Thursday, May 31, 2018

Cựu HS và Thầy Cô Trần Lục Hội Ngộ 60 Năm 1958-2018

QUẬN CAM (Phan Tấn Hải/VB) – Các cựu học sinh Trung Học Trần Lục đã hội ngộ 3 ngày cuối tuần qua, và đó là buổi họp mặt kỷ niệm 60 năm Trần Lục, tính từ lớp đầu tiên (ra trường năm 1958) tới bây giờ (2018) là tròn 60 năm.
Trường Trung Học Trần Lục nằm ở Tân Định Sài Gòn, chỉ có 4 lớp đầu trong bậc Trung Học – lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ) tới lớp Đệ Tứ (lớp 9) – và sau đó thường là chuyển lên Trung Học Chu Văn An (trên đường Minh Mạng) để học lớp Đệ Tam (lớp 10) tới khi tốt nghiệp Trung Học, lúc đó là thi Tú Tài 2.
Điểm đặc biệt, Hội Ngộ 60 Năm Trần Lục cũng là duy nhất trong đời rất nhiều người, vì sau đó là thôi, theo lời anh Phạm Gia Đại trong Ban Tổ Chức, vì phải chờ 60 năm nữa mới tổ chức lần thứ nhì (nếu có bạn nào còn hiện diện trong cõi này, mà chưa quên ký ức trung học).
Buổi hội ngộ  được trực tiếp truyền sóng livestream vào FaceBook do chị Tâm An thực hiện, cũng như truyền sóng truyền hình trực tiếp qua một đài địa phương.
Trước khi vào hội ngộ là một chuyến đi tour cho một số cựu học sinh Trần Lục và thân hữu một tuần thăm thắng cảnh Yellowstone tại California. Anh Bùi Đức Uyên đã giúp cho các bạn xa gần đi du lịch đến khu Yellow Stone ngay trước ngày Hội Ngộ, và trở về Little Saigon tối ngày 25/5/2018 để kịp thời tham dự Hội Ngộ.
Hôm Thứ Bảy 26/5/2018 là buổi tiền hội ngộ tại hội trường khu nhà Clubhouse/Lake Park, nơi văn nghệ phụ diễn cây nhà lá vườn, ban nhạc một người, và tự do ngồi, nói chuyện, hàn huyên…
Buổi hội ngộ chính là Chủ Nhật 27/5/2018 tại nhà hàng Golden Sea, nơi ban nhạc một người Night Star.
Đặc biệt có hai thầy đã từng dậy học tại Trần Lục tham dự: Thầy Cô Đỗ Kim Bảng và Thầy Doãn Quốc Sỹ.
Giây phút từ biệt là buổi Điểm Tâm hôm Thứ Hai 28/5/2018, đúng ngày Lễ Memorial Day, tại tiệm Phở Pasteur lúc 10am sáng, nơi đã đặt trước một bàn dài cuối phòng cho 50 người.
Buổi Hội Ngộ có nhiều bạn từ xa về tham dự, trong đó xa nhất có một bạn từ Úc châu tới, một bạn từ Pháp quốc tới. Còn xa cỡ Texas tới cho nhà báo Nguyễn Văn Lập, còn gọi là Lập Mũ Đỏ. Hai bạn Trần Lục bị stroke và đã thuyên giảm nên đến tham dự được là: Nguyễn Cường đi walker (tại địa phương) và anh Vũ Trọng Tiến (đến từ Stockton bắc Cali). Nghĩa là, hễ chồm dậy được, là tới tham dự, vì sau Hội Ngộ này là thôi, không có lần thứ nhì nữa.

 Hai MC Vũ Quốc Phong và Lê Tuấn đã khéo léo, linh động điều hợp chương trình. Một cựu học sinh nổi tiếng trong lĩnh vực nghệ thuật là ca sĩ, nhạc sĩ Bảo Ngọc đã làm sôi động thêm cho chương trình.
Thầy Đỗ Kim Bảng được mời lên trình bày, nói rằng kỷ niệm ban đầu của Thầy với Trung Học Trần Lục là lo ngại, vì sau 5 năm ở Võ Bị được về dạy trung học, chỉ lo là gặp các tay quậy phá hàng thứ ba thế giới, chỉ thua ma với quỷ thôi, nhưng hóa ra học sinh các nah lại vô cung ngoan hiền, và sau một năm dạy, Thầy tự tin vì biết làm tròn được nhiệm vụ nhà giáo.
Thầy Đỗ Kim Bảng nói rằng các anh bây giờ cũng cao niênc ả rồi, kiến thức nhiều người hơn tôi. Trong phong tục dân tộc, hễ 50 tuổi là được người chung quanh gọi là cụ rồi, tôi nhớ hồi Giáo sư Nguyễn Đăng Thục hơn 50 tuổi là được gọi bằng cụ, trong khi 60 tuổi là thượng thọ lục tuần, 70 tuổi là thượng thọ thất tuần, 80 tuổi là thượng thọ bát tuần… do vậy bây giờ tôi cũng gọi các anh là “các cụ ạ.”
Thầy Doãn Quốc Sỹ nói rằng tình thầy trò lúc nào cũng vô giá… Trong khi lương nhà giáo đạm bạc, nhưng tình thầy trò thực sự là vô giá, cảm động. Thầy Doãn Quốc Sỹ đã yếu, đi lên nhờ người con trai là nhà báo Doãn Quốc Hưng dìu theo.
Anh Đỗ Đăng Liêu từ Úc châu tới, nói rằng thời nhỏ đã say mê đọc tác phẩm Dòng Sông Định Mệnh của Thầy Doãn Quốc Sỹ. Anh Liêu nói rằng bạn học Trần Lục nào tới Úc, đi bộ vào nhà anh, sẽ được anh nướng một con cừu làm tiệc, và trước giờ chỉ mới làm như thế một lần, nhưng hy vọng sẽ đón nhiều bạn để làm nhiều lần nữa.
Anh Phạm Hữu Bảo từ Pháp quốc sang nói rằng anh từng có cơ duyên học Thầy Đỗ Kim Bảng, nhưng không có cơ duyên học Thầy Doãn Quốc Sỹ.



Một điểm độc đáo Hội Ngộ 60 Năm Trần Lục là văn nghệ AVT, một hình ảnh và phong cách nhạc của 3 nhạc sĩ rất là Bắc Kỳ 54 ở Sài Gòn kiểu thời xa xưa. Cũng đặc biệt là ban nhạc Hương Xưa với 4 ca sĩ cũng rất là Bắc Kỳ 54 ở Sài Gòn, trong đó có ca sĩ Hồng Tước cũng là một nhạc sĩ sáng tác.
Bạn Phạm Gia Đại đã hát ca khúc Bước Chân Chiều Chủ Nhật của Thầy Đỗ Kim Bảng, một vị Thầy để lại một số ca khúc được ưa chuộng như Mưa Đêm Ngoại Ô, Bước Chân Chiều Chủ Nhật…
Thầy Đỗ Kim Bảng được mời lên giải thích đã nói rằng Thầy rất mực ưa thích đi lang thang một mình trên đường phố Sài Gòn, dưới ánh nắng vàng thơ mộng…
Cũng nên nhắc rằng Thầy cũng nổi tiếng trong lĩnh vực âm nhạc, và tiểu sử trên các trang lịch sử âm nhạc viết như sau: Nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng  gốc Quảng Nam, sinh năm 1932 tại Huế. Ông là bạn đồng khoá với nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương từ trường trung học Khải Định cho đến trường Cao đẳng Sư phạm  và Đại học Văn khoa Hà Nội. Ông học đàn với nhạc sĩ Lê Quang Nhạc, học nhạc lý Tây phương với nhạc sĩ  Văn Giảng và học thêm cổ nhạc với nhạc sĩ  Nguyễn Hữu Ba. Những năm học trung học ông tham gia sinh hoạt văn nghệ trong trường  và trong Gia đình Phật tử  với các bạn như  Phạm Mạnh Cương, Hồ Đăng Tín, Hoàng Nguyên, Kiêm Đạt, Diên Nghị, Tạ Ký (thơ), Minh Tuyền (nhiếp ảnh), Lữ Hồ (văn học)… Năm 1953, ông ra Hà Nội học tại Đại học Văn khoa và Cao đẳng Sư phạm. Trong thời gian này ông học thêm âm nhạc với nhạc sĩ Hùng Lân. Cuối năm 1954, ông di cư vào Saigon .  Năm 1955, ông tốt nghiệp Cao đẳng Sư Phạm, được bộ Giáo dục biệt phái sang bộ Quốc phòng và dạy tại trường  Võ bị Quốc Gia Đà Lạt  từ 1955 đến 1960. Trong thời gian này ông sáng tác bản “Khúc hát ngày mai” được ban Thăng Long trình bày trên đài phát thanh Saigon và đài Quân đội. Năm 1960 về lại bộ Giáo dục ông dạy tại trường Trần Lục rồi Nguyễn Du. Trong năm này ông cho ra đời bài “Mưa đêm ngoại ô” và năm 1963 bài “Bước chân chiều Chủ nhật” do Thanh Thúy hát….
Trong khi đó, thượng thượng thọ là Thầy Doãn Quốc Sỹ (sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923), dạy học tại các trường trung học công lập như Nguyễn Khuyến (Nam Định, 1951-1952), Chu Văn An (Hà Nội, 1952-1953), Trần Lục (Sài Gòn, 1953-1960). Làm hiệu trưởng trường Trung học Công lập Hà Tiên (1960-1961), giáo sư trường Trung học Hồ Ngọc Cẩn (1961-1962), giáo sư trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn, Đại học Văn Khoa Sài Gòn năm 1962 đến giữa thập niên 1960. Ông du học tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và rồi trở về nước tiếp tục công việc giảng dạy cho đến năm 1975.
Là nhà văn nổi tiếng, Thầy Doãn Quốc Sỹ để lại nhiều tác phẩm lớn, trong đó có Khu Rừng Lau, một trường thiên tiểu thuyết gồm có: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến (1964), Tình Yêu Thánh Hóa (1965), Những Ngả Sông (1966)...Theo Lê Văn, đặc phái viên Việt Ngữ của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, trong một cuộc phỏng vấn ông, có dẫn chuyện rằng "Ba Sinh Hương Lửa người ta thường ví như những tác phẩm lớn của Nga như Chiến tranh và hòa bình" trong đó nội dung mô tả lại những cảm xúc đớn đau của một thế hệ thanh niên mới lớn tham gia vào công cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng sau đó phát giác ra mình đã bị lợi dụng như công cụ đấu tranh giai cấp của những người cộng sản và "có lẽ chính vì thế mà anh đã bị cộng sản bỏ tù khi họ khi chiếm được miền Nam."



Trong khi Thầy Đỗ Kim Bảng bị tù cải tạo ba năm rồi vượt biên, Thầy Doãn Quốc Sỹ bị CSVN giam nhiều lần vì tội "viết văn chống phá cách mạng", tổng cộng là 14 năm.
Cũng trong truyền thống văn học của Trần Lục, anh Phạm Gia Đại là tác giả cuốn hồi ký nổi tiếng có nhan đề Những Người Tù Cuối Cùng, đồng thời cũng là một nhà bình luận chính trị thời sự được chú ý nghe.
Tương tự, trong các cựu học sinh, có tham dự là hai nhà báo Nguyễn Văn Lập và Phan Tấn Hải từ nhiều năm nay hoạt động trong giới cầm bút ở hải ngoại.
Tham dự Hội Ngộ tổng cộng khoảng 120 đồng môn và thân hữu tới từ các nơi xa như Pháp, Úc, và các nơi như Virginia, Texas, Nevada, Bắc Cali, San Diego…



Trường Trung Học Trần Lục nguyên là trường bán công thành lập vào năm 1950 tại huyện Kim Sơn, Ninh Bình, Bắc Việt. Vị hiệu trưởng đầu tiên là linh mục Trần Văn Kiệm, tốt nghiệp BS Hóa Học và MS Vật Lý tại Hoa Kỳ vào thập niên 1950. Sau trở thành trường công lập. Năm 1954 trong cuộc di cư vào Nam, Hiệu Trưởng và toàn ban giáo sư đã lên đường vào Nam lánh nạn cộng sản. Khi vào đến Saigon, trường tạm trú tại trường Đổ Chiểu cho đến năm 1971 khi xây dựng được cơ sở mới trong Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa, Quận 10 Saigon thì đổi tên thành Trường Trung Học Nguyễn Du. Từ ngày thành lập đến nay, trường Trần Lục (và sau đó là Nguyễn Du) đã đào tạo được nhiều nhân tài phục vụ cho đất nước về các lãnh vực văn hóa giáo dục, quân sự, chính trị, v.v...
Việt Báo 

Người anh hùng thầm lặng đã giúp thế giới tránh khỏi cuộc chiến tranh nguyên tử. Xuân Trường

 Vasili Arkhipov đã mạnh mẽ phủ quyết quyền khai hỏa vũ khí nguyên tử của chỉ huy tàu B-59. (Ảnh: alchetron.com)
Cách đây 56 năm, thế giới suýt bị hủy diệt vì chiến tranh nguyên tử giữa Mỹ và Liên Xô trong 13 ngày cân não căng thẳng từ cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba. May mắn thay, có một người đã cứu vãn khỏi tình thế nguy hiểm ấy. Đó là người anh hùng thầm lặng Vasili Alexandrovich Arkhipov.
Để hiểu tầm quan trọng của quyết định ấy, chúng ta cần quay trở lại cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba.
Mồi lửa nhen nhóm
Tháng 5/1962, Tổng Bí thư Liên Xô Nikita Khrushchev và Chủ tịch Cuba Fidel Castro đã đạt được thỏa thuận “bí mật” cho phép Liên Xô bắt đầu xây dựng các trận địa tên lửa ở Cuba, trong đó có tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm xa mang đầu đạn nguyên tử.
Năm 1962, Liên Xô bắt đầu xây dựng lắp đặt tên lửa đạn đạo mang đầu đạn nguyên tử tại Cuba.
Vào thời điểm này, Mỹ có tên lửa nguyên tử ở Thổ Nhĩ Kỳ và Ý có thể tấn công Moscow trong vòng 16 phút sau khi được phóng. Liên Xô khi ấy dù có rất nhiều vũ khí nguyên tử hoàn toàn có khả năng hủy diệt các mục tiêu của đồng minh Mỹ trên khắp châu Âu, nhưng lại không có khả năng tiêu diệt các mục tiêu ở Mỹ. Vì vậy, Liên Xô cần phải có vũ khí nguyên tử ở Cuba, để lấy lại sự cân bằng trong Chiến tranh Lạnh.
Từ một bức ảnh do thám
Mùa thu năm 1962, một chiếc máy bay U-2 của Mỹ bay qua Cuba để tìm cách xác nhận thông tin tình báo về các trận địa tên lửa của Liên Xô ở San Cristobal (Cuba).
Ngày 14/10/1962, chiếc U-2 trở lại Mỹ đem theo hình ảnh xác thực các vị trí Liên Xô bí mật lắp đặt tên lửa đạn đạo tầm xa và tầm trung mang đầu đạn nguyên tử, cách bờ biển Florida của Mỹ chỉ khoảng 90 dặm. Một ngày sau, những bức ảnh này được đặt lên bàn làm việc của Tổng thống J.F. Kennedy.
Ngày 15/10/1962 được coi là ngày khởi đầu cho Cuộc khủng hoảng tên lửa nguyên tử nghiêm trọng nhất trong lịch sử, kéo dài 13 ngày vào đúng thời điểm cao trào trong Chiến tranh Lạnh, khiến tình hình thế giới trở nên vô cùng căng thẳng trước nguy cơ nổ ra một cuộc chiến tranh nguyên tử.
Ngày 22/10, Tổng thống Kennedy tuyên bố: “Vũ khí nguyên tử tên lửa đạn đạo có sức tàn phá khủng khiếp, bất kỳ việc triển khai đột ngột nào cũng có thể được coi là mối đe dọa nhất định đối với hòa bình thế giới … Tên lửa chiến lược của chúng ta chưa bao giờ được chuyển tới lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào dưới lớp vỏ choàng bí mật và dối trá”.
Hải quân Mỹ thực hiện chiến dịch kiểm soát nghiêm ngặt các vũ khí vận chuyển vào Cuba bằng đường biển. (Ảnh: learning-history.com)
Tổng thống Kennedy cũng công bố những hành động mà chính phủ Mỹ thực hiện để đáp trả việc khai triển vũ khí nguyên tử của Liên Xô tại Cuba, bao gồm “một chiến dịch kiểm soát nghiêm ngặt” tất cả các thiết bị quân sự chuyển tới Cuba bằng đường biển. Thuật ngữ “kiểm soát” để nhằm chỉ hành động “phong tỏa” của hải quân Mỹ, chặn mọi ngả đường dẫn vào bờ biển Cuba.
Ngày 24/10, Tổng thống Kennedy ra lệnh khai triển hàng trăm tàu chiến, gồm 4 tàu sân bay và nhiều máy bay tuần tra, máy bay săn tàu ngầm để phong tỏa bờ biển Cuba, đồng thời thông báo cho phía Liên Xô rằng, Mỹ sẽ thả bom chìm cảnh cáo nếu họ xác định đúng các tàu ngầm của Liên Xô và buộc tàu ngầm phải trồi lên mặt nước và quay trở về.
Có một điều mà Tổng thống Kennedy không biết được rằng, thời điểm đó Tổng bí thư Khrushchev đã gửi một biên đội tàu ngầm có trang bị vũ khí hạt nhân đang trên đường tới Cuba. Tất cả các tàu ngầm này đều được quyền tự quyết khai hỏa phóng ngư lôi nguyên tử nếu họ mất liên lạc với Moscow.
Đòn cân não
Ngày 1/10/1962, một đội gồm bốn tàu ngầm tấn công hạt nhân Foxtrot diesel di chuyển từ căn cứ Bắc Cực, gồm chiến hạm B-59, và ba tàu chị em, B-36, B-4 và B-130 thuộc Lữ đoàn tàu ngầm số 69 bí mật tìm đường băng qua hàng rào phong tỏa của tàu chiến Mỹ để tiếp cận Cuba..
Chỉ huy của nhóm tàu là thuyền trưởng Vasili Alexandrovich Arkhipov đi trên chiếc B-59 nhưng không chỉ huy nó. Thuyền trưởng của chiếc B-59 là Valentin Grigorievitch Savitsky. Ba trong bốn chiếc tàu ngầm ấy, chỉ cần sự đồng ý của chỉ huy tàu và sĩ quan chính trị là có quyền pha't động “vũ khí đặc biệt” trên tàu.
Tuy nhiên, trên chiếc B-59, cần phải có sự đồng ý của chỉ huy tàu, sĩ quan chính trị và “thuyền trưởng thứ hai”, Vasili Arkhipov. Thêm nữa, gần như không có thủy thủ nào biết trên tàu của họ mang theo một quả ngư lôi đầu đạn nguyên tử, có sức mạnh hủy diệt tương đương với quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima.
Không có thủy thủ nào trên B-59 biết trên tàu có vũ khí nguyên tử có sức hủy diệt như quả bom tại Hiroshima. (Ảnh: dailystar.co.uk)
Ngày 27/10/1962, trên hải phận quốc tế, lực lượng đặc nhiệm của tàu khu trục và máy bay tuần tra Mỹ đã phát hiện tàu ngầm B-59 khi nó đang nổi lên mặt nước để sạc ắc quy. Để tránh sự truy lùng của máy bay Mỹ, B-59 buộc phải lặn sâu xuống nước khi ắc quy chưa được nạp đầy.
Một cuộc vây lùng tàu B-59 với sự tham gia của 11 tàu khu trục Mỹ bắt đầu chiến dịch “quấy rối” bằng sóng siêu âm và thả bom chìm xung quanh chiếc B-59, như một dấu hiệu cho thấy đối phương muốn nó phải trồi lên mặt nước.
Lẩn trốn trong lòng đại dương, chịu áp lực bởi những quả bom chìm khiến tàu B-59 rung lắc dữ dội, bên trong nó là một trận chiến nảy lửa của đội ngũ cấp cao chỉ huy tàu, cùng thủy thủ đoàn hoàn toàn kiệt quệ vì căng thẳng và mệt mỏi.
Quan ngại là người Mỹ không hề biết mục tiêu họ đang truy kích dữ dội ấy là một tàu ngầm có mang theo đầu đạn nguyên tử và chỉ huy tàu B-59 khi ấy đang lưỡng lự: Liệu có khai hỏa?
Căng thẳng tột cùng
Trước sự bao vây của các chiến hạm Mỹ, tính tới thời điểm này, tàu B-59 đã lặn sâu dưới biển gần 4 tuần và gần 1 tuần mất liên lạc với Moscow, các thành viên trên tàu hầu như kiệt sức và không nhận thức được hoàn cảnh.
Điều quan trọng là B-59 được thiết kế để chịu được điều kiện băng giá của Bắc cực nhưng giờ lại phải chịu nhiệt độ quá nóng ở Đại Tây Dương. Vì hệ thống làm mát không được thiết kế cho vùng biển nhiệt đới nên khi nhiệt độ bên ngoài tàu lên tới hơn 30 độ C thì nhiệt độ trong tàu tăng tới 45 đến 60 độ C, mức CO2 đã trở nên nguy hiểm khiến nhiều thủy thủ bị ngất xỉu.
Độ ẩm cũng là một vấn đề nghiêm trọng, khẩu phần ăn bị cắt giảm và mỗi người chỉ được phép uống một ly nước mỗi ngày.. Thủy thủ Anatoly Andreyev ghi trong nhật ký: “Ở đây, tình hình rất nghiêm trọng và ngày càng tồi tệ hơn, nhiều người bị bệnh, một số bị ngất xỉu, số khác bị phù nề. Không ai ngủ được trong cái nóng khủng khiếp và không khí ngột ngạt này. Hầu hết mọi người bị sốt phát ban”.
Việc chỉ huy tàu Savitsky ra lệnh cho B-59 lặn sâu hơn dưới đại dương để lẩn trốn khỏi sự truy lùng của tàu Mỹ đồng nghĩa với việc mọi liên lạc với bên ngoài đều bị cắt đứt. Họ không thể nghe được bất cứ phương tiện truyền thông nào của Mỹ, cũng như không nhận được bất cứ liên lạc nào từ Moscow.
Lần hiếm hoi B-59 nổi lên sạc ắc quy nhưng đã bị máy bay Mỹ phát hiện nên buộc phải lặn sâu xuống biển. (Ảnh: learning-history.com)
Thời điểm ấy, họ không biết được rằng hải quân Mỹ đã thông báo cho phía Liên Xô biết “Thủ tục xác định vị trí và Nhận dạng Tàu ngầm”, rằng phía Mỹ sẽ thả bom chìm loại nhỏ để báo hiệu cho tàu ngầm Liên Xô biết họ đã bị phát hiện và buộc phải nổi lên mặt nước trước khi Mỹ sử dụng loại bom chìm uy lực hơn. Thật không may, Moscow không thể truyền đạt thông tin này cho chiếc B-59 do nó lặn quá sâu dưới nước.
Sức công phá của bom chìm dù nhỏ nhưng vẫn làm hỏng cột ăng ten vô tuyến khiến thủy thủ tàu B-59 không liên lạc được với sở chỉ huy. Bởi vậy, các sĩ quan trên tàu ngầm không hề biết đến “Thủ tục xác định vị trí và nhận dạng tàu ngầm” mà Mỹ đã thông báo cho phía Liên Xô dẫn đến việc Mỹ quyết định gửi tín hiệu cảnh báo mạnh mẽ hơn bằng cách sử dụng loại bom uy lực hơn.
Vadim Pavlovich Orlov, một sĩ quan tình báo truyền thông trên tàu B-59 đã mô tả về bom chìm nổ ngay bên cạnh thân tàu như sau: “Nó giống như bạn đang ngồi trong một thùng kim loại, mà ai đó liên tục nổ mìn bằng búa tạ”.
Trong không gian chật hẹp với nhiệt độ tăng lên tới mức cực điểm 60 độ C, những thành viên trên tàu B-59 đã trải qua những thời khắc không khác gì địa ngục. Anatoly Andreev viết trong thư gửi cho vợ: “Bốn ngày qua, bọn anh lặn sâu dưới nước…. Tưởng chừng như đầu nổ tung vì không khí ngột ngạt trên tàu…. Hôm nay, ba thủy thủ bị ngất xỉu vì quá nóng… Máy lọc không khí chạy ì ạch, hàm lượng CO2 đang gia tăng và trữ lượng điện đang giảm xuống mức thấp nhất. Những thủy thủ hết ca trực thì ngồi yên bất động, mắt nhìn vào hư không… Nhiệt độ trên tàu lúc nào cũng duy trì liên tục trên 50 độ C”.
Hải quân Mỹ thả bom chìm buộc tàu ngầm B-59 phải nổi lên mặt nước. (Ảnh: hague6185.wordpress.com)
Lúc này, sự căng thẳng bao trùm toàn bộ thành viên. Andreyev viết về chỉ huy tàu Savitsky như sau: “Điều tồi tệ nhất là tinh thần của chỉ huy tàu căng như dây đàn. Ông la mắng mọi người và hành hạ bản thân mà không nhận ra rằng nên tiết kiệm sức lực của chính mình và của những thành viên khác, nếu không sẽ không thể kéo dài lâu. Ông ấy trở nên hoang tưởng, lo sợ mọi thứ và điều đáng ngại nhất là những hành động bộc phát của ông.”
Chỉ huy tàu Valentin Savitsky đang ở trong tâm trạng lo lắng, kiệt sức, thiếu thông tin trong suốt chuyến đi kéo dài cả tháng trời dưới biển. Ông cho rằng trên mặt đất đã xảy ra chiến tranh hạt nhân và nghĩ tới khả năng phóng ngư lôi đầu đạn hạt nhân. Theo chỉ thị từ trước, trong trường hợp mất liên lạc với mặt đất, tàu ngầm có quyền phóng ngư lôi mang theo tên lửa hạt nhân nếu cả ba người có thẩm quyền trên tàu đều đồng ý.
Sau nhiều giờ bị tra tấn vì bom chìm và nguồn oxy dần cạn kiệt, chỉ huy tàu Savitsky “hoàn toàn kiệt sức” và “trở nên giận dữ” sau khi không liên lạc được với Moscow. Savitsky hét: “Có lẽ cuộc chiến đã bắt đầu ở trên đó, trong khi chúng ta đang nhào lộn ở đây! Chúng ta sẽ nổ chúng ngay bây giờ! Chúng ta sẽ chết, nhưng chúng ta sẽ đánh chìm tất cả – chúng ta sẽ không làm ô nhục Hải quân!”.
Và ông ra lệnh cho thứ “vũ khí đặc biệt” sẵn sàng vào bệ phóng hướng tới mục tiêu USS Randolph – tàu sân bay khổng lồ đang dẫn đầu lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ vây lùng B-59.
Với cái đầu nóng của mình, hẳn thứ vũ khí đặc biệt ấy theo lệnh của Savitsky sẽ dễ dàng làm bốc hơi tàu sân bay Mỹ cùng các tàu khu trục đang hộ tống nó, và Mỹ có thể phản ứng lại bằng bom hạt nhân phá tàu ngầm. Điều đó có thể, như nhà văn Nga nổi tiếng Svetlana Savranskaya viết, sẽ “khởi đầu một chuỗi những sự phát sinh vô ý, dẫn đến hậu quả thảm khốc cho loài người”.
Sĩ quan chính trị Ivan Semonovich Maslennikov trên chiếc B-59 cũng đồng tình với chỉ huy tàu Savitsky. 11 tàu khu trục của Mỹ đang lởn vởn gần đó không ngờ rằng suýt chút nữa, chúng trở thành mục tiêu của “thứ vũ khí hủy diệt” trên con tàu B-59 cùng quẫn ấy.
Người hùng xuất hiện
May mắn thay, một người thứ ba đã mạnh mẽ phủ quyết quyền khai hỏa của chỉ huy tàu Savitsky và sĩ quan chính trị Maslennikov. Đó chính là vị chỉ huy thứ hai trên chiếc B-59 – Vasili Arkhipov.
Vasili Arkhipov đã kịch liệt phản đối, lập luận rằng trong một thời gian dài, vì không có mệnh lệnh nào truyền từ Matxcova nên một hành động quyết liệt như vậy là không thích hợp.
34 tuổi, điềm tĩnh và khiêm nhường, người ta không biết làm thế nào mà Vasili Arkhipov có thể bình tĩnh thuyết phục người đồng nghiệp – chỉ huy tàu Savitsky đang điên cuồng và sở hữu một lá phiếu ủng hộ. Không ai biết chính xác, nhưng theo lời kể của các nhân chứng, đã có một cuộc đối đầu căng thẳng giữa 3 người cấp cao trên tàu B-59 khi ấy.
Cuộc tranh luận giữa chỉ huy tàu Savitsky và Vasili Arkhipov diễn ra khi nhiệt độ trong tàu ngày một tăng cao. Vasili Arkhipov vẫn giữ được vẻ lạnh lùng, bình tĩnh của mình để lập luận với viên chỉ huy rằng, B-59 không gặp nguy hiểm và đó không phải là một cuộc tấn công.
“Người Mỹ thả bom chìm bên trái, bên phải mạn tàu và luôn luôn tắt mục tiêu, đó là những tín hiệu mà người Mỹ muốn gửi tới tàu B-59 rằng, chúng tôi biết các vị đang ở đó. Hãy xác nhận và nổi lên mặt nước để nói chuyện. Chúng tôi không có ý định gây thiệt hại cho con tàu”, Arkhipov lập luận.
Ngày 27/10/1962, tên lửa không khai hỏa mà thay vào đó, B-59 từ từ nổi lên mặt nước trong tình trạng kiệt quệ mọi thứ. Nó từ chối sự trợ giúp của các tàu khu trục Mỹ, xoay lưng về phía Cuba và hướng về phía bắc trở về Liên Xô, nơi nó được chào đón một cách đáng quan ngại.
Khi B-59 trở về, thủy thủ đoàn đã gặp phải sự ghẻ lạnh thờ ơ. Dưới con mắt của những lãnh đạo cấp cao Xô Viết khi ấy, hành động quay đầu trở về của B-59 được cho là hành động đầu hàng người Mỹ và họ chẳng khác gì những kẻ tội đồ. Một đô đốc Liên Xô khi ấy từng nói: “Sẽ tốt hơn nếu các vị chìm cùng tàu của mình”.
Người Mỹ không lên tàu, không kiểm tra, vì vậy Hải quân Hoa Kỳ không thể ngờ rằng, B-59 sở hữu vũ khí hạt nhân cho tới khoảng nửa thế kỷ sau, khi các cựu chiến binh gặp nhau tại một cuộc hội ngộ kỷ niệm 50 năm sự kiện đó vào năm 2012.
Vai trò của Vasili Arkhipov trong việc cứu thế giới thoát khỏi một cuộc chiến tranh nguyên tử vẫn là một bí mật cho đến tận khi ông qua đời vào năm 1998. Và với thế giới, ông có lẽ là một trong những người anh hùng vô danh của thời đại.
Quyết định hủy bỏ ngòi nổ cận kề cuộc chiến tranh thế giới thứ ba đã không được thực hiện tại điện Kremlin hay Bạch Ốc  , mà trong phòng điều khiển của một chiếc tàu ngầm đang trong lằn răn của việc khai hỏa vũ khí hủy diệt.
Quyết định hủy bỏ ngòi nổ chiến tranh nguyên tử không phải ở Tổng thống Mỹ Kennedy hay Tổng bí thư Liên Xô Khrushchev. (Ảnh: AP)
Như Thomas Blanton,  Giám đốc Cục Lưu trữ An ninh Quốc gia Hoa Kỳ phát biểu vào năm 2002: “Vasili Arkhipov từ chối tuân lệnh chỉ huy tàu ngầm và dám đối mặt với những thách thức từ cuộc đối đầu của mình. Chúng ta nên cảm ơn vì sự bất tuân đó”.
Thế giới hỗn loạn vẫn còn tồn tại một số quốc gia vẫn đang tiếp tục coi việc phát triển vũ khí nguyên tử  như sự sống còn của thể chế mà Bắc Hàn là một ví dụ điển hình. "Xử lý" nguyên tử , sử dụng nguyên tử , hay không sử dụng chúng đòi hỏi sự thận trọng và bình tĩnh cao độ.
Xuân Trường

Tuesday, May 29, 2018

Tô hủ tiếu và ba tôi - Lâm Văn An

LGT: Tháng Năm Lễ Mẹ. Tháng Sáu Lễ Cha. Nhân dịp này, nhóm Kết Nối Việt trên Facebook – nơi quy tụ khá đông những thành viên là người gốc Việt sống khắp nơi trên thế giới – tổ chức một cuộc thi viết “bỏ túi” mang tên “Đấng Sinh Thành.” Với sự đồng ý của Ban Quản Trị Nhóm cũng như của các tác giả, Nhật Báo Người Việt sẽ lần lượt đăng tải một số bài viết là những câu chuyện, những tâm tình có thật liên quan đến tình mẫu tử, tình phụ tử trên nhật báo Người Việt, Người Việt Online và Facebook Người Việt. Kính mời quý độc giả đón xem.
Lâm Vân An
Với những người con xa xứ sống ở nước ngoài mà cha mẹ anh chị em còn hết ở Việt Nam như tôi, được đón ba mẹ qua thăm nhà là một niềm vui lớn. Tháng đầu tiên hai vợ chồng tôi mua được nhà riêng bằng tiền dành dụm sau hơn chục năm lang bạc, tôi hồ hởi mời ba tôi qua thăm (má tôi không đi được vì lúc đó còn trong năm học, bà phải dạy).
Vừa từ phi trường về đến nhà, mắt ba tôi sáng lên, lấp lánh niềm vui. Ba thích thú đi xem hết căn nhà mới tinh của con gái mình, căn nhà còn thơm mùi sơn mới, kiến trúc vuông vức, 100% làm bằng gỗ, nhỏ xíu so với tiêu chuẩn vĩ đại của Texas (‘Everything is big in Texas’) nhưng có sân vườn, có hai cây sồi non trước nhà, sân sau đủ rộng để trồng bông trồng kiểng.
Mấy ngày đầu tiên ba tôi như một em bé được lạc vô chỗ nào hào hứng lắm, ông cứ đi vòng vòng dòm căn nhà từ trong ra ngoài, từ ngoài vô trong, ngưỡng mộ cách người Mỹ xây nhà. Ông nhìn thiết kế rồi khen phòng ốc chỗ này, chỗ kia uốn lượn quá đẹp, có lúc ông ngồi thụp xuống đất coi cách họ đóng tủ, làm kệ, gõ cộp cộp vào sàn lót gỗ, rồi ông ra ngoài coi hệ thống điện nước ga, tưới tiêu bên ngoài, xong ông cứ luôn miệng “Đẹp quá, cực kỳ quá!” làm vợ chồng tôi vui sướng, cười toe toét.
Ba siêng lắm, ông làm líp, đánh luống đất bên hông nhà rồi trồng cho tôi đủ thứ rau thơm, húng lủi, dấp cá, tía tô, húng cây, rau răm, mà còn rào dậu cẩn thận để chúng không nhảy lan ra ngoài.
Đến Chủ Nhật của tuần cuối cùng trước khi ba về Việt Nam, sau bốn tuần sang Mỹ, đang trong bếp nấu ăn thì tôi nghe con gái nhỏ bốn tuổi của tôi hỏi “Ông ngoại ơi, ông ở đây có vui không? Món gì mẹ con nấu mà ông ngoại thích nhứt?” Phải nói thêm là trong thời gian ba tôi ở với chúng tôi, tôi tranh thủ “trình diễn” cho ba tất cả những tuyệt chiêu mà tôi học lóm được qua youtube, qua các cooking shows, mà toàn là đồ ăn… Châu Á, vì cũng như phần lớn những người già Việt Nam khác ba tôi không chịu được đồ ăn Mỹ. Đi ăn tiệm thì mỗi tuần ba tôi chỉ có thể kham một hai lần vì ông không thích ăn bên ngoài. Nói nhỏ, không phải tôi tốt đẹp, hiếu thảo gì nhưng nghĩ lại những năm còn con gái, tôi nấu nướng vụng về, ba má tôi phải cố gắng tột bực để… nuốt đồ ăn tôi làm mà không dám ca thán gì. Cho nên dịp này khi ba qua thăm và nội công tôi đã thâm hậu hơn hồi xưa một chút, tôi cố gắng nấu món này món kia để xóa hình ảnh xấu xí trong mắt ba. Bữa phở gà, bữa hủ tiếu Nam Vang, bữa bún mọc, bánh canh, bú́́n riêu, bún bò huế, bò xào, bò xáo, nem nướng cá nướng cuốn rau, bú́́n mắ́́́m, bánh xè̀̀o, đủ̉ thứ́ hế́́́́t.
Ba tôi chậm rãi trả lời cháu ngoại “Hủ tiếu Nam Vang, món đó ông ngoại thấy má con nấu ngon nhứt.”
Tôi im lặng, cười, giả bộ không nghe thấy. Món hủ tiếu đó tôi nấu đơn giản, chỉ là hầm nước lèo xương ống, không quên bỏ thêm một nắm tôm khô và vài con mực khô cho ra mùi nước lèo hủ tiếu. Ba tôi thích hủ tiếu dai, nên tôi mua hủ tiếu bột lọc, trụng bánh vừa tới. Tôm, mực, tim gan, thịt nạc tôi luộc nhanh cho khỏi dai, thịt bằm tôi cũng xào thiệt nhanh cho không bị xác. Tôi trộn hủ tiếu với dầu ăn và một thứ nước sauce bí mật. Vậy là tô hủ tiếu đã xong. Bên trên tô hủ tiếu là vài miếng tôm mực tim gan thịt băm, vài cọng hành ngọ, vài lát hành phi. Tôi múc cho ba tô nước lèo riêng, bên trong chén nước lèo có rau tần ô, vài cọng hẹ, miếng xương heo và cần tàu thơm nhẹ. Chỉ đơn giản vậy mà ba tôi xin thêm tô thứ hai, rồi thứ ba… “Cho ba chút xíu bánh thôi.” Đó cũng là món mà ba tôi ăn được tới ba tô mà không than ngán. Nấu được món ba thích, nhìn ba ăn món mình nấu ngon lành, theo tôi đó là thành công lớn nhất trong chuyến thăm nhà đầu tiên của ba với mình.
Lần đầu tiên ba ăn xong hủ tiếu tôi nấu, tôi hỏi ba “Ba có nhớ kỷ niệm tô hủ tiếu hồi lúc mình còn nghèo không ba?” Ba tôi nói “Ủa, con cũng nhớ hả?” Tôi gật đầu “Hồi đó khổ ha ba!” “Ừ.” Rồi ba và tôi cùng nhau nhớ lại. Đó cũng là kỷ niệm đặc biệt riêng của tôi với ba. Trong lòng tôi, nó là một trong những điều ngọt ngào nhứt về cha mình, hết sức thiêng liêng mà gần gũi.
Lúc đó tôi chừng 7-8 tuổi, thời gian đó má tôi bị hen suyễn phải vô bệnh viện nằm một thời gian dài, ngoại tôi phải chạy ra chạy vô bệnh viên với má và ngoại đưa thằng em ba tuổi của tôi về ngoại để tiện việc chăm sóc. Nhà còn lại tôi, ba và em gái. Em gái kế của tôi 5 tuổi không biết tại sao cũng bị viêm họng sốt li bì, tôi phải nghỉ học ở nhà chăm nó.
Tôi nhớ hôm đó là xế chiều, ba tôi đi làm về sớm, ông dạo qua một vòng nhà, thấy nhà cửa trống lỏng, cái chạn thức ăn (ba má tôi gọi là garde manger) cũng trống lỏng, không có món gì để bỏ bụng, em tôi nằm tòng teng trên võng hâm hấp sốt. Ba ngán ngẩm mở bóp, tôi dòm vô không có đồng nào ngoài tờ 2 đồng lớn hơn tay tôi một chút. Suy nghĩ một hồi, ba rút nó ra đưa tôi “Con đi mua tô hủ tiếu cho em đi.”
Trời, tôi còn nhớ lúc đó tôi nghĩ, sao em tôi sướng quá, bịnh được ăn hủ tiếu, hay giờ mình cũng than bịnh giống nó. Nhưng tôi không muốn làm ba tôi lo lắng vì tôi cũng đã thấy ba tôi đâu còn đồng nào để mua thêm một tô hủ tiếu nữa.
Thế là tôi xách tô sành chạy một mạch trên quãng đường đất dài gần cây số, nắng hầm hập. Nhà tôi lúc đó ở khu khỉ ho cò gáy, xa chợ, chợ lại họp buổi sáng, tôi chỉ có nước ra hợp tác xã. Trên đường đi tôi tính toán nếu mua tô hủ tiếu 2 đồng, em tôi ăn hết thì tôi và ba tôi sẽ không có gì để ăn. Tôi quá rành cái garde manger trống trơn ở nhà tôi… vì tôi mở nó ra ngày hơn chục lần. Có thể tôi sẽ bị ăn cơm với nước tương. Hay là mình mua tô 1.5 đồng vậy. Nhứt định vậy đi. Hai cô bán hàng hợp tác xã nghe tôi nói tô hủ tiếu 1.5 đồng thì nhăn mặt kêu không bán, “giá 2 đồng là thấp nhút rồi bé.”
“Thôi, cô bán cho con tô 2 đồng, và làm ơn cho con mua thiếu ổ bánh mì không được hông, em con đang bị sốt, nhà con không có gì ăn,” tôi nài nỉ.
Không biết ai nhập mà tôi nói ro ro hay y như trong kịch Kim Cương, tôi còn nhìn hai người lạ với cặp mắt con nít buồn bã nhứt. Chắc nhìn tôi thương quá, hai cô bán hàng dòm nhau rồi quyết định làm cho tôi tô hủ tiếu, tặng luôn cho tôi ổ bánh mì không. Tôi nhớ là tô hủ tiếu có nước, một ít bánh, đúng 4 lát thịt heo mỏng dính, một hai miếng tóp mỡ, giá hẹ có vài cọng bên trên vậy mà nhìn ngon quá đỗi. “Coi chừng đổ nha bé.” Tôi bưng tô hủ tiếu đi dưới trời nắng gắt, đất đỏ lục sục vào chân, hai tay tôi bưng chậm chậm, chốc chốc tôi phải dừng lại để tô hủ tiếu qua một tay cho tay kia đỡ mỏi. Ổ bánh mì hai cô bán hàng bọc trong giấy, tôi kẹp vô… nách. Tôi thèm hủ tiếu đến mức trên đoạn đường gần cây số về nhà, cả trăm lần tôi nâng cả tô lên mặt, hít hít. Lâu lâu không ngăn được cám dỗ tôi lè lưỡi liếm miếng nước lèo sóng sánh mép tô… nhưng tuyệt đối cả quãng đường dài tôi không ăn miếng thịt nào và tôi hết sức tự hào vì điều đó.
Cuối cùng cực hình tra tấn cũng kết thúc. Về đến nhà, tôi tự hào đưa ba tôi tô hủ tiếu. Ba tôi đang đắp khăn cho em bớt sốt, ông xoa đầu tôi “Con giỏi lắm!” rồi ông dòm ổ bánh mì không xẹp lép đầy mồ hôi của tôi, ánh mắt ngạc nhiên. Tôi nói “Còn ổ cuối, mấy cô đó cho con, ba chiên trứng gà cho con ăn đi. Con biết 3-4 cái trứng là để mai ngoại đem vô bệnh viện cho mẹ mà con thèm quá ba ơi.”
Ba tôi không nói gì, ông dòm tôi, ánh mắt ông dâng lên tia nhìn đầy tội nghiệp. Sau đó ông dựng em tôi dậy cho nó uống thuốc rồi đút nó ăn. Rồi ba đi mở garde manger làm món trứng ốp la cho tôi với mấy cái trứng gà nhà đẻ. Tôi sung sướng giơ tay, đón lấy cái chảo con, bên trong có 2 cái trứng gà tròng đỏ nhiều ơi là nhiều. Tôi xịt nước tương vô chảo xong bưng cái chảo ra hàng hiên ăn ngon lành, vừa ăn vừa dòm cây xoài lúc lỉu trái non, thấy cuộc đời không đến nỗi đau khổ lắm. Lúc ăn xong tôi đã hả hê, định vô nhà coi tình hình thì ngay bậu cửa, tôi thấy ba tôi vừa bưng mâm khỏi chỗ em nằm, dọn qua bàn ăn. Cái mâm trống trơn, chỉ có tô hủ tiếu tôi mới mua hồi nãy đã hết sạch cái, còn chút nước lèo lỏng bỏng. Ba không trông thấy tôi, ông đang mở nồi cơm nguội. Ông xúc một vá đầy cơm, bỏ cơm vô phần nước lèo còn sót lại của tô hủ tiếu.
Và ba tôi ngồi xuống, bắt đầu bữa tối của mình.
Tôi vội vàng lùi lại, quay ra hàng hiên. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi biết khóc khi cảm nhận tình phụ tử. (Lâm Vân An)

Hồi Ký của Ấu Oanh - KHÓC BẠN - Ấu Oanh

Tác giả Ấu Oanh là Phu nhân của Ca nhạc sĩ Duy Trác. Hồi ký này bà viết để khóc một người Bạn - Phu nhân của nhà văn Dương Hùng Cường, cũng như để thuật lại những gì đã xảy đến cho gia đình tác giả và gia đình nhà văn Dương Hùng Cường sau cuộc "đổi đời" gây ra bởi Ngày Quốc Hận 30-4-1975.
(Lê Thy giới thiệu)

 
KHÓC BẠN                 
Bác Dương thôi đã thôi rồi.
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.

Từ thuở ấu thơ, anh em chúng tôi đều được mẹ ru bằng bài thơ Khóc Bạn của cụ Tam nguyên Yên Đổ khóc ông cố nội chúng tôi là cụ Nghè Dương Khuê. Bài thơ trở thành bài ca dao nằm trong ký ức tôi từ ngày đó, hơn 40 năm sau lại bật ra như những lời nhớ thương tha thiết của tôi với người bạn thân : Vũ Hoàng Oanh. Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê lúc tuổi đời đã xế chiều nên nỗi nhớ chỉ là ngậm ngùi, còn tôi khóc bạn khi tuổi đời chưa tới 50 là cái khóc xót thương vô hạn.
Ngày còn học Trưng Vương thì Oanh học trên tôi một lớp. Chúng tôi chỉ biết nhau nhưng chưa phải là bạn. Mãi đến khi thi vào trường Sư Phạm, vô tình làm sao, hai đứa trùng tên nên có số báo danh kế nhau. Gặp nhau ở trường thi, lại ngồi cạnh nhau thì không quen cũng thành quen huống chi chúng tôi cùng là dân TV lại biết nhau từ trước. Dĩ nhiên hai đứa tôi mau chóng kết hợp với nhau, cóp qua cóp lại bài nhau nên kết quả là hai đứa cùng đậu và còn được xếp chung vào một lớp. Tôi và Oanh trở thành bạn thân từ đấy.
Oanh không đẹp nhưng dễ thương với đôi má bầu bĩnh, đôi mắt hơi đượm buồn, lúc nào cũng như vướng vất một câu hỏi gì chưa được giải đáp.Nhưng điều mà bạn bè nhớ nhất ở Oanh là tính tình đôn hậu, chiều bạn và tử tế với mọi người.
Đời học trò, dẫu rằng lớp học trò này đang chuẩn bị làm người lớn, vẫn có biết bao niềm vui nỗi buồn non trẻ để chia sẻ cùng nhau. Đôi khi thấy bạn bè có người yêu đến đón hoặc ghé thăm, đôi mắt hỏi han cuả Oanh chợt tối lại, vương một chút buồn bã. Tôi gạn hỏi, Oanh chỉ lắc đầu, nhiều lần sau nữa, chẳng đặng đừng, Oanh cười mỉm chi đáp "Nhớ bồ" "Thế bồ đâu rồi " "Bồ thuộc người khác rồi", rồi nhanh chóng Oanh lảng ngay "Thôi khỉ ạ, đừng hỏi nữa, chuyện xưa rồi".
Thời gian trôi thật nhanh. Gần đến ngày ra trường, chúng tôi gấp rút học thi và ráo riết chuẩn bị các bài thi thực tập. Một hôm, gặp phải bài thi hóc búa, tôi hỏi mượn Oanh một bài mẫu vì Oanh rất chăm chỉ trong việc sưu tầm các bài dạy mẫu, còn tôi là con cháu họ lười nên rất chểnh mảng. Oanh đang hí hoáy viết nên bảo "Mở cặp ra, ngăn bên trái đó". Tôi mở cặp lục lọi. Bài mẫu chẳng thấy đâu, tôi vớ ngay được một lá thư. Quên béng ngay bài dạy, tôi len lén kéo nhẹ tờ thư ra khỏi bao và liếc thật nhanh vài giòng. "Ồ, thư tình", tôi thầm kêu trong đầu. Vừa lúc đó Oanh quay sang, thấy vậy, Oanh vội vã quăng ngay cây bút, soài người giựt lại lá thư, miệng la bài hải ‘Ố́í, ối, trả đây, trả đây". Lá thư không dài và cũng không có những lời lẽ yêu đương hoa mỹ nhưng đọc thì biết ngay đó là thư tình, thư tình cuả một nhà văn. Ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ cuả một người viết văn thì có muôn ngàn cách để bày tỏ tình yêu. Tôi mừng thấy bạn bẽn lẽn cất lá thư. Một chút ửng hồng trên đôi má bầu bĩnh… Từ đó tôi thấy Oanh hay cười hơn.
Trong khi chờ đợi kết quả sắp hạng ra trường, chúng tôi phải đi khám sức khoẻ tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Hôm đó Oanh chở tôi bằng chiếc Vélo Solex mượn được. Chỉ còn cách bệnh viện khoảng 100m thì bất ngờ xe đang chạy ngon trớn bỗng đâm xầm vào một đống đá xanh đổ ngay giữa lòng đường. Xe mất thăng bằng đổ ập xuống, quăng hai đứa chúng tôi ra hai nơi. Lúc đó tôi đang có thai cháu đầu lòng khoảng 4 tháng. Hốt hoảng, Oanh bật dậy lao ngay về phía tôi mà không thấy rằng 1 đầu gối quần bị rách để lộ vết thương rướm máu và 1 bàn tay bị đá xanh đâm nát máu thấm đỏ cả. Oanh lính quýnh ôm nâng tôi dậy, mặt tái mét, miệng líu lại "Oanh, Oanh có sao không ? Có đau bụng không ?" Tôi tuy cũng rất lo sợ cho cái thai nhưng thấy Oanh quá lo lắng cho tôi, tôi thấy lòng cồn cào thương bạn nên vội trấn an "Mình không sao, đừng lo. Thôi mau nhấc xe dậy, vào ngay bệnh viện nhờ họ băng bó cho Oanh".
Ra trường, tôi về dạy ở Gia Định, còn Oanh xuống Biên Hoà. Như một xui khiến của số mệnh, người yêu của Oanh, Nhà văn Dương Hùng Cường, còn có bút hiệu là Dê Húc Càn đồng thời là một Quân nhân cũng đang làm việc tại phi trường Biên Hoà. Họ đã được gần nhau, cuộc tình dẫn đến kết cuộc tốt đẹp là cái đám cưới vào năm 1964. Năm sau, 1965, Oanh sinh cháu đầu lòng Dương Mạc Thi rồi tiếp theo Oanh sinh liền 7 cô Công chúa trong vòng 10 năm. Khi anh Cường đổi về làm việc tại Sài gòn thì Oanh cũng được thuyên chuyển về dạy học taị trường Hồng Bàng (Sau năm 1975 thì dạy tại trường Hùng Vương, cùng thuộc quận 5). Chúng tôi lại có dịp gần gũi nhau.
Vào khoảng năm 74 tôi thấy Oanh ngoài giờ dạy ở trường công còn dạy thêm ở 2 trung tâm tư nữa. Thấy tôi thắc mắc sao Oanh dạy quá nhiều, không còn thời giờ dành cho các con nữa thì Oanh tâm sự : "Ông Cường giành phần chăm mấy đứa nhỏ. Ông ấy bảo, ổng ru con hay hơn mình", rồi Oanh xuống giọng "Mình phải dạy thêm lấy tiền cho ông Cường in truyện". Nói là chăm sóc con chứ thật ra thì lúc đó gia đình nào cũng có người giúp việc, lo cơm nước, giặt giũ, bế bồng trẻ nhỏ rồi. Tôi thông cảm với Oanh vì thời gian đó, lương hai vợ chồng gom lại, dẫu rằng anh Cường còn viết báo thêm cũng chỉ đủ chi tiêu cho một gia đình mười mấy miệng ăn mà thôi. Muốn in sách truyện, Oanh phải cật lực giúp chồng. Thế là bao nhiêu tiền bạc dành dụm được đều đổ dồn vào việc cho ra đời đứa con tinh thần "Vĩnh biệt Phượng". Thương thay, sách vừa xuất xưởng, chưa kịp phân phối ra ngoài thì ngày 30 tháng 4 như một cơn cuồng phong ập đến, xoá tan hết bao ước mơ, bao xây đắp cuả cả một miền Nam thân yêu trong đó có 2 gia đình chúng tôi. Ông xã tôi cũng như anh Dương Hùng Cường đều trở thành tù nhân của chế độ mới và 2 gia đình chúng tôi trở thành những nạn nhân như trăm ngàn gia đình Quân nhân công chức chế độ cũ, luôn luôn bị soi mói, rình rập, theo dõi, lúc nào cũng sống trong phập phồng, lo lắng, sợ sệt… Với đồng lương chết đói, chúng tôi vẫn phải cố bám vào trường lớp để khỏi phải bị đuổi đi vùng Kinh tế mới. Hai đứa tôi cùng chia nhau cái ngậm ngùi của số phận. Oanh 7 con và tôi 6, gia tài chỉ là hai bàn tay trắng với cõi lòng đầy ắp âu lo. Chúng tôi càng gắn bó với nhau hơn. Hai đứa lăn lưng ra làm đủ mọi việc
Thoạt đầu là bán sách. Lúc bấy giờ chủ trương của chế độ mới là thiêu hủy hết số sách báo của miền Nam được gọi là văn hoá đồi truỵ, tàn dư Mỹ ngụy. Chúng tôi lại thuộc các gia đình văn nghệ sĩ, càng bị để ý, bị lục xoát thường xuyên hơn. Nếu trái lệnh sẽ bị ghép vào đủ thứ tội tình. Để được yên thân nuôi con và cũng là để che mắt thế gian, chúng tôi gom góp hết số "tàn dư Mỹ ngụy" trong nhà, nhờ người quen dẫn giắt lên chợ sách Nguyễn Huy Thiệp bày bán. Nhìn những cuốn sách mình từng nâng niu yêu quý từ từ đội nón ra đi, lòng tôi bùi ngùi khôn tả. Cầm cuốn "Chạy trốn Tự do" mà ông xã tôi mới dịch trước đó không lâu, tôi thầm tự hỏi :" Tại sao laị dịch cuốn sách mang cái tên oan nghiệt này ?" Cuốn Vĩnh Biệt Phượng cuả anh Dương Hùng Cường cũng cùng chung số phận, phơi mặt trên 1 tấm ni lông trải dưới mặt đường con phố NHT. Tôi và Oanh thủ 2 cái nón rộng vành, hễ liếc xa xa thấy người quen kẻ thuộc hay bạn bè gần xa của chồng thì lập tức cái nón được kéo sụp xuống. Ôi thời thế có ai học đến chữ ngờ !
Một hôm vào khoảng xế trưa, hai đứa đang ngồi vêu ra thì một cháu gái cuả Oanh đạp xe lên tìm mẹ, báo tin em bé út vừa phải vào nhà thương. Khi đó cháu Dao Tiên mới non 1 tuổi. Oanh hốt hoảng ra về. Hôm sau, rồi hôm sau nữa cũng không thấy Oanh lên tôi đoán chắc Oanh phải ở trong Bệnh viện với con. Ba, bốn hôm sau Oanh trở lại, cặp mắt còn sưng, oà khóc, nói "Oanh ơi, cháu Dao Tiên mất rồi. Cháu mất vì thiếu dinh dưỡng , vì đói ăn đó Oanh ạ ! "
" Nghề " bán sách cuả chúng tôi do thời cuộc mà tự sinh thì cũng do thời cuộc mà tự diệt. Ch́úng tôi học quấn thuốc lá, vào bao rồi đem vô Chợ Lớn bán nhưng cũng chẳng được bao lâu thì chợ thuốc lá cũng bị càn quét. Tôi nhờ biết may vá từ nhỏ nên quay ra may quần áo con nít đem giao các chợ, còn Oanh thì đi bỏ mối bánh kẹo cho các Căn tin trường học. Cứ thế, chúng tôi lần hồi sống qua ngày.
Ngoài lúc đi kiếm cơm, chúng tôi còn rủ nhau đi kiếm chồng tù. Hai năm trời biền biệt không chút tin tức, chúng tôi lo sợ cho số phận các ông chồng. Dò la, thăm hỏi chẳng có kết quả, chúng tôi đánh bạo rủ nhau lên tận ban Quân quản Thành phố để hỏi han. Câu trả lời cũng chỉ như bao nơi khác :" Cứ yên tâm chờ đợi ". Cuối cùng thì cuối năm 1977 cũng có tin về sau hơn 2 năm kể từ ngày các Sĩ quan cuả chế độ cũ nghe lời đường mật "Chuẩn bị đồ ăn uống và vật dụng cá nhân trong vòng 10 ngày để đi trình diện". Ông xã tôi bị nhốt ở trại Hàm Tân, còn anh Cường thì ở Long Khánh. Cứ 3 tháng chúng tôi được phép thăm nuôi tiếp tế thức ăn và thuốc men 1 lần. Hai đứa lại có dịp chỉ bảo nhau làm món gì để được lâu, thuốc nào cần nhất v.v... để mang lên trại.
Tôi còn nhớ thời gian đó, mỗi chiều tối, sau giờ tan trường, Oanh thường ghé tôi, có khi ở đến tận khuya. Các con Oanh ở nhà đã có cô cháu gái mà Oanh cưu mang từ sau năm 75 chăm nom cơm nước. Chúng tôi ngồi bên nhau chia sẻ mọi điều. Tôi hiểu Oanh nhiều nỗi lo lắng vì nợ nần thúc giục mà không có phương cách giải quyết. Tôi đỡ hơn Oanh một chút là tôi còn có mẹ. Đôi khi hai đứa ngồi bên nhau hàng giờ mà chẳng nói với nhau một tiếng nhưng chúng tôi đều hiểu rằng chúng tôi đang chia nhau nỗi sầu khổ âm thầm.
Một hôm, khoảng sau Tết năm 1978 Oanh ghé tôi theo lệ thường, nhưng hôm đó vẻ mặt Oanh rất bần thần, ngồi hoài không nói. Tôi hỏi :
- Hôm nay Oanh có chuyện gì không mà như mất hồn vậy ?
Oanh vẫn ngồi yên không nói. Tôi đứng dậy rót cho bạn 1 ly nước, đến ngồi gần bên ân cần :
- Có việc gì hả Oanh ?
Sau một phút ngập ngừng, Oanh nói khẽ thật khẽ như sợ có ai nghe thấy :
- Ta nói cái này, đừng giật mình nhé…Mình có bầu.
Tôi giật thót mình, hai lỗ tai lùng bùng.
- Oanh nói gì ? Ai có bầu ?
- Mình.
- Hả ?
- Mình có bầu thật đấy, vừa đi khám Bác sĩ về xong.
Tôi trân trối nhìn Oanh, vẫn không tin ở hai tai mình. Biết vậy, Oanh mới tỉ tê khai :
- Hôm Tết rồi đi thăm ông Cường, trại cho ở lại một đêm…
Tôi thở phào như trút được cho chính mình gánh nặng nghìn cân. Oanh nói tiếp :
- Oanh ơi, dẫn mình đi phá đi, mới được khoảng hai tháng thôi, phá chắc dễ.
Tôi ngỡ ngàng hỏi lại :
- Phá ? Sao lại phá ?
- Chứ để thì làm sao coi được. Ai đời cô giáo có chồng đi tù mà lại mang bầu. Đâu có ai hiểu…
- Thì nói ra cho mọi người biết.
- Ai tin ? Bạn bè, rồi còn học trò nữa chứ. Eo ôi, nghĩ đến là ta rùng mình rồi.
Tôi chợt thấy Oanh có lý. Ừ, ai mà tin nổi, nhất là thời buổi này. Toàn ban Giám hiệu đều là người Cách mạng, họ sẽ có cớ để bêu riếu, để bôi tro trát trấu lên đầu lên cổ vợ con " thằng ngụy". Tôi thở dài :
- Ừ, để mình tính xem.
Nói vậy cho Oanh yên lòng chứ thật ra tôi cũng chẳng biết tính làm sao. Tối đến, trong bữa cơm gia đình, tôi nói chuyện với mẹ tôi về việc Oanh muốn tôi chia sẻ. Mẹ tôi bảo :
- Ngày mai Oanh có ghé, con gọi mẹ, mẹ hỏi cô ấy một tí.
- Mẹ hỏi gì hả mẹ ?
- Có phải Oanh toàn con gái không ?
- Vâng, 7 đứa, bỏ 1 còn 6, toàn là gái cả.
- Mẹ muốn tính xem lần này có bầu, Oanh sẽ sinh trai hay gái.
- Trai hay gái thì thay đổi được gì hả mẹ. Cũng bia miệng mà thôi.
- Mình sẽ nghĩ cách giùm cô ấy. Vả lại, vì sợ bia miệng mà phá bỏ đi một đứa con của mình thì sẽ mang tội con ạ.
Mẹ tôi đặc biệt có một cách tính rất tài tình để biết người mẹ sẽ sinh trai hay gái. Cụ có dạy cho tôi một bài toàn chữ Hán, tôi học mãi không thuộc (Vì mình có biết tí teo chữ Hán nào đâu). Tôi đã chép vào 1 cuốn sổ để dành nhưng qua hết đợt bố ráp này đến đợt bố ráp khác nó đã không cánh mà bay.
Dẫu rằng cả Oanh và anh Cường đều không mang tư tưởng "Nhất nam viết hữu thập nữ viết vô" nhưng cha mẹ nào mà chả mong ước mình có đủ cả trai lẫn gái.
Sau khi gặp mẹ tôi, Oanh mừng lắm, không còn nghĩ đến việc phá thai nữa vì tin tưởng rằng lần này sẽ sinh được một quý tử.
Thông thường, cứ mỗi đầu tháng, các Giáo viên chúng tôi đều phải họp toàn trường để kiểm điểm công việc dạy và thực hiện các chỉ thị của Phòng hoặc Sở giáo dục. Tôi xúi Oanh trong phiên họp kỳ này lấy cớ báo cáo 1 công việc gì đó rồi bôi mặt cám ơn nhà nước đã cho chúng tôi được gặp mặt, tiếp tế cho chồng ở trại giam lại còn gia ân cho ở lại trại 1 ngày 1 đêm nhân dịp Tết vừa qua nữa. Việc đó quả nhiên hiệu nghiệm. Oanh tuy bị trêu chọc song đã thoát được cơn hiểm nguy. Cũng may mắn cho Oanh, chỉ vài tháng sau khi cái bụng bầu của Oanh lộ rõ thì anh Cường được về.
Một hôm tôi vừa từ chợ về nhà thì đã thấy anh Cường ngồi đợi. Không kịp để tôi hỏi han câu nào, anh đã vào đề liền :
- Oanh sinh rồi chị, ở Bệnh viện Hùng Vương, con trai.
- Ồ, chúc mừng anh. Chắc là Oanh vui lắm. Kỳ này hai ông bà có quý tử, phải ăn mừng thôi
Không trả lời câu nói đùa của tôi, anh chìa ra mảnh giấy cỏn con nói:
- Oanh gửi chị cái này.
Tôi vội vàng mở mảnh giấy đọc "Oanh ơi, cứu bồ, cho mình mượn 50 đồng để đóng tiền Bệnh viện nhé".
Tôi vừa đi giao hàng về nhưng cũng chỉ có trong tay 30 đồng. Tôi vội vã đạp xe lại ngay nhà chị bạn cùng trường. Tuy chẳng giầu có gì nhưng chị tương đối khá giả hơn chúng tôi vì những tháng ngày xa xưa trước 75, chị là con kiến biết lo xa, ki cóp mua vàng để dành,( trong khi tôi lại là con ve, kêu ra rả hết muà Hè, chỉ biết rong chơi ca hát , cho nên khi Đông về thì đói rã răng). Chị lại có lòng tốt nên bạn bè khi cơ nhỡ chị đều sẵn sàng san sẻ.
Trao cho anh Cường năm chục bạc xong, tôi biết ngày mai không có tiền chợ cho con song trong lòng vẫn vui vì mừng cho bạn, càng mừng hơn vì thấy cách tính của mẹ tôi thật chính xác, không làm cho Oanh mừng hụt. Nhưng người mừng nhất ắt hẳn là anh Dương Hùng Cường. Anh đặt tên cho cháu là Phụng Hoàng, Dương Phụng Hoàng, con chim quí.
Khoảng 3,4 năm sau khi ra tù, anh Cường liên lạc được với nhà văn Trần Tam Tiệp đang cư ngụ tại Pháp xin lên tiếng kêu gọi Văn Bút Quốc Tế can thiệp và giúp đỡ cho một số các gia đình Văn nghệ sĩ Miền Nam còn kẹt lại quê nhà, đang gặp rất nhiều khó khăn cả về 2 mặt vật chất lẫn tinh thần. Ít lâu sau đó, mỗi năm gia đình chúng tôi nhận được từ 1 đến 3 thùng thuốc tây gửi từ Pháp về (Nhưng có lẽ đó là do chính tiền cuả anh TTTiệp, chứ không phải của VBQT). Song song với thùng quà đôi khi còn có cả 1,2 tờ báo Kháng Chiến nữa. Rồi anh bảo anh em bên nhà viết bài gửi sang. Những thùng quà tuy ít ỏi này cũng đã giúp được gia đình chúng tôi qua những cơn vô cùng bĩ cực. Nhưng oan nghiệt thay, cũng chính những thùng quà này lại đưa chồng tôi, Khuất Duy Trác, anh Dương Hùng Cường và một số các Văn nghệ sĩ khác như các nhà văn Dzoãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thuỷ, Hiếu Chân, các nhà thơ Lý Thụy Ý, Trần Ngọc Tự… vào tù lần thứ hai. Bọn Công an Thành phố còn viết nguyên một cuốn truyện đầy tính bịa đặt và vu cáo có tên Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, hòng bôi bẩn và hạ giá nhóm Văn nghệ sĩ trên, sửa soạn dư luận cho một bản án thật nặng nề. Chúng đem giam một số tại nhà giam Chí Hoà, số còn lại tại trại giam Phan Đăng Lưu, có ông xã tôi và anh Cường. Oanh và tôi lại có cùng một địa chỉ để tới lui. Số phận chúng tôi cứ gắn chặt với nhau trong những hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy.
Do từ việc bỏ bánh kẹo cho các Căn-tin trường học, Oanh lần hồi biết được cách thức để đấu thầu toàn bộ cả căn-tin của mỗi trường. Oanh rủ tôi làm công việc này. Thế là hai chúng tôi cùng khởi sự tại một ngôi trường Tàu trong Chợ Lớn. Sau này rành rẽ rồi thì mỗi đứa làm ở mỗi trường khác nhau.
Cứ vào cuối mỗi năm học, Giáo viên các trường đều phải điều chỉnh lại tờ lý lịch đã khai từ những ngày đổi đời 30/4/75. Năm 1980, con gái thứ hai của tôi đi vượt biên, tôi không khai. Đến khi ông xã tôi bị bắt lại lần 2 tôi cũng không khai. Ban giám hiệu nhà trường chắc hẳn không biết nên tôi vẫn được yên thân. Bất ngờ, vào đầu năm 87, Hiệu trưởng mời tôi lên nói chuyện. Bà hỏi han tôi về tình hình gia đình, chồng con, công việc v.v... và cuối cùng bà hỏi tôi có up to date lý lịch đầy đủ cho mỗi năm không. Tôi manh nha thấy điều gì đó không ổn. Tuần lễ sau tôi xin nghỉ bệnh và tuần kế tiếp tôi tống tiếp lá đơn xin thôi việc. Ở thời điểm này, chiến dịch tống khứ gia đình vợ con tù cải tạo đi kinh tế mới đã chấm dứt vì hoàn toàn thất bại. Từ các vùng kinh tế mới, biết bao gia đình đói rách tả tơi, bệnh hoạn, người sống kẻ chết, lũ lượt kéo về thành phố, nằm la liệt tại các công viên, chợ, nhà thờ, chùa…chính quyền không thể xua đuổi vì họ không còn nơi chốn để dung thân nữa. Do đó tôi không còn lo sợ vì phải lên rừng lập nghiệp. Lại nữa tống khứ đi được một con vợ "ngụy", cũng nhẹ gánh lo cho Ban giám hiệu nên họ nhận đơn mà không hỏi han gì cả.
Thời gian này rộ lên rất nhiều tin tức về việc Mỹ sẽ đón các Sĩ quan QLVNCH bị tù cải tạo. Tuy rằng chỉ là tin đồn miệng, chẳng có một nguồn xác thực nào nhưng chúng tôi vẫn cứ nuôi hy vọng trong lòng để tiếp tục sống và tiếp tục chịu đựng.
Một ngày đầu tháng 12 năm 1987, lúc đó khoảng 2-3 giờ trưa tôi đang ở nhà thì cô cháu gái cuả Oanh đến, mặt mũi phờ phạc, nói như đứt hơi : "Cô ơi, chú Cường mất rồi, cô con đang xỉu ở nhà, cô xuống mau đi cô"
Khi tôi bước chân vào đến nhà thì thấy Oanh đang vật vã vừa khóc vừa gào : "Tôi không sống một mình đâu, Trời ơi là trời". "Anh Cường ơi, em không sống một mình đâu" !! Tôi ôm lấy tấm thân gầy guộc của bạn, lòng đau xót từng cơn và nước mắt cứ mặc tình tuôn chảy… Không biết bao lâu sau, khi kêu gào đã quá mệt, tôi đỡ Oanh nằm xuống giường rồi bảo với các con Oanh : " Để yên cho mẹ nghỉ một chút "
Hàng xóm xung quanh nghe tiếng khóc, vài ba người lấp ló ngoài cửa.
Bình tâm trở lại, tôi hỏi thăm cháu Linh, cháu tỉ tê kể : " Sáng nay cháu ở nhà, Công an khu vực tới đòi gặp mẹ. Cháu bảo mẹ đang dạy ở trường, anh ấy nhắn bảo mẹ ra Phường gấp có giấy báo của bố". Khi cháu ra trường bảo cho mẹ biết thì mẹ vẫn nghĩ là tin mừng. Mẹ bảo " chắc bố được thả…ồ, hay là…Mỹ đón". Mẹ bảo cháu về trước, chuẩn bị đồ Vest cho Bố. Đến khi hai mẹ con ra đến Phường nhận giấy mới vỡ lẽ…Họ bảo sáng ra đến giờ tập họp, không thấy bố ra, đến đập cửa phòng cũng không thấy bố cháu trả lời, họ mở khoá ra thì thấy bố cháu đã mất rồi.
Oanh được phép đến trại giam Phan Đăng Lưu để nhận diện xác chồng trước khi được phép chôn cất. Đám tang phải làm gấp ngày hôm sau và chỉ cho 2 người mang áo quan vào lấy xác tại khám Chí Hoà mà thôi. Hôm sau tôi đi cùng với Oanh nhưng phải ngồi chờ ngoài gốc cây trước cổng trại cùng với các con nhỏ cuả Oanh. Số bạn bè và họ hàng thân thuộc đến đưa tiễn đều không được tập trung một nơi mà phải phân tán rải rác dọc theo con đường Hoà Hưng, chờ đợi khi xe tang ra đến đầu đường rồi mới được tháp tùng theo. Ôi, quân Cộng sản sao mà độc ác. Người sống chúng không tha đã đành, người chết chúng cũng không cho chôn cất tử tế…Huyệt mộ đã lấp lại rồi nhưng Oanh vẫn đứng trơ trơ như một bức tượng. Nước mắt đâu ? Có lẽ nó đã chảy ngược vào lòng. Tôi chợt nhớ đến bài thơ "Đi nhận xác chồng" của Lê Thị Ý :

Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu

Thật tội nghiệp cho bạn tôi. Cũng thật tội nghiệp cho những người phụ nữ trót sinh ra trong thời đại chúng tôi.
Vết thương tang chồng chưa ngưng chảy máu thì 3 tháng sau Oanh lại phải rứt ruột đẩy đứa con gái đầu lòng thân yêu, Dương Mạc Thi, ra đi trong một chuyến vượt biển với bao bất trắc chờ đợi. Than ôi, đó cũng là lần cuối cùng Oanh nắm đ̣ược bàn tay nhỏ bé của con : chuyến tàu chở cháu Thi đã không bao giờ tới bến. Chỉ trong vòng 4 tháng Oanh đưa hình hai người thương yêu nhất đời mình lên Chùa…
Rồi giòng đời lại tất bật trôi đi. Oanh vội vã bịt kín những vết thương, dấu chặt nó vào tận cùng trái tim để ngày ngày phải đối mặt với những cam go của cuộc sống, với tương lai cuả bầy con còn lại. Thời gian sau này chúng tôi ít gặp nhau hơn vì mỗi đứa thầu riêng mỗi trường mà công việc thì quá đa đoan, tất bật, cần đến rất nhiều thời gian, Oanh lại vẫn theo đuổi công việc dạy học.
Mùa Hè năm 1989, giữa chúng tôi có vài chuyện không vui, tôi giận Oanh. Biết mình không đúng, xin lỗi tôi không xong, Oanh nhờ một cô bạn khác đến năn nỉ, tôi vẫn gan cùng mình không chịu làm hoà. Gần 2 tháng trời chúng tôi không gặp nhau. Một buổi trời đã chạng vạng tối, một anh bạn tù của ông xã tôi, hốt hoảng đến báo tin Oanh bị đụng xe, đã đưa vào Bệnh viện Trưng Vương, nhưng tình trạng hình như không được ổn. Tôi tức tốc vào thẳng nhà thương trong tâm trạng rối bời và thật hồi hộp.
Oanh nằm đó, bất động, đôi mắt đã khép lại vĩnh viễn…Tôi bật lên khóc nức nở, nắm lấy tay bạn, sờ lên mặt bạn, vuốt trên người bạn, tôi muốn gào lên " Oanh ơi. Oanh ơi, mình đây, mình đang ở bên Oanh đây, mình không còn giận Oanh nữa đâu, tỉnh dậy đi Oanh ơi "!!! Tôi đưa tay bứt mớ tóc trên đầu xem mình có thật sự tỉnh không, có phải đây là sự thật không…Nỗi hối hận trong tôi trào lên, tôi giận tôi, tôi ghét tôi, tôi là con bạn tồi, sao tôi cố chấp thế…Tuy đã cố dằn vì chỗ đông người, cổ họng tôi vẫn bật lên tiếng gọi " Oanh ơi. Oanh ơi. Dậy đi, mình thương Oanh lắm, có nghe mình nói không ?"
Tôi ngồi bên Oanh như thế, nước mắt tiếp tục chảy không thôi, biết bao điều muốn vuột ra khỏi trái tim nên lồng ngực đau thắt…..Lâu lắm, chợt nghe tiếng bà dì Oanh nói : "Cô phụ tôi thay quần áo cho Oanh nhé. Người bây giờ còn mềm, thay dễ ".
Tôi nâng đầu Oanh dậy tay chạm ngay vết thương sau ót, máu còn dính bết vào tóc. Đến lúc thay áo lại phát hiện ra phần dưới cũng bị thương, hình như vỡ xương hông thì phải. Ôi, đau đớn biết bao !
Mãi sau này các cháu con Oanh mới kể rằng, sáng hôm đó, một cậu nhỏ mới quen đến chở Oanh về Thủ Đức để đi hỏi vợ giùm cho cậu ta. Buổi chiều, trên đường về, đã gần đến nhà, đang băng qua con lộ Lý Thường Kiệt để vào ngõ thì bị một xe hơi do người tài xế say rượu đâm phải.
Oanh là thế đấy, hay làm chuyện bao đồng để giúp người.
Oanh mất đi bỏ lại bầy con 5 đứa. Con chim quý, Phụng Hoàng, của vợ chồng Oanh sinh bất phùng thời, mới 10 tuổi đầu đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhưng như một định luật bù trừ, hai con lớn cuả Oanh tiếp tục công việc của mẹ, không những đã duy trì được mức sống đầy đủ cho gia đình mà các cháu còn dìu giắt nhau học hành tới nơi tới chốn nữa. Nếu người ta tin có linh hồn thì chính linh hồn người Mẹ, day dứt lúc ra đi đã quay trở lại thế gian này để phù trợ cho các con vươn lên trong cuộc sống.
Hôm nay ngồi viết những giòng hồi tưởng này về một phần đời không nhỏ của bạn tôi, Vũ Hoàng Oanh, người phụ nữ tâm tính hiền lành, hay giúp đỡ người khác nhưng số phận cay nghiệt đã dành cho cuộc đời bao tang thương, oan trái. Khi sống, tâm tư luôn mòn mỏi vì lo toan cơm áo, còn mang nặng những vết thương không cơ hàn gắn. Đến lúc lià đời, lại ra đi trong một cơn mê khốc liệt với thân thể đớn đau, với cõi lòng đứt đoạn vì bầy con thơ dại.
Oanh ơi, những giòng hồi ức hôm nay cũng còn là những nén hương muộn màng mình thắp lên để nhớ đến Oanh, nhớ đến một quãng đời hai chúng ta cùng chung bước trải dài từ tuổi học trò cho đến khi vĩnh biệt.

Ngủ đi Oanh, hỡi bạn hiền,
Ngủ cho say nhé, triền miên giấc nồng.
Chuông chùa vọng giữa thinh không.
Đưa hồn an lạc về vùng tịnh yên.


Ấu Oanh