là ngày nào cũng hết hàng sớm.
Không ai biết có từ lúc nào và có phải xuất xứ từ Phan Thiết hay không nhưng cho đến nay, món bánh hòn dân dã đã nghiễm nhiên trở thành đặc sản riêng có của vùng biển này và ít nhiều đã để thương để nhớ trong lòng mọi người.
Mai Kim Dung
Nguồn: Blog Bình Thuận

Cho Đi Và Nhận Lại

• Đôi khi bạn thấy cuộc đời này thật bất công! Bạn đã cho đi quá nhiều mà không nhận lại được bao nhiêu… Vấn đề thực ra rất đơn giản. Khi bạn cho đi là bạn đã nhận được rất nhiều hơn thế - đó là niềm vui vô hình mà bạn không chạm vào được.
• Bạn thắc mắc rằng tại sao khi người khác buồn thì bạn luôn ở bên cạnh họ để xoa dịu vết thương cho họ; rồi đến khi họ tìm lại được niềm vui thì họ sẽ lại quên bạn. Bạn ạ, cuộc đời này là một vòng tròn. Thật ra không có sự bất công nào đối với bạn ở đây hết. Có hay chăng sự nhận lại từ người khác chỉ là đến với bạn sớm hay muộn mà thôi; và cái quan trọng là bạn có mở rộng lòng mình để nhận nó hay không?
• Tất cả chúng ta sinh ra và tồn tại trên đời này đều mắc nợ nhau. Cho đi, nhận lại, là hình thức luân phiên để trả nợ lẫn nhau. Khi bạn cho đi những điều tốt đẹp thì bạn sẽ được sự bình yên trong tâm hồn. Bạn phải hiểu rằng cho đi không có nghĩa là sự toan tính ở đây. Bạn càng toan tính thì bạn lại càng cảm thấy bị dồn nén; bạn cho đi mà tâm bạn không tịnh. Khi ấy bạn vừa phải cho mà vừa không được nhận niềm vui vô hình từ chính bản thân cái cho đi của bạn.
• Tất cả mọi thứ chúng ta làm cho nhau đều có sự vay trả. Đôi khi là sự vay trả hữu hình, và đôi khi cũng là một sự vay trả vô hình. Mỗi người chúng ta quen biết nhau, yêu nhau, ghét nhau… âu cũng là cái duyên. Có duyên mới có những xúc cảm đó. Cái duyên ban đầu là do trời định, nhưng để gắn bó lâu dài, muốn biến cái duyên ấy thành tình yêu thương là do chúng ta quyết định, nhờ vào cái cho đi của mỗi người. Nhưng bạn nên nhớ, trong tình yêu không có sự trông mong được nhận lại, bởi tình yêu luôn là một thứ điều luật không công bằng của trái tim, không có định nghĩa cũng chẳng có lý lẽ. Có hay chăng một là bạn nhận được hạnh phúc; không thì bạn nhận chịu sự đau khổ. Tất cả đều trong một vòng tròn lẩn quẩn.
• Nhưng dù biết đôi khi cuộc sống không được như ý muốn của chúng ta, bạn hãy cứ cho đi. Cho đi là bạn đã tự yêu thương lấy chính bản thân mình. Bạn đã hòa vào dòng chảy của cuộc sống, của đời người.
- Đời người như một dòng sông, nhưng cuộc sống hòa tan với thời gian, luôn trôi đi và không ngừng đổi mới, mãi biến chuyển mà muôn đời vẫn thế.
- Tất cả dòng sông rồi sẽ đi về biển; từ biển bao la sẽ rót vào những con sông mênh mang tràn đầy. Mạch luân lưu không ngơi nghỉ ấy là cuộc sống.

Saturday, November 7, 2015

CHUYẾN TÀU CUỘC ĐỜI

Cuc đi ging như mt chuyến du hành trên xe la: người này lên tàu người kia xung ga, có nhng tai nn, có nhng chuyn ngc nhiên nhng trm này,  ri chuyn bun tt bc nhng trm khác. Lúc ta chào đi cũng như khi ta bước lên xe la, ta gp nhng người, ta đã tưởng rng h s li vi ta sut chuyến đi: đó là cha m ta! Tht không may, s tht li khác hn. Song thân đã xung mt ga n, b mc chúng ta thiếu tình yêu thương và s trìu mến, thiếu tình âu yếm và s đng hành ca các đng sinh thành.

Dù sao, l
i có nhng người khác lên tàu, h tr nên rt quan trng đi vi chúng ta: Đó là anh ch em ta, các bn bè và nhng người tuyt vi mà ta thương yêu. Có nhng người xem cuc hành trình như mt bui do chơi. Có nhng người khác li ch thy bun ru trong sut chuyến đi. Có nhng người luôn luôn hin din và sn sàng giúp đ nhng ai cn. Có nhng người, khi xung tàu, đã đ li mt ni nhung nh trin miên… Có nhng người va lên đã xung ngay, chúng ta ch va kp thy h thôi… Chúng ta ng ngàng vì mt vài hành khách mà chúng ta yêu mến li ngi mt toa khác, b mc chúng ta trong hành trình đơn đc. Dĩ nhiên, không ai có th cm cn chúng ta đi tìm h khp nơi trên xe la. Đôi khi, tht không may, chúng ta không th ngi bên h bi vì ch đã có người. Không can chi… hành trình là như thế: đy thách đ, lm gic mơ, nhiu hy vng… vi nhng ln t bit mà không biết bao gi tr li.

Hãy c
gng thc hin chuyến đi cho tt đp. Hãy c gng hiu nhng người ngi bên mình và tìm ra điu tt nht nơi mi người.

Hãy nh rng vào mi khonh khc ca chuyến đi, mt người đng hành nào đó có th chao đo và cn được chúng ta thông cm. Chúng ta cũng thế, chúng ta có th chao đo và s luôn có ai đó có th hiu chúng ta. Mu nhim ln lao ca cuc hành trình là ta không biết được khi nào ta s xung tàu mãi mãi. Chúng ta cũng chng biết được khi nào các bn đng hành chúng ta cũng xung tàu như vy. Ngay c người ngi ngay bên cnh chúng ta cũng thế. Tôi nghĩ là tôi s bun khi ri con tàu... 

Chc chn như vy! Chia tay vi tt c bn bè đã gp trên chuyến tàu s đau đn đy; đ li nhng người thân yêu trong cô đơn thì tht là bun
Nhưng tôi chc chn rng mt ngày nào đó tôi s đến ga trung tâm và tôi li được thy h đu đến vi mt hành trang h không h có khi bước lên tàu. Ngược li, tôi s sung sướng vì được góp phn làm cho hành trang ca h tăng thêm và phong phú hơn.

Các b
n mến! Tt c chúng ta, hãy c gng thc hin mt cuc hành trình đp và hãy đ li nhng k nim đp v chúng ta khi chúng ta xung tàu. Vi nhng ai đang cùng tôi du hành trên chuyến xe la cuc đi này.

Xin cu chúc quý v Thượng L Bình An!

Video và Nhạc / Thu Về Trên Phố Bolsa

Tiger Mori-izumi from Japan visiting Bolsa Mini Mall 

Các ngôi Chùa Phật tại Phan Thiết

 
Ra đời hai tay trắng,

Lìa đời trắng hai tay,

Sao mãi nhặt cho đầy,

Túi đời như mây bay.

Vạn vật vốn vô định, vô thường, khổ… Không biết mình có căn tu hay không chứ từ nhỏ đã được gửi vào Chùa, nghe nói lại khi ba mẹ mới sinh ra con đầu lòng, nhờ bà thày bói già đầu đường cái gần đình Tú Luông xem hậu vận, bả bảo khó nuôi nên đem cho Chùa. Lúc nhỏ, ghét bà thày này lắm, người gày còm xấu xí cứ cầm cục ngãi đen nhẳn vo tròn liên tục thỉnh thoảng “ịn ịn” vô trán chậm mồ hôi, phán… lớn lên phá của, làm tôi sợ cả đời không dám mở miệng mượn tới một đồng của ba mẹ bạn bè bà con cô bác lối xóm láng giềng. Vào chùa, các Thày lại xỏ lỗ tai, bắt nghe kinh kệ, tưới rau đuổi gà, ăn chay nằm đất. Tôi khóc mỗi khi ba mẹ thăm và rồi thương con, cũng phải xin mấy Thày cho về. Đúng là nghiệp chướng. Quay lại trần tục, lớn lên đủ chen lấn bôn ba, tha phương cầu thực khắp cỏi ta bà, lại thấy nhớ Thày nhớ Chùa, định kể chuyện cho mấy Bạn nghe về một số chùa Phan Thiết, biết đâu là cái nhân duyên.
Người Việt Nam thường theo đạo Phật, cả nước có khoảng 22.000 ngôi chùa lớn nhỏ, riêng Bình Thuận gần 300 chùa, Hà Nội nhiều nhất, Sơn La Lai Châu không có chùa nào, hèn chi nghèo suốt. Theo thời gian, Phật giáo nguyên thủy Ấn Độ truyền vào VN bằng 2 hướng, hình thành 2 hệ phái, Bắc tông (đại thừa) theo đường bộ từ Trung Quốc xuống cuối thế kỹ thứ 2 và Nam tông (tiểu thừa) theo đường thủy từ Ấn Độ sang khoảng thế kỹ thứ 3. Chùa Nam tông thờ một Phật, Phật là người đời thường, giác ngộ tu hành thành đạo. Chùa Bắc tông thờ nhiều Phật, các Phật là người cỏi trên mượn xác người phàm, xuống trần dạy người đời ăn ở hiền lành. Vào VN, pha trộn văn hóa, lịch sử, địa lý, tâm lý, trình độ dân trí, lâu ngày Phật giáo được bản địa hóa, nhiều khi pha lẫn giữa Phật giáo, Lão giáo và Nho giáo, hai hệ phái Phật giáo này còn biến hóa ra nhiều hệ phái Phật giáo khác như Trúc Lâm, Lâm Tế, Liễu Quán, Khất Sĩ, Thiền Tông, Bửu Sơn Kỳ Hương, Cao Đài, Hòa Hảo…, thậm chí tu tại cốc tại am tại gia. “Thứ nhất tu tại gia, thứ hai tu tại chợ, thứ ba tu tại chùa” hay “Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ hơn là đi tu”.
Phật giáo Bình Thuận, trước khi Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi, Phật giáo đã có mặt từ lâu trong cộng đồng tín ngưỡng của dân tộc Chăm (năm 1974 tại làng Phước Thiện Xuân có đào được một số tượng phật Chăm Pa) nhưng dần dần Phật giáo không thể tồn tại được trước ảnh hưởng của Bà La Môn giáo và Hồi giáo. Đến khi làn sóng di dân của người Kinh từ Ngủ Quảng vào theo đoàn quân Chúa Nguyễn, Phật giáo cũng được truyền vào và có mặt trên đất Bình Thuận ngay từ những ngày đầu mở đất. Sự truyền bá Phật giáo trong giai đoạn này có thể do một số dân theo đạo Phật mang vào và cũng có thể do các nhà Sư theo làn sóng di cư đem Phật giáo truyền vào Bình Thuận. Người đầu tiên truyền Phật giáo vào Bình Thuận khó có thể biết là vị nào, vì hiện nay chưa có một chứng tích khoa học chính xác nào để khẳng định, nhưng căn cứ vào bản kinh Pháp Hoa khắc gỗ còn lưu giữ tại Chùa Phật Quang, ngôi Chùa có sớm nhất từ thời mở đất Bình Thuận, có thể nói Phật giáo Bình Thuận do các nhà Sư Minh Dung Pháp Thông, Phật Sanh Long Đàm, Thiệt Sát Bảo Hương, Thiệt Huệ Khánh Tài, Kim Tiên Tịch Nhiệm… đưa đạo đến với đời sớm nhất.
Căn cứ vào long vị thờ Chư Hòa Thượng ở những ngôi Chùa cổ, có thể xác định được thời gian từ năm 1693 đến năm 1802 nơi đất Bình Thuận, Phật giáo được truyền bá sâu rộng dưới sự hoằng hóa của chư Tôn Hòa Thượng thuộc hệ phái Thiền Lâm Tế của cả 3 dòng Nguyên Thiều, Trí Bảng Đột Không và Liễu Quán. Các vị Hòa Thượng nhà Sư này có thể từ miền Trung vào và từ vùng đất mới Đồng Nai ra, khắc bản in kinh để lưu truyền trong dân gian, tạo dựng Chùa chiền để quy tập Phật Tử chiêm bái Tam Bảo. Đây là một chỗ dựa tâm linh vững chắc cho những người dân ở những vùng đất mới, cọp beo ma quỹ còn đầy.
Ngôi cổ tự nổi tiếng xưa nhất Bình Thuận có trên 320 năm là Chùa Phật Quang Phan Thiết, trước đó có tên chùa Bồ Đề. Chùa tọa lạc ở một con hẻm đường Võ Thị Sáu, thuộc hệ phái Bắc tông thiền Lâm Tế, được dựng vào thời Hậu Lê, đã trải qua 18 đời truyền thừa.
Chùa đang lưu giữ bộ kinh Pháp Hoa khắc gỗ đầy đủ và xưa nhất, phát hiện dưới hầm kín trong một lần dọn dẹp chùa vào năm 1987, được xem là quốc bảo Phật Giáo Việt Nam, làm từ thời vua Lê Thuần Tông, được 3 vị thiền sư và 12 đệ tử khắc tay  ròng rả suốt 28 năm, từ năm 1704 đến năm 1732. Đây là bộ kinh khắc gỗ gồm 110 tấm khắc 60.000 chữ Hán khắc ngược cả hai mặt, nội dung tóm tắc trong 9 chữ  “Khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật”, 8 tấm khắc tranh về cuộc đời Đức Phật. Mỗi tấm dày 4cm, dài 80cm, rộng 35cm bằng gỗ thị đỏ. Được biết, bộ kinh tại chùa Phật Quang là một trong ba bộ kinh Pháp Hoa cổ nhất trên thế giới. Hai bộ khác ở Trung Quốc được khắc trên đá và  đồng hiện đã bị phong hóa, mục nát, thất thoát nên nội dung chỉ còn được khoảng 20-30%. Riêng bộ kinh Pháp Hoa trên gỗ thị đỏ tại chùa Phật Quang vẫn nguyên vẹn gần như 100%. Hơn 300 năm tuổi đời, từng tấm gỗ khắc kinh vẫn vuông vức, sắc cạnh. Màu gỗ đỏ chuyển sang nâu đen bóng, từng nét chữ, nét vẽ đều tinh xảo. Chưa giải mã được tại sao khắc chữ ngược và ai đem dấu dưới hầm bí mật.
Ngôi chùa thứ hai giới thiệu mấy Bạn là chùa Phật học, nay là chùa Phật Ấn, nằm ngay trung tâm Phan Thiết, kỹ niệm một thời gia đình Phật tử (1950) của nhiều Thày như thày Q., thày G., thày D., mấy bạn như R, V, T… Mấy chục năm nay, hễ giao thừa là tôi vào chùa trước lạy Phật, sau hái trộm lộc. Đêm 30 tối trời, nhà chùa luôn từ bi hỉ xả.
Chùa được vận động quyên góp xây dựng vào năm 1940, nhờ công lao cụ Đoàn Tá, một công chức tại Tòa Công sứ tỉnh Bình Thuận thời Pháp đồng thời cũng là nhà thơ Phú Khê. Năm 1938, cụ Đoàn Tá cùng các cư sĩ khác đứng ra thành lập Hội An Nam Phật Học Bình Thuận. Đây được xem là tổ chức tôn giáo đầu tiên của tỉnh Bình Thuận. Năm 1954, nhằm tạo điều kiện cho con em các gia đình phật tử và các gia đình nghèo ở Phan Thiết có chỗ học tập, cụ Đoàn Tá đứng ra vận động các thân hào nhân sĩ, phật tử xây dựng Trường Bồ Đề. Ai từng ăn bột dinh dưỡng Bích Chi nổi tiếng một thời tại Sài Gòn, nhớ lại bà chủ Bích Hoàn, là người con gái út của cụ Đoàn Tá.

Nói Tết, lại nhớ chùa núi Tà Cú. Lúc nhỏ, sau Tết là đi chùa núi với Bà Nội hoặc Ba Mẹ. Đi xe lam vào chân núi, leo bộ băng rừng già lên chùa, vừa vịn đá leo dốc vừa khấn Nam Mô A Di Đà Phật để không mỏi chân, vui quá lên đến chùa lúc nào không biết. Không khí mát lạnh trong lành, chim kêu khỉ hú, chùm hoa rừng bằng lăng tím nở, kê miệng húp ngụm nước suối trong vắt, có khi chốn bồng lai tiên cảnh cũng không được như thế này. Xuống hang, thắp nhang cho Tổ, nghe ai đó kể chuyện hang này sâu lắm, đốt hết dầu đèn măng xông vẫn còn hang, khi xưa Tổ đi từ biển vào, chắc hang thông ra tới biển.
Chùa do Tổ Hữu Đức khai sơn vào hậu bán thế kỷ XIX, khoảng năm 1879. Tổ người huyện Sông Cầu, Phú Yên, sinh năm 1812 trong một gia đình quý tộc, năm 17 tuổi cha mẹ đều qua đời, rời quê hương, dong thuyền vào Nam tầm sư học đạo. Sau khi thọ giới, tìm đến thâm sơn cùng cốc để tu hành, vượt suối băng rừng lên đỉnh núi Tà Cú ẩn tu trong một hang đá, nay gọi là hang Tổ. Tục truyền, ngài đã cảm hóa được một đệ tử bạch hổ ở rừng. Là thày thuốc giỏi, năm Tự Đức thứ 33, ngài đã kê toa thuốc gửi sứ mang về triều chữa lành bệnh cho Hoàng Thái hậu Từ Dũ, nên vua ban cho bốn chữ Linh Sơn Trường Thọ để tạ ơn. Ngôi chùa từ đó được mang tên chùa Linh Sơn Trường Thọ. Ngài viên tịch vào năm Đinh Hợi (1887), thọ 76 tuổi, tháp được xây cạnh chùa, gần tháp có ngôi mộ nhỏ của trò bạch hổ. Theo tâm nguyện Thày, năm 1890, đệ tử là ngài Tâm Hiền Viên Huệ (1846 – 1924) khai sơn chùa Linh Sơn Long Đoàn hay gọi là chùa Hố Dầu, cạnh chùa Linh Sơn Trường Thọ. Năm 1943, Hòa Thượng Quảng Thành Thiện Thắng làm con đường mới từ cây số Km 28 (quốc lộ 1A - Huyện Hàm Thuận Nam) đi thẳng lên Chùa Núi. Trước kia, chỉ đi được con đường từ Phong Điền (Hàm Tân) để lên Chùa do Tổ Hữu Đức khai mở khi từ Bàu Trâm Ngài lần đầu tìm đường lên núi ẩn tu. Mặt tiền chùa núi trông thẳng ra biển Hàm Tân, xa xa có Hòn Bà thấp thoáng ẩn hiện những ngày trời quang mây tạnh, trên sơn dưới hải.
Trong đợt trùng tu chùa Linh Sơn Trường Thọ vào năm 1963, nhà chùa làm phía sau ngôi chánh điện một pho tượng đức Phật Thích Ca nhập Niết bàn dài 49 m, cao 11m, do kiến trúc sư Trương Đình Ý thực hiện từ năm 1963 đến năm 1966 (ông bạn già này là “lính” của PS khi làm ở Viện Quy hoạch TP, đã định cư  ở Mỹ). Pho tượng này đã được xác lập kỷ lục là pho tượng Phật Thích Ca nhập niết bàn dài nhất Việt Nam và dài đúng 49m, con số rất đẹp, có ý nghĩa. Đố mấy Bạn ?


Năm 2002, khu du lịch Tà Cú được thành lập đã xây dựng hệ thống cáp treo hiện đại đưa du khách lên chùa. Cáp treo do hãng Doppelmay Cộng hòa Áo lắp đặt, trang bị 35 cabin đóng mở tự động, sức chở đến 1000 khách/giờ, đường cáp dài 1.600m, lơ lửng ở độ cao  500m, đi hết trong  8 phút.

Nói chùa Tăng mà quên kể về chùa Ni là một thiếu sót lớn, vì Phan Thiết có các Ni Bà cống hiến rất lớn trong sự nghiệp chấn hưng, đào tạo và hoằng hóa Phật giáo như các Ni Bà Thích Nữ Huyền Tông và Thích Nữ Huyền Học. Sự nghiệp của Ni Trưởng Huyền Học chẳng những có ảnh hưởng ở địa phương mà còn ảnh hưởng rất lớn đối với Phật giáo Nam Bộ, riêng Sài Gòn thì Sư Bà khai sơn chùa Vĩnh Phước Tân Thới Nhất Q12 (1975). Phan Thiết, thì phải nhắc đến Bình Quang Ni tự.
Chùa Bình Quang xưa kia là một ngôi Chùa làng, do các hương chức cùng người dân sáng lập vào năm Thành Thái thứ 11 (1900) để thờ Phật. Chùa tọa lạc tại đường Cao Thắng Phường Bình Hưng. Khoảng 1937, Ni Trưởng Diệu Tịnh từ miền Nam đi hoằng hóa ra miền Trung ghé lại Bình Thuận để khai đàn giảng pháp, cảm ân đức và mến phục Ni Trưởng nên dân làng cung thỉnh Ni Trưởng Diệu Tịnh trụ trì và cúng luôn ngôi Chùa này cho Ni Trưởng. Từ đó Chùa Bình Quang trở thành Tổ đình của Ni giới Bình Thuận. Ni Trưởng Diệu Tịnh ở Bình Quang hoằng hóa một thời gian, sau đó tiếp tục đi hoằng hóa các Tỉnh miền Trung, vào hoàng cung thuyết pháp được Vua Bảo Đại phong Sắc Tứ Chùa Bình Quang. Năm 1942 Ni Trưởng Diệu Tịnh giao lại cho Đệ tử là Ni Trưởng Huyền Tông trụ trì.
Sư Bà Huyền Tông là con gái bà Hàm hộ Cửu Mười nước mắm Hồng Xuyên, cũng là vai Bà của tôi, TS, DVS và khá nhiều ái hữu học sinh PBC. Ba tôi lúc còn sống nói lại, Sư Bà thuở nhỏ đã có nhân duyên với nhà Phật, con gái nhà giàu đang đi học bỏ trốn vào Sài Gòn xin quy y với Sư bà Diệu Tịnh. Gia đình biết được, vào chùa xin cho Bà về, Bà không ra gặp mẹ, lén nhìn mẹ khóc qua ô cửa và bật khóc, nhưng cố tĩnh tâm bấm tràng niệm Phật. Sau này khi Ni trưởng Diệu Tịnh ra Phan Thiết, thấy tình cảnh khó xử, đưa Sư Bà về lại chùa Bình Quang, nhưng khuyên với gia đình không nên lôi kéo Bà trở lại đời thường. Chùa Bình Quang từ đó có sự góp công cúng dường lớn của gia đình Bà Hồng Xuyên. Những năm trước 75, Sư Bà mở ra trường mẫu giáo Kiều Đàm nằm góc đường Trần Hưng Đạo Ngô Sỹ Liên.

Những ngôi chùa Phật tại Phan Thiết nhiều lắm, phải gần 40 chùa. … Chùa Từ Quang Trinh Tường (1742), chùa Bửu Sơn Phú Hài (1800), chùa Liên Trì Đức Nghĩa (1810), chùa Hưng Long Lạc Đạo (1906), chùa Long Hải Đức Long (1907), chùa Thiền Lâm Đức Long (chùa Ông Rau, 1911), chùa Pháp Bảo Lạc Đạo (1930), chùa Linh Thắng Lạc Đạo (1945), chùa Vạn Thiện (1958), Tịnh Xá Ngọc Cát trên động làng thuyền (1958), chùa Phật bảy đầu rồng Đức Long (1971), chùa Linh Long Mủi Né, Liên Hoa ni tự, chùa Minh Châu Phú Thủy… Nhưng thôi, để dành cho bà Rớt cũng khóa 72 con bà cố Tám của tôi viết tiếp.

Lúc nhỏ nghịch nghợm chỉ sợ nhân quả nghiệp chướng, vô chùa thường thấy Ông Thiện Ông Ác, lại gặp cả Đức Phật Tam tạng. Lớn lên nghe thêm về vô thường, vô ngã, khổ… Trong sanh có diệt, trong diệt có sanh. Hợp rồi tan, tan rồi hợp. Sự thay đổi triền miên khó đoán. Tất cả đều là vô thường, đều do nhân duyên và bởi cái tôi lại sinh ra khổ. Phật pháp vô thường, tôi lại khăng khăng cái tôi, thành ra khổ suốt đời, khổ nhất là chưa ngộ Phật pháp. Chỉ ngộ một điều, …suis l’amour, l’amour fuit mà fuis l’amour, l’amour suit.


Khi người ta có được niềm vui, có được khoảnh khắc bình yên, có được nụ cười một mình, chính đó là lúc đang đến với Phật. Trong trạng thái nầy, đàn ông sẽ khỏe, đàn bà sẽ đẹp, tất cả sẽ thông minh hơn, và chắc sống lâu hơn. Khuyên mấy Bạn 72 nhớ ăn chay niệm Phật, ăn ở hiền lành, tu nhân tích đức, nhân hậu vị tha, nghe nhiều nói ít, bớt lên facebook, con trai bớt nhìn chằm chằm con gái, con gái bớt nhìn lén con trai… Sorry, lộn rồi, cái này phải nói với vợ con mình đúng hơn. Lại bệnh quên đầu quên đuôi giống GH.

Phạm Sanh,  P3/B2 72PBC









   
    


 
- 5g sáng 8-7 Giáp Ngọ (3-8-2014), NT.Thích nữ Huyền Tông đã viên tịch tại tổ đình Bình Quang Ni tự (số 02 Cao Thắng, P.Bình Hưng, TP.Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận), trụ thế 96 năm, Hạ lạp 76 năm.