Friday, July 27, 2018

BẮC HÀN CHUYỂN GIAO MỘT SỐ HÀI CỐT QUÂN NHÂN HOA KỲ TỬ TRẬN TRONG CHIẾN TRANH CAO LY




Chào Bình Minh http://www.littlesaigonradio.com/…/20180727_ChaoBinhMinh.mp3
BẮC HÀN CHUYỂN GIAO MỘT SỐ HÀI CỐT QUÂN NHÂN HOA KỲ TỬ TRẬN TRONG CHIẾN TRANH CAO LY
Một phi cơ quân sự chở theo 55 hòm nhỏ, chứa hài cốt của những quân nhân đã tử trận trong cuộc Chiến tranh Cao Ly đã đến Căn cứ không quân Osan hôm nay ở Nam Hàn. Việc hồi hương một số hài cốt các quân nhân Hoa Kỳ đã mất tích trong khi thi hành nhiệm vụ trong cuộc chiến từ năm 1950 đến 1953 được coi như là một thắng lợi ngoại giao khiêm tốn cho Tổng thống Donald Trump vì đây là một trong những thỏa thuận đạt được trong cuộc họp thượng đỉnh giữa ông và Lãnh tụ Kim Jong Un của Bắc hàn ở Singapore hôm 12 tháng 6. Những quân nhân mặc lễ phục tay đeo găng trắng dược thấy từ từ mang 55 cái hòm nhỏ phủ lá cờ trắng xanh của Liên Hiệp Quốc, đặt từng hòm một vào một trong những xe van màu trắng bạc đang chờ ở phi đạo ở Osan. Việc hồi hương hài cốt của các quân nhân Hoa Kỳ là một trong bốn điểm cụ thể được ghi trong bản tuyên bố vốn nói rất chung chung về phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên. Cụôc hồi hương này đến đúng vào ngày kỷ niệm 65 năm ký kết thỏa thận ngưng bắn chấm dứt cuộc chiến. Được biết là 55 hài cốt được trả lại, nhưng vẫn còn phải trải qua thử nghiệm để bảo đảm họ là hài cốt của các quân nhân Hoa Kỳ tử trận và sau đó viện nhận diện sẽ có thể mất nhiều năm. Ông John Zimmerlee, con trai của một trong những quân nhân mất tích, nói với đài BBC là không có gì bảo đảm đây là hài cốt của các quân nhân Hoa kỳ. Sáng lập viên của Hệ thống Tù binh Chiến Tranh và Mất Tích trong khi Thi hành Nhiệm vụ giải thích “Hãy nhớ là số 55 hài cốt trở về này, đây là những người mà họ [Bắc Hàn] nghi là kẻ thù của họ trong thời chiến- không có nghĩa là người Mỹ. Họ có thể là người Anh, họ có thể là người Úc, Bỉ -có thể là rất nhiều những đồng minh khác dã tham chiến ở đó”...





 

CHUYỆN NGƯỜI MINH-HƯƠNG Ở MIỀN NAM - Saigon Xưa

Trong lịch sử khẩn hoang ở Nam bộ, sự đóng góp của người Minh Hương và người Hoa từ xưa đến nay về kinh tế, văn hóa thật là to lớn. Bao nhiêu danh nhân Việt nam trong lịch sử có gốc Minh Hương, từ Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản, Phan Xích Long… đến những nhân vật có tên tuổi trong văn hóa nghệ thuật gần đây như Hồ Dzếnh, Trịnh Công Sơn, Vương Hồng Sển, Lý Lan. Họ đã hòa nhập thành người Việt.
Đã có nhiều tư liệu viết về Mạc Cửu và xứ Hà Tiên, với văn học Hà Tiên độc đáo, đỉnh cao của người Minh Hương đến khai khẩn Nam bộ. Bài viết chú trọng về người Minh Hương và người Hoa ở những vùng khác trên Nam bộ, chủ yếu là vùng Đồng Nai-Gia Định.
Những nhân vật tiên phong khai phá.
Ngoài Hà Tiên, thì nơi phát triển đầu tiên của người Minh Hương là xứ Đồng Nai, gồm Cù lao Phố, Biên Hòa, Bến Nghé-Chợ Lớn. Nông Nại đại phố tức là Chợ Lớn của xứ Đồng Nai. Đồng Nai âm theo tiếng Quảng Đông là Nông Nại.
Một trong những người đến cùng thời với Trần Thượng Xuyên hay còn gọi là Trần Thắng Tài là ông nội của Trịnh Hoài Đức từ tỉnh Phúc Kiến. Trong miếu Quan Đế ngày nay, ông có tên trong danh sách những người sáng lập ra miếu này ở Cù lao Phố năm 1684. Miếu Quan Đế Chùa Ông hiện nay vẫn còn và là miếu thờ cổ nhất ở Nam bộ. Cha của Trịnh Hoài Đức sau đó cũng góp công vào hương khói của chùa Quan Đế.
Trịnh Hoài Đức lúc thiếu thời học với Võ Trường Toản. Tư liệu quí giá và phong phú nhất về lịch sử khai khẩn Nam bộ là quyển Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức. Trong đó, Trịnh Hoài Đức viết về Cù lao Phố như sau:
“Nông Nại (tức Đồng Nai) đại phố, lúc đầu do Trần Thượng Xuyên khai phá, tức Trần Thắng Tài chiêu tập người buôn nước Tàu đến kiến thiết phố xá mái ngói tường vôi, lầu cao, quán rộng, dọc theo bờ sông liên lạc dài 5 dặm, chia và vạch làm 3 đường phố, đường phố lớn lót đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, đường phố nhỏ lát gạch xanh, đường rộng bằng phẳng, kẻ buôn tụ tập, ghe thuyền lớn ở biển và ở sông đến đậu, ấy là một chỗ đại đô hội mà những nhà buôn bán giàu có ở đây là nhiều nhất hơn thảy những nơi khác”.
Cù lao Phố trở thành một cảng quan trọng đầu tiên của Nam bộ, đón nhận thương thuyền nước ngoài, hưng thịnh suốt khoảng 90 năm từ khi Trần Thượng Xuyên đến với quân đội, suy thoái từ khoảng 1775, tức là khoảng sau 90 năm, để nhường cho Chợ Lớn, Bến Nghé Sài Gòn sau này. Trước khi Trần Thượng Xuyên được chúa Nguyễn đưa đến cù lao Phố, đã có người Việt từ miền Trung đến ở núi Dinh (Mô Xoài) vùng Bà Rịa từ năm 1658 và vùng Long Thành. Nhờ vậy, khi Trần Thượng Xuyên đến cù lao Phố đã có dân Việt, dĩ nhiên người dân tộc như người Mạ, người Khmer, Chăm cũng tới lui trao đổi hàng hóa.
Trần Thượng Xuyên đến mang theo gia đình cùng với quân sĩ , nhiều binh sĩ này vẫn tiếp tục cầm vũ khí theo đuổi binh nghiệp nhưng một số lập nghiệp tại vùng đất mới. Sau một thời gian, thêm một số cư dân và thương gia đến sau, với vốn liếng để lập chợ. Cù lao Phố trở thành cảng sầm uất xuất nhập khẩu, với kho dự trữ hàng hóa nhập vào và dự trữ hàng hóa thâu mua từ nhiều nguồn của cư dân sống trong vùng Đồng Nai như lâm sản, ngà voi, nai, heo rừng, sừng tê giác…
Nguyễn Hữu Cảnh, do chúa Nguyễn gởi vào sau này để cai quản vùng đất mới, đến Cù lao Phố ngay lúc cù lao với cảng đang hưng thịnh, nhưng trụ sở hành chánh và đồn binh đặt ở Sài Gòn. Ông Nguyễn Hữu Cảnh vào cù lao Phố với thủy quân. Khi ông mất ở Rạch Gầm, quan tài được đưa về Cù lao Phố, rồi từ đấy về miền Trung theo đường thủy, chôn ở quê ông là Quảng Bình. Chứng tỏ Cù lao Phố lúc đó là cảng quan trọng, sầm uất nơi cập bến của tàu bè khi đi và đến Đồng Nai, cửa ngõ của Nam bộ. Hiện nay ở Cù lao Phố còn đền thờ mộ tượng trưng của Nguyễn Hữu Cảnh, do dân chúng thiết lập để nhớ ơn ông.
Cù lao Phố bắt đầu suy thoái khi lưu dân xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long càng nhiều, biến vùng Mỹ Tho và các vùng phụ cận thành nơi sản xuất lúa gạo, cây trái, thủy sản lớn nhất của miền đất mới Gia Định – Đồng Nai. Hơn nữa Cù lao Phố thiếu hàng hóa đưa ra ngoài vì lâm sản dần dần ít đi và không còn là sản phẩm chính cần ở thị trường. Nhiều thương gia lần dời xuống Sài Gòn-Chợ Lớn để mua bán. Nguồn lúa gạo dồi dào của đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu dư để xuất đi nhiều nơi ở Đàng Ngoài và nhiều nơi khác, mà lúa gạo là nhu yếu phẩm chính.
Cù Lao Phố tàn lụi và chấm dứt khi quân Tây Sơn do Nguyễn Nhạc đến tấn công, đốt phá phố cù lao và giết rất nhiều người Minh Hương trong vùng. Đại Nam nhất thống chí ghi rõ quân Tây Sơn đến “dỡ lấy hết nhà cửa, gạch đá của cải chở về Quy Nhơn, từ đời Gia Long trung hưng tuy người ta có trở về, nhưng trăm phần chưa được một”. Những người sống sót đều chạy xuống vùng Bến Nghé và Chợ Lớn lập phố xá và chợ mới gần chợ Tân Kiểng. Từ đó Chợ Lớn càng trở nên phát triển hơn và là trung tâm thương mại ở Gia Định và miền Nam. Thương thuyền khắp nơi vào buôn bán và chở sản phẩm như lúa gạo đi các vùng và các nước như Trung Quốc và Mã Lai.
Năm 1822, khi người Anh ỏ Bengal (Ấn Độ) và Singpapore gởi ông John Crawfurd vào Gia Định gặp Tổng trấn Lê Văn Duyệt để tìm hiểu về thương mại, Crawfurd có viết về Chợ Lớn lúc đó gọi là Sài Gòn và Bến Nghé như sau:
“..Đây là lần đầu tiên tôi tới Saigun (Sài Gòn) và Pingeh (Bến Nghé). Và tôi bất ngờ thấy rằng nó không thua gì kinh đô nước Xiêm. Về nhiều mặt trông nó còn sầm uất hơn, không khí mát mẻ hơn, hàng hóa phong phú hơn, giá cả hợp lý hơn và an ninh ở đây rất tốt, hơn nhiều kinh thành mà chúng tôi đã đi qua. Tôi có cảm giác như đây là một vương quốc lý tưởng […] Dinh Tổng trấn khá đồ sộ và uy nghiêm. Các thành trì nằm ở bờ sông An Thông hà. Nơi đây buôn bán sầm uất. Dân xiêu tán tới đây được Tổng trấn cho nhập hộ tịch, qua một hai đời đã trở thành người Gia Định. Đông nhất nơi đây là dân Trung Hoa. Các dân tộc nơi đây được nhà nước bảo hộ và họ đều có nghĩa vụ như nhau. Tất cả đều được sống trong bầu không khí an lành. Trộm cướp không có. Người ăn mày rất hiếm. Tổng trấn rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm cướp ăn năn. Nhưng ông lại rất tàn bạo với bọn cố tình không chịu quy phục triều đình. Chưa ở đâu kỷ cương phép nước được tôn trọng như ở đây […] Ở đây chúng tôi mua được rất nhiều lúa gạo, ngà voi, sừng tê giác, các hàng tơ lụa, đũi thật đẹp.”
Cũng theo Crawfurd thì ở Chợ Lớn nhà cửa của thương gia Trung Hoa đồ sộ hơn nhà cửa của người Việt nhiều. Đang khi John Crawfurd đi thơ thẩn, ba gia đình Trung Hoa loại khá giả nhất đã ra cửa mời ông vào chơi.
Nếu cảng Cù lao Phố vẫn còn thì đây là khu phố cổ thương mại thứ hai ở Việt Nam sau phố cổ Hội An, được thành lập với sự đóng góp lớn của người Hoa. Cách đây 14 năm (1993), mộ tướng Trần Thượng Xuyên được khám phá nằm ở Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, cạnh hữu ngạn sông Đồng Nai, mà tôi có dịp đến thăm. Đình Tân Lân ở thành phố Biên Hòa, cạnh cù lao Phố, là nơi thờ tướng Trần Thượng Xuyên có sắc phong của vua Minh Mạng. Được xếp hạng là một di tích lịch sử văn hóa. Đình ở vị trí rất đẹp, trước măt đền là sông Đồng Nai với cây cổ thụ lớn ngay cạnh sông. Tân Lân là tên gọi của vùng bên phía chợ Biên Hòa nơi tướng Trần Thượng Xuyên xưa kia đóng quân, sử ghi là xứ Bàn Lân, sau đổi là Tân Lân. Bàn Lân có thể là do chữ Bằng Lăng nói trại ra. Cây bằng lăng là cây bản địa, mọc rất nhiều trước đây trong vùng Đồng Nai và Gia Định. Hiện nay cây bằng lăng còn có thể tìm thấy trong các rừng còn lại ở Đông Nam bộ (như rừng Cát Tiên) và một vài tỉnh ở Tây nguyên (Lâm Đồng, Dak Lak).
=> Văn hóa người Minh Hương.
Có thể thấy được sinh hoạt văn hóa sinh động của người Hoa trước đây và hiện nay thì không có gì hơn là đến khu Chợ Lớn. Tôi đi cùng với một người bạn gốc Hoa vào Chợ Lớn thăm viếng các nhà văn hóa người Hoa. Trong Nhà truyền thống góc đường Triệu Quang Phục và Nguyễn Trãi (xưa gọi là đường Cây Mai) thường có triễn lãm và các hình ảnh xưa ở Chợ Lớn cùng các sản phẩm mỹ thuật. Nhà Truyền thống trước đây là nhà hát Tam Đa của người Hoa trong vùng. Cạnh nhà truyền thống ở số 137 đường Triệu Quang Phục là trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc, chủ yếu là của người Hoa. Trụ sở là Hội quán của chùa bà (Thiên Hậu) cho mượn. Chùa Thiên Hậu nằm ở góc đường Nguyễn Trãi và Triệu Quang Phục. Đường Triệu Quang Phục xưa là đường Canton (Quảng Đông) trong thời Pháp và là trung tâm Chợ Lớn. Phim “Người Tình”, phỏng theo tự truyện ‘L’Amant‘ của nhà văn nữ Pháp Margurette Durras, được quay ở đường này. Nhà Xã Tây ở cạnh đây (gọi là Xã Tây vì là tòa nhà hành chính của Pháp chuyên lo chuyện nhập, xuất cảnh và giấy tờ). Vùng này ngày xưa cũng được gọi là Minh Hương xã.
Anh Trần Đại Tân, người Triều châu, quê ở Sóc Trăng là người biết nhiều về lịch sử người Minh Hương ở Nam bộ. Anh Tân tặng tôi quyển sách của anh viết về người Hoa ở Nam bộ. Nói chuyện về các địa lý và phố xưa cũng như các người Hoa danh tiếng trong lịch sử và hiện nay, như Trần Thành trước đây và Lý Ngọc Minh hiện nay. Hoạt động của Hội gồm hội họa, thư pháp, nhiếp ảnh, xuất bản văn học. Ngoài ra còn có ban bảo trợ văn hóa người Hoa, với chi hội ca múa nhạc có trụ sở là nhà văn hóa Quận 5, gần Đại Thế giới, đường Trần Hưng Đạo.
Từ hội quán, chúng tôi đi bộ đến thăm chùa Thiên Hậu do người Hoa Quảng Đông xây dựng, rất nhiều du khách nước ngoài viếng thăm. Kiến trúc chùa rất đẹp với các tượng trên nóc, mái chùa bằng sành sứ rất công phu và các tranh khắc trên tường là những tuyệt tác rất trang nhã của nghệ thuật người Hoa. Cạnh chùa Thiên hậu là đền Tam Sơn, trên đường Triệu Quang Phục, của người Phúc Kiến (Phúc Châu), nơi đây thờ Ngọc Hoàng, Quan âm, Quan công.., không có chữ quốc ngữ chỉ có chữ Hán trong và ngoài đền. Theo anh Tân, thì kế bên đền Tam Sơn, xưa kia có Thất phủ cổ miếu, nhưng đã bị phá đi, hiện nay là xí nghiệp in, chỉ còn lại một bức tường. Đây là một mất mát văn hóa to lớn.
Đến Đình Minh Hương Gia Thạnh trên đường Trần Hưng Đạo, gặp lại bác Vương Quang Tâm, hiện nay là người cai quản đình mà năm trước tôi có đến. Đình là tòa nhà cổ nhất Sài Gòn, xây năm 1789, được công nhận là một di tích lịch sử. Năm 1698, ở vùng này đã hình thành nên làng Minh Hương ở Gia Thạnh, làng Minh Hương còn để lại câu ca dao
“Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng.
Đố ai lịch sự cho bằng làng Minh Hương”.

Lần trùng tu cuối cùng của đình là vào năm 1921. Trong đình, bên phải thờ Trần Thượng Xuyên (có 2 di ảnh tướng Trần Thượng Xuyên) và Nguyễn Hữu Cảnh, bên trái thờ Trịnh Hoài Đức và Ngô Gia Tịnh. Cạnh đó là 1 chuông đồng do vua Minh Mạng tặng, với sắc phong và chuyển tên từ làng thành đình. Chuông được gióng một năm một lần vào ngày 16/1. Sau chánh điện là sân rất rộng gọi là Thiên Quang Tỉnh (giếng trời). Đình Minh Hương Gia Thạnh cũng là nơi tề tựu, gặp gỡ của nhóm Bình Dương thi xã, sáng lập bởi Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, với nhiều nhân sĩ đến đây để ngâm thơ, xướng họa vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19.
Chùa Giác Lâm là ngôi chùa thuộc loại xưa nhất Sài Gòn. Chùa nằm ở Phú Thọ Hoà kế quận 5 (nay là đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình), vẫn còn giữ nguyên không thay đổi nhiều sau bao năm từ lúc thành lập. Chùa được cư sĩ người Minh Hương tên là Lý Thụy Long xây dựng vào năm 1744 ở vùng thanh vắng nhiều cây cối không xa chùa Cây Mai và Gò cây mai, một nơi thanh lam thắng cảnh của Gia Định mà Gia Định thi xã của Trịnh Hoài Đức thường hay nhóm họp làm thơ. Lý Thụy Long có tên riêng là Cẩm, chuyên nghề đan đệm bán nên người địa phương gọi là ông Cẩm Đệm. Vì thế chùa còn có tên là Cẩm Sơn, Sơn Can hay Cẩm Đệm. Năm 1772 hòa thượng Viên Quang tới trụ trì, từ đó mới đổi tên chùa là Giác Lâm. Khi xưa lúc chùa được xây dựng như một cái am, xa cư dân, rất thanh vắng, cây cối rậm rạp, thích hợp cho sự tu dưỡng, tu hành. Trong quyển Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức đã miêu tả cảnh chùa như sau: “Chùa toạ lạc trên gò Cẩm Sơn, cách phía Tây lũy Bán Bích ba dặm…, cây cao như rừng, hoa nở tựa gấm, sáng chiều mây khói nổi bay quanh quất, địa thế tuy nhỏ mà nhã thú!…” Chùa hiện nay được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.
Nghề làm gốm là nghề tiểu công nghiệp lâu đời, bắt đầu từ khi người Minh Hương đến định cư ở xứ Đồng Nai. Hiện nay ở tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, đa số các chủ lò gốm là do người Việt gốc Hoa, hay Minh Hương đảm trách. Họ đã làm nghề này cha truyền con nối bao nhiều đời cho đến nay. Đây là hai trung tâm gốm sứ lớn nhất Nam bộ với nhiều thợ, nghệ nhân người Hoa. Vào thế kỷ 18, đã tồn tại một trung tâm gốm sứ mang tên Xóm Lò Gốm ở vùng quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (phía Chợ Lớn) (Xem bài: Những dấu tích thăng trầm của xóm Lò Gốm Sài Gòn xưa). Xung quanh vùng này còn có nhiều địa danh như Lò Rèn, Xóm Lò Siêu, xóm Lò Gạch… Địa bàn xóm Lò Gốm xưa khá rộng, gồm các làng Hòa Lục (quận 8), Phú Định-Phú Lâm (quận 6), Phú Giáo-Gò Cây Mai (quận 11) trải dài đôi bờ kênh Ruột Ngựa, kênh-rạch Lò Gốm. Những con kênh này là tuyến đường giao thông chính của khu vực Chợ Lớn, dùng ghe xuồng chở hàng sản xuất đến các tỉnh miền Tây.
Gốm vùng Sài Gòn-Gia Định-Đồng Nai ở thế kỷ 18,19 và 20 nổi tiếng có đặc thù riêng và nổi tiếng tốt mà nhiều nhà văn hóa sử, khảo cổ trước đây gọi là gốm “Cây Mai” (được biết đến qua những gốm xưa tìm được ở gò Cây Mai và khu vực đường Cây Mai, Chợ Lớn) nay được xếp loại và gọi chung là gốm Biên Hòa, Sài Gòn. Ngày nay chỉ còn lại di tích lò gốm Hưng Lợi thuộc làng Hòa Lục (phường 16 quận 8), gần làng Phú Định, nằm ven kênh Ruột Ngựa, của xóm Lò Gốm xưa. Cuộc khai quật năm 1997-1998 đã tìm thấy tại đây phế tích 3 lò gốm, trên một gò lớn chứa đầy mảnh gốm của các loại lu, khạp, siêu, chậu… Ngày nay những nơi còn tiếp tục truyền thống gốm cổ truyền của người Hoa hiện nay còn rõ nhất ở những lò làm lu gốm ở Biên Hòa hoặc ở khu vực Q.9 TPHCM (Thủ Đức cũ, gần Công viên Văn hóa dân tộc đang xây dựng), và một số cơ sở nhỏ sản xuất đồ gốm gia dụng ở vùng Lái Thiêu.
=> Ảnh hưởng tới ngôn ngữ.
Ngoài ra, anh hưởng văn hóa mà người Minh Hương để lại sâu đậm nhất trong đời sống Nam bộ là ngôn ngữ. Tiếng Việt miền Nam được lưu dân Minh Hương và Hoa mang vào bổ xung cho tiếng Việt thêm phong phú. Theo Bình Nguyên Lộc, những từ sau có nguồn gốc Minh Hương.
=> Các từ gốc Triều Châu
– Lẩu: Có nguồn gốc từ lẩu là một món canh của Triều Châu, đựng trong một thứ bát đặc biệt bằng Laiton.
– Tía: Chính các chú rể Triều Châu, lưu vong nhà Minh đã đưa ra danh từ Tía vào Nam, và bị ta hiểu là Cha.
– Hên: Do Hưng. Triều Châu đưa vào và họ đọc là Hinh thì đáng lý ta phải viết là Hênh.
– Xui: Tiếng nầy đất Bắc có nhưng vay mượn lâu đời hơn và nói là Xúi Quẩy. Do chữ Suy mà ra, đọc theo Triều Châu, Hên Xui = May Rủi.
– Khổ Tai: Một món ăn khác mà dân miền Nam rất ưa và họ gọi là KHỔ TAI. do người Triều Châu đọc Hô Tai (Hải Táo), một thứ rong biển mà họ nấu với đường để bán cho dân miền Nam ăn.

=> Các từ gốc Quảng Đông
– Xí Mụi: do Quảng Đông gọi Xíu Mụi, chữ Nho là Tiêu Mai.
– Công xi: Công Ty, do Quảng Đông đưa vào.
– Hủ tiếu: Không biết chữ ra sao, nhưng do Quảng Đông đưa vào, họ nói là Phải, không hiểu sao ta lại biến thành Hủ Tiếu.
– Xíu Mại: Không biết chữ nghĩa ra sao, nhưng đa số các món ăn đều do Quảng Đông đưa vào.
– Chạp Phô: Chỉ là Tạp hóa. Nhưng chính người Quảng Đông lại cho nó cái nghĩa hạn chế là thực phẩm: trứng vịt, tôm khô, cá khô,v.v. còn các cửa hàng bán các thứ khác cũng tạp nhạp lại không được gọi là chạp phô.
– Giò Chá Quảy: Thật đúng là Dầu chá quảy tức con quỷ nướng trong dầu, chỉ loại bánh bột mì chiên mỡ.
– Ly: Cốc bằng pha lê, người Quảng Đông gọi là Pò Lý Púi, tức Pha Lê Bôi, ta nuốt hết, chỉ chừa lại Lý và đọc là Ly.
– Xì Thẩu: Chữ Nho là Sự Đầu, chủ sự, nhưng bị ta hiểu là Ông chủ.

Điều này cho ta thấy miền Nam ban đầu chịu ảnh hưởng nhiều của phong tục, sinh hoạt, tập quán người Minh Hương.
Blog Saigon Xưa 

Thursday, July 26, 2018

Việt Nam Cộng Hòa Quốc Gia Trẻ Trung Của Đông Nam Á - Blog Saigon Xưa

1.Lời mở đầu
Thành công trước hết của VNCH cần phải kể có lẽ là nỗ lực đón nhận gần 1 triệu đồng bào miền Bắc di cư sau Hiệp định Geneva 1954 ghi nhận thì dễ dàng, nhưng ngay cả với một cường quốc như Hoa Kỳ ngày nay, việc tái định cư, ổn định đời sống về mọi mặt (nhà ở, công ăn việc làm, y tế, giáo dục…) cho cả triệu dân là một thách thức ghê gớm và thời điểm đó Chánh phủ Ngô Đình Diệm có công lớn trong sứ mạng này, có lẽ không gì ngạc nhiên khi nhiều gia đình người Bắc di cư đến nay vẫn dành nhiều ưu ái cho vị tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa, có một sự thật người ta nhận xét người Việt ở miền Nam thường hào sảng và… hào hoa và đặc điểm này dường như cũng đúng với chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

Mặc dù trong khung cảnh chiến tranh điêu linh, miền Nam Việt Nam vẫn kịp khai triển một nền văn hoá nghệ thuật độc đáo, đậm chất Việt, cách riêng trong các ngành văn chương, âm nhạc, hội hoạ… Có hai lý do lớn góp phần thúc đẩy sự viên mãn này: công việc giáo dục nhân bản, và một nền báo chí tự do. Cả miền Nam thời đó có khoảng 50 tờ nhật báo và hằng trăm tạp chí lớn nhỏ đủ loại, tạo sân chơi cho nhiều tài năng trẻ mặc sức tung hoành.
Chính trong môi trường này, dưới thời VNCH rất nhiều tác phẩm quý đã ra đời, vẫn còn chỗ đứng đến ngày nay. Có hằng trăm, thậm hằng ngàn tên tuổi thành danh vào lúc tuổi đời chỉ ngoài đôi mươi, điều sau này hiếm gặp lại, sự có mặt của người Mỹ và các nước bạn đồng minh, cùng nhu cầu chiến cuộc, giúp VNCH có một mạng lưới đường xá, cầu cống, và các công trình kiến trúc khang trang, rộng khắp xứ sở. Hệ thống hạ tầng cơ sở này hầu như còn nguyên trạng, trở thành trục xương sống của nền kinh tế Việt Nam kéo dài đến sau này
2..Chương II
Cho tới khoảng đầu thập niên 1990 kinh tế nước Việt Nam thời hậu chiến rập khuôn mô hình Nga Sô cũ, khiến đời sống dân chúng cơ cực bần hàn, dẫn đến quyết định “cải tổ”, “mở cửa”, và thu hút “đầu tư” năm 1986. Nhìn lại, các nhà hoạch định kinh tế của VNCH đã đi trước đó đến 30 năm. Từ 1957, chánh phủ VNCH đã ban hành nhiều chánh sách mạnh mẽ, kêu gọi đầu tư ngoại quốc lẫn tư nhân, giúp canh tân mở mang nước nhà.

Chính nhờ những quyết sách nhạy bén này, trong 20 năm kế tiếp, miền Nam Việt Nam trong thế vô vàn khó khăn, vẫn nỗ lực xiển dương một nền công nghệ riêng tuy quy mô còn khiêm tốn. Ta có thể nhắc những cái tên lừng lẫy của một thời như: Khu kỹ nghệ Biên Hòa, Khu kỹ nghệ An Hòa, Khu kỹ nghệ Phong Đình, nhà máy giấy Cogido An Hảo, các xưởng dệt Vinatexco và Vimytex, nhà máy thủy tinh Khánh Hội, hai nhà máy xi măng Hà Tiên và Thủ Đức… VNCH cũng kịp xây đập thủy điện Đa Nhim từ đầu thập niên 1960, là một trong những lý do giúp phát triển mạng lưới điện lên ít nhất 10 lần. Kỹ nghệ dầu hoả cũng manh nha đầu thập niên 1970 với hãng Mobil của Mỹ chuẩn bị khai thác dầu tại giàn khoan Bạch Hổ ngoài khơi Vũng Tàu.
Một thành quả khá độc đáo khác, thường được nhiều người nhắc nhở, là sản phẩm xe hơi “La Dalat”. Khởi thuỷ là một cơ xưởng của Citroen mở từ năm 1936. Đến đầu thập niên 1970, hãng này gọi là “Citroen Xe Hơi Công Ty”, đóng nhiều phiên bản xe La Dalat khác nhau, mở cửa hoạt động đến năm 1975. Ngày nay, vẫn có nhiều người chơi xe cổ sưu tập các xe La Dalat này, đặc biệt ở Sài Gòn.
Chiếc xe tí hon, đơn giản, song ít nhiều gợi niềm hoài cảm, và hãnh diện cho người miền Nam một thuở, đã bước vào kỹ nghệ đóng xe hơi từ rất sớm, một điểm son đặc biệt thời VNCH là chương trình “Người Cày Có Ruộng” khởi sự năm 1970. Đây là tương phản lớn với cuộc “cải cách ruộng đất” đẫm máu ở miền Bắc với chánh sách cộng sản. Ở miền Nam Việt Nam, chánh phủ VNCH nghĩ ra cách bán công khố phiếu, lấy tiền đó mua lại ruộng đất của điền chủ, rồi đem chia cho nông dân miễn phí. Chương trình này giúp khoảng bốn triệu nông dân có đất ruộng riêng, đời sống được cải thiện đáng kể. Nhiều học giả sau này đánh giá “Người Cày Có Ruộng” là một trong những chương trình cải cách điền địa quy mô, mang nhiều tham vọng, và thực thi hiệu quả nhất tại một quốc gia thuộc thế giới thứ ba.
=> Tổng kết
Trong những thành tựu này, có thể nói, không gì sánh bằng nền giáo dục VNCH. Tuy non trẻ, ảnh hưởng của nó còn kéo dài, vị ngọt của nó còn thấm đẫm theo nhiều thế hệ người Việt ở hải ngoại lẫn quốc nội sau này. VNCH là một trong những quốc gia đưa giáo dục vào chính hiến pháp, bảo đảm công dân được học hành miễn phí, và nền đại học không bị chi phối bởi chánh trị. Giáo dục thời VNCH chú trọng các yếu tố nhân bản, dân tộc, và khai phóng, có thể kể vài con số ước lượng sơ khởi vào đầu thập niên 1970. VNCH có 2.5 triệu học trò tiểu học, trên nửa triệu học trò trung học, và hơn 100 ngàn sinh viên đại học.

Trên cả nước, số người biết đọc / viết chiếm khoảng 70% dân số. Ngành giáo dục VNCH có đến 3 máy chấm bài thi trắc nghiệm điện tử IBM thế hệ đầu của Mỹ. Lúc đó Singapore mới có 1 máy, và ở VN hơn ba mươi năm sau mới biết sử dụng trở lại …VNCH có hệ thống trường học cả công lẫn tư rất mạnh, ở mọi cấp học. Nhiều trường còn lưu danh đến ngày nay như: Viện Đại học Sài Gòn, Viện Đại học Huế, Viện Đại học Đà Lạt, Viện Đại học Vạn Hạnh, Viện Đại học Minh Đức, Học viện Quốc gia Hành chánh, trường Quốc gia Âm nhạc, trung học Pétrus Ký, Chu Văn An, Gia Long, Quốc Học (Huế), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Lasan Taberd, Regina Pacis, Regina Mundi, Bác ái, v.v…
Tuy chỉ hiện diện trong khoảng 20 năm ngắn ngủi nhưng Việt Nam Cộng Hoà cũng kịp ghi lại nhiều dấu ấn. Các chánh phủ VNCH, ở thời đệ Nhất và đệ Nhị Cộng hoà, dù đối diện vô vàn thách thức, dù phải đương đầu với võ lực xâm lăng của chủ nghĩa cộng sản từ phương bắc, vẫn đủ sức điều hành một xứ sở với gần 20 triệu người một cách hiệu quả trong chừng mực có thể. Với các thành tựu điểm qua trong bài này, ở những lãnh vực kỹ nghệ, giáo dục, văn hoá… VNCH đóng góp một cái nền, một cái khung chắc chắn.
Sự ảnh hưởng của nó lên cách tổ chức, ý thức, và đời sống người Việt về sau này sẽ cần thêm thời gian để người ta nhận biết rõ. Thời VNCH cũng tạo ra một lớp người mới, có tri thức, chánh trực, hết lòng phụng sự quốc gia. Chỉ tiếc rằng sau một cơn biến động, đa phần trong số họ không có cơ hội giúp phục hưng xứ sở, thậm chí còn phải hứng chịu nhiều sự trả thù ác hiểm.
Thế cho nên, dù đã thôi tồn tại hơn 36 năm rồi, nhưng cho tới ngày hôm nay VNCH vẫn còn được nhiều người nhắc nhở, nửa như niềm hãnh diện chưa phôi phai, nửa như nỗi lưu luyến dịu dàng, về một thời thanh xuân cũ, về cái buổi ban đầu trẻ trung nhiều hứa hẹn… Và có lẽ, từ nỗi nhớ nhung nhẹ nhàng này của nhiều người Việt, sẽ bật ra những tia hy vọng, hướng về một tương lai khác hơn, về sự phục sinh của các giá trị đẹp, và sự rõ ràng sòng phẳng với nhiều sự thật lịch sử còn ẩn khuất.
Blog Saigon Xưa 

Wednesday, July 25, 2018

Chúc Mừng Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát Tạ Trung và Kết quả bầu cử Ban Chấp Hành Cộng Đồng NVQG Nam Cali, nhiệm kỳ 2018 - 2021

Kết quả bầu cử Ban Chấp Hành Cộng Đồng NVQG Nam Cali, nhiệm kỳ 2018 - 2021



Tân Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California (đứng hàng đầu), nhiệm kỳ 2018 – 20121 do ông Phát Bùi lãnh đạo (Thanh Phong/Viễn Đông)
Bài THANH PHONG
GARDEN GROVE - Đúng 30 ngày sau cuộc bầu cử Ban Đại Diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California, nhiệm kỳ 2018 –2021 được tổ chức vào hai ngày 23, 24 tháng 6, 2018, hôm thứ Ba, 24 tháng 7, Ủy Ban Tổ Chức Bầu Cử và Giám Sát Bầu Cử đã tổ chức buổi họp báo vào lúc 4 giờ chiều tại Thư Viện Việt Nam, thành phố Garden Grove để công bố kết quả bầu cử.

Đông đảo đồng hương đến theo dõi kết quả bầu cử. 
(Thanh Phong/Viễn Đông)
Đồng hương háo hức muốn biết liên danh nào đắc cử nên đến tham dự rất đông, hội trường thư viện không đủ sức chứa, nhiều người phải đứng ngoài hành lang. Hai đồng Trưởng Ban Tổ Chức Bầu Cử là ông Phan Kỳ Nhơn và Giám Mục TL.Trần Thanh Vân. Giám Sát cuộc bầu cử là chiến hữu Lê Văn Sáu (Chủ Tịch Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam California).

Cả ba thụ ủy liên danh và tân Ban Giám Sát Cộng Đồng chụp ảnh với ban tổ chức bầu cử. (Thanh Phong/Viễn Đông)
Sau nghi thức chào cờ và mặc niệm, niên trưởng Phan Kỳ Nhơn chào mừng mọi người và tuyên bố lý do. Sau đó, ông nhường lời cho Giám Mục Trần Thanh Vân trình bày diễn tiến cuộc bầu cử từ ngày họp đầu tiên đến hai ngày bỏ phiếu cũng như ba ngày kiểm phiếu bằng hình ảnh chiếu lên cho mọi người nhìn rõ.
Sau khi công bố hình ảnh, ông Lê Văn Sáu, Trưởng Ban Giám Sát Bầu Cử công bố kết quả: Có 4,323 cử tri đi bầu. Có 135 phiếu bất hợp lệ.
Năm vị sau đây đắc cử vào Hội Đồng Giám Sát:
- Ông Tạ Trung: 2,145 phiếu
- Cô Tinh Trần Julie Nguyễn: 1,488 phiếu
- Ông Nguyễn Đình Cẩn: 1,138 phiếu
- Ông Võ Đức Văn: 994 phiếu
- Ông Lâm Quang Thạnh: 926 phiếu
Hội Đồng Đại Diện Cộng Đồng:
- Liên Danh 1 Trách Nhiệm do Thụ Ủy Nguyễn Mạnh Chí: 1,653 phiếu
- Liên Danh 2 Phù Đổng do Thụ Ủy Ngô Thiện Đức: 795 phiếu
- Liên Danh 3: Đoàn Kết và Xây Dựng do Thụ Ủy Phát Bùi: 1,740 phiếu
Căn cứ vào số phiếu đã kiểm, ông Phan Kỳ Nhơn tuyên bố Liên Danh 3 Thắng Cử và ông mời cả ba thụ ủy lên chụp hình chung, bắt tay nhau đoàn kết xây dựng Cộng Đồng.
Ông Phát Bùi, ông Ngô Thiện Đức lên ngay nhưng ông Nguyễn Mạnh Chí chần chừ không muốn lên, mãi sau ông Trần Vệ và ông Lê Quang Dật mời mãi ông Chí mới lên. Ban Tổ Chức Bầu Cử đề nghị ông Phát Bùi là liên danh thắng cử nói mấy lời.

Kỹ sư Tạ Trung đại diện năm vị tân Hội Đồng Giám Sát Cộng Đồng đang nói lời cám ơn cử tri. Đứng sau, thứ nhì từ bên trái là ông Nguyễn Mạnh Chí; thứ tư từ bên trái là ông Ngô Thiện Đức; và thứ năm từ bên trái là ông Phát Bùi. (Thanh Phong/Viễn Đông)
Ông Phát Bùi cám ơn Ban Tổ Chức Bầu Cử, Ban Giám Sát Bầu Cử, các thiện nguyện viên, các cơ quan truyền thông và cám ơn các cử tri đã dồn phiếu cho ông. Ông Phát Bùi cũng cám ơn hai liên danh bạn đã cùng liên danh số 3 ra tranh cử cộng đồng. Ông mong hai liên danh bắt tay với ông để cùng nhau đoàn kết phục vụ cộng đồng, trước mắt là đấu tranh hỗ trợ đồng bào trong nước giải thể chế độ cộng sản.
Ông Ngô Thiện Đức, đại diện Liên Danh Phù Đổng ngỏ lời cám ơn ban Tổ Chức Bầu Cử, quý đồng hương cử tri, và ông nói một câu được mọi người nồng nhiệt vỗ tay tán thưởng, “Liên danh Phù Đổng kỳ này ra ứng cử để phục vụ đồng hương, nhưng quyền quyết định là của quý vị, chúng tôi tôn trọng sự quyết định của đồng hương nên dù thất cử, chúng tôi vẫn tiếp tục phục vụ cộng đồng như từ trước đến nay. Trong cuộc bầu cử vừa qua cũng có nhiều sơ sót nên tôi mong tân Ban Lãnh Đạo Cộng Đồng hãy tích cực làm việc và làm sao để kỳ tổ chức bầu cử tới được hoàn hảo, tránh những khuyết điểm như đã xảy ra trong cuộc bầu cử này, nhất là một số anh chị làm truyền thông phải làm sao đưa tin chính xác, đừng loan tin thiếu trung thực để kẻ thù lợi dụng đánh phá cộng đồng chúng ta.”
Ông Nguyễn Mạnh Chí phát biểu, “Trước hết chúng tôi xin cám ơn sự cố gắng của các thiện nguyện viên, cám ơn một số đồng hương từ trước đến nay chưa đi bầu lần này đã đi bầu. Liên Danh Trách Nhiệm nên chúng tôi có trách nhiệm với quý đồng hương. Quý vị mời chúng tôi lên đây chụp hình, chúng tôi lên, nhưng thưa quý vị, cuộc bầu cử nào cũng vậy, khi hai số phiếu gần ngang nhau là chúng ta có quyền khiếu nại, và tôi xin lập lại lập trường của tôi như thế nào thì chúng tôi vẫn giữ nguyên như vậy. Chúng tôi không chấp nhận những lá phiếu mà không có ghi ID, quý vị không cho chúng tôi có mặt trong lúc kiểm phiếu. Trong tinh thần trách nhiệm, tôi không chấp nhận những lá phiếu không có ID trừ khi quý vị chứng minh cho chúng tôi quý vị đã thay đổi thể thức bầu cử được sự đồng ý của chúng tôi và của nhiều người.” Sau cùng ông tuyên bố không công nhận kết quả bầu cử.
Ban tổ chức mời kỹ sư Tạ Trung (nhiều phiếu nhất) đại diện các vị đắc cử vào Hội Đồng Giám Sát có lời cám ơn. Sau đó, ông Lê Văn Sáu với tư cách Trưởng Ban Giám Sát Bầu Cử nói lời cuối cùng trước khi bế mạc buổi họp báo, “Với tư cách là Giám Sát Bầu Cử, tôi thấy không có điều gì sai quấy nên chúng tôi giữ nguyên kết quả bầu cử đã công bố, Liên Danh 3 thắng cử và là Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam Cali, nhiệm kỳ 2018 – 2021.”
Trong dịp này, Viễn Đông đã phỏng vấn một số thiện nguyện viên trực tiếp tham gia kiểm phiếu để xin cho biết cuộc kiểm phiếu có minh bạch, công bằng hay có điều gì đáng nghi ngờ không? Và câu trả lời của các vị đó, nguyên văn như sau:
Chị Xuân Mai (thành viên Ban Tù Ca Xuân Điềm): “Trước khi khui thùng phiếu, Ban Tổ Chức Bầu Cử nhờ đài truyền hình quay phim các thùng phiếu xem các dấu niêm yết có bị rách, thùng phiếu có bị khui trước hay có điều gì nghi ngờ không thì lập biên bản. Nhưng hoàn toàn không có gì đáng nghi ngờ. Sau đó, Ban Tổ Chức Bầu Cử hướng dẫn các thiện nguyện viên cách thức kiểm phiếu, những phiếu như thế nào là phiếu bất hợp lệ. Khi các thiện nguyện viên am tường rồi mới chia ra từng nhóm ba người một, thí dụ anh Bùi Đẹp, anh Ngọc, anh Tú hay có thiện nguyên nào tới nữa thì cứ vô từng nhóm như vậy. Một người lấy lá phiếu trong thùng ra đưa cho một người khác đọc, sau đó đưa cho một người khác nữa đọc rồi đưa cho anh Nam Hà là người giám sát để anh Nam Hà xem người đó, thí dụ anh Bùi Đẹp hay anh Ngọc nhà em đọc có đúng không? Khi thấy có những phiếu bất hợp lệ thì cũng qua kiểm soát như vậy sau đó mới bỏ vô thùng riêng. Tất cả mọi người đều kiểm chứng và quyết định chứ không phải ba ông trong Ban Bầu Cử quyết định nên em thấy cuộc kiểm phiếu rất công bằng, minh bạch.”
Chị Nguyễn Thị Bích: “Tôi chỉ là một thiện nguyện viên, trong ba ngày kiểm phiếu tôi thấy rất là trong sáng, minh bạch, không có điều gì như một thiểu số thành phần nào đó bụng họ hẹp hòi, ích kỷ, họ nghĩ ai cũng giống như họ, nên họ phê phán thế này thế kia chứ thật sự tôi thấy rất là rõ ràng, minh bạch.”
Anh Nam Hà (Quân Đoàn IV): “Tôi đã có mặt trong cuộc kiểm phiếu, với sự khách quan tôi đã cố gắng cùng với mọi người làm cuộc kiểm phiếu thật đàng hoàng, đứng đắn. Tôi cũng nói chuyện với các anh chị em thiện nguyện là mình phải làm thật tốt đừng để những gì có thể làm hoen ố cuộc kiểm phiếu, và chúng tôi đã cố gắng làm rõ ràng, minh bạch. Tuy nhiên, vào ngày cuối cùng của cuộc kiểm phiếu, tức là thứ Sáu, khi tôi biết còn bốn thùng phiếu sắp sửa khui, tôi lại có ý nghĩ là mình nên về trước để mình chờ kết quả của ban tổ chức công bố thì hay hơn, vì mình muốn giữ sự khách quan, trung thực nên tôi lẳng lặng về trước, và tôi xác nhận với anh, cuộc kiểm phiếu kỳ này làm rất kỹ lưỡng, cẩn thận, có tới năm người kiểm đi kiểm lại, bất cứ phiếu bất hợp lệ nào cũng được đưa ra để mọi người xem và quyết định nên rất công bằng, minh bạch, không có vụ liên danh này ghi liên danh kia đâu.”
Chiến hữu Phan Bửu Ngọc (Quân nhân TQLC/VNCH): “Tôi tình nguyện tham gia cuộc kiểm phiếu và tôi xác nhận đây là cuộc kiểm phiếu được tổ chức chu đáo, minh bạch, công bằng, tôi không thấy có điều gì nghi ngờ Ban Tổ Chức Bầu Cử và Giám Sát Bầu Cử.”
Cô Ngọc Ân (XNV Little Saigon Radio & Hồn Việt TV): “Kiểm phiếu rất khoa học, minh bạch và chính xác. Mỗi lá phiếu được qua ba lượt kiểm soát để được xác định là hợp lệ. Các thiện nguyện viên hăng say và vui vẻ kiểm phiếu trong cả ba ngày.”
Chúng tôi cũng hỏi ông Nam Hà, liệu sau khi công bố kết quả có ổn không hay sẽ có liên danh phản đối, khiếu nại, đòi đếm phiếu lại? Ông Nam Hà cho biết, “Chuyện khiếu nại sau bầu cử thì cả ở Mỹ cũng có. Nhưng theo tôi, lời khiếu nại đó phải được đưa ra cho mọi người biết, đánh giá xem lời khiếu nại có xác đáng không rồi Ủy Ban Bầu Cử và Giám Sát Bầu Cử mới quyết định. Ngoài ra, tôi cũng muốn nhắn gửi đến các liên danh thất cử, kỳ này mình không đắc cử thì kiên nhẫn chờ ba năm nữa, và phải xem mình khuyết điểm ở chỗ nào? Có làm mất lòng tin của cử tri không, và có vận động đúng mức chưa? Chứ đừng vì thất cử rồi lại gây xáo trộn cộng đồng, mất đoàn kết thì sau này chắc chắn không ai bỏ phiếu cho, dù có ra ứng cử bất cứ chức vụ nào.”
Ông Phạm Văn Thuận (cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia VN): “Tôi cũng đến làm thiện nguyện để kiểm phiếu, làm cật lực trong ba ngày và thấy rất là công bằng, minh bạch, ban kiểm phiếu cũng như là ban tổ chức bầu cử kỳ này họ bỏ công sức ra rất là ghê gớm nên hôm nay có kết quả thế này là do lòng dân thôi.”
Bà Mộng Tâm (Cựu Hội Trưởng Hội Cựu Nữ Sinh Trưng Vương): “Tôi thấy ra gánh vác việc Cộng Đồng đúng như người ta nói Ăn cơm nhà vác ngà voi mà không hiểu sao có người lại tranh giành nhau đến nỗi dùng những từ hạ cấp để xỉ vả nhau, nhưng nay mọi chuyện bất hòa, xáo trộn cũng đã qua, ai là người như thế nào đã lộ diện rồi, và đồng hương chúng ta đã rất sáng suốt trong việc lựa người đại diện cho mình, nên tôi mong hai liên danh thất cử đừng nản lòng, nếu muốn thực tâm phục vụ cộng đồng thì hãy chấp nhận kết quả bầu cử và đoàn kết với liên danh thắng cử, để cho cộng đồng này yên ổn, lo chuyện quan trọng hơn, cấp thiết hơn, là tranh đấu, hỗ trợ người dân trong nước, lật đổ chế độ độc tài Cộng Sản, thế mới gọi là có tinh thần phục vụ cộng đồng.”

Những hình ảnh xưa hiếm Nhà Thờ Phủ Cam

Những hình ảnh xưa hiếm Nhà Thờ Phủ Cam do cha Allys xây dựng trong 5 năm từ nằm 1898 cho tới năm 1902 mới hoàn thành, chắc chắn rất nhiều người không biết còn khu vực phía sau nhà thờ Phủ Cam xưa kia cách đây hơn 100 năm trước là nghĩa địa, bây giờ là khu dân cư phường Trường An, nếu ai không tin cứ tìm hiểu khu vực này sẽ biết nhé.
Nhà thờ chính tòa Phủ Cam là nhà thờ chính tòa của Tổng Giáo phận Huế, tọa lạc trên đồi Phước Quả, thuộc địa phận phường Phước Vĩnh, thành phố Huế, đây là một trong những nhà thờ to lớn, nổi tiếng và lâu đời nhất tại Huế.
Nhà thờ vẫn giữ nguyên với kiến trúc cổ xưa này cho đến năm 1967 được xây lại với bản thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ ,và từ đó cho tới nay nhà thờ vẫn còn giữ theo lối kiến trúc hiện đại do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế, vào thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa nhà thờ Phủ Cam có vinh dự được xuất hiện trên các con tem của Việt Nam Cộng Hòa, còn cây Cầu trên Đại lộ Giám mục Adran qua rạch Phủ Cam ngày nay là sông An Cựu và Đại lộ và cây cầu này là đường lên nhà thờ Phủ Cảm nơi linh mục Eugène ALLYS (1852-1936) là cha sở, sau này Cha Eugène Allys đã trở thành vị Giám mục thứ 5 cai quản Giáo Phận Huế (1908-1931).
=> Lịch sử Nhà Thờ Phủ Cam.
Theo sử sách năm xưa vào thế kỷ 17, dưới thời các chúa Nguyễn, “Phủ Cam” (府 柑) vốn là một phủ, là chỗ ở của các hoàng tử, thời gian đó, đa số các nhà thờ Công giáo ở Huế chỉ là những nhà nguyện đơn giản với sườn gỗ, mái tranh, khi các vua chúa Việt Nam hạ lệnh cấm đạo gay gắt thì chúng bị triệt hạ đi.
Vào năm 1860 khi những người Pháp đặt chân tới và dưới thời Pháp thuộc, các nhà thờ được xây dựng trở lại và dần được nâng cấp thêm khang trang, bề thế và Nhà thờ Phủ Cam là một trường hợp như vậy.
Năm 1682, linh mục Langlois cho xây dựng nhà nguyện Phủ Cam bằng tranh tre tại xóm Đá, sát bờ sông An Cựu, hai năm sau, linh mục đã cho triệt giải nhà nguyện này và mua đất trên đồi Phước Quả để xây dựng một nhà thờ to lớn hơn và kiên cố bằng đá, lúc đó nhà thờ quay về hướng Tây, đó là một công trình to lớn, chắc chắn và được chúa Nguyễn Phúc Tần thán phục, nhưng đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu, vào năm 1698, ngôi nhà thờ ấy bị triệt giải hoàn toàn.
Sau đó 2 thế kỷ, vào năm 1898, Giám mục Eugène Marie Allys (Giám mục Lý) đã cho xây mới Nhà thờ Phủ Cam bằng gạch, mái lợp ngói khá đồ sộ ở vị trí cũ nhưng mặt quay về hướng Bắc, công trình này do chính Giám mục thiết kế và giám sát thi công đã hoàn thành vào năm 1902, cho đến năm 1960, sau khi Giáo phận Huế được nâng lên hàng Tổng giáo phận và Tổng Giám mục Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục từ Vĩnh Long về nhận chức Tổng Giám mục Huế, ông đã cho phá hủy toàn bộ nhà thờ Phủ Cam cũ và khởi công xây cất Nhà thờ chính tòa mới với đồ án do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thực hiện.
Tuy nhiên nhà thờ mới đã không kịp hoàn thành vì đầu năm 1963, nhà thờ mới bắt đầu được khởi công xây dựng, trong khi việc xây dựng đang tiến hành thì xảy ra cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 hai anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị sát hại và Tổng Giám mục Ngô Đình Thục lúc đó đang đi họp Công đồng Vatican II bên Roma, vì hoàn cảnh chính trị không trở về Việt Nam, việc xây dựng cũng bị chững lại, cho tới thời Đệ Nhị Cộng Hòa của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu việc xây dựng mới được tiến hành song tiến độ cho tới năm 1967 nhà thờ mới lên được phần cung thánh thì trong sự kiện Tết Mậu Thân 1968, bom đạn đã làm hư hại phần lớn công trình kiến thiết nhà thờ.
ST

Việt ngữ trong môi trường tiếng Anh - Ts. Lê Thiện Phúc

Ngày nay khi sự giao tiếp lan rộng đến nhiều quốc gia trên thế giới trong nhiều lãnh vực khác nhau thì nhu cầu chuyển ngữ bắt đầu lan rộng trong môi trường tiếng Anh như ở Mỹ, Úc, Canada và Anh Quốc khi người Việt có mặt khá đông đảo tại các quốc gia nầy.
Việc chuyển ngữ từ tài liệu viết bằng chữ Việt sang chữ Anh khá phổ thông và cần thiết khi người ta thiết lập các hồ sơ liên quan tới người Việt tại các quốc gia nói tiếng Anh như vừa nêu. Về phương diện ngôn ngữ học thì cái giá trị hay phẫm chất của một bản dịch dựa vào phẫm chất của cả hai ngôn ngữ gốc (Việt) và ngôn ngữ dịch (Anh) mà người dịch cần phải am tường cả hai ngôn ngữ.
Sau nhiều năm nghiên cứu về ngôn ngữ học và kinh nghiệm trong ngành phiên dịch Việt – Anh, tôi xin nêu ra đây nhận xét về tình trạng viết chữ Việt trong môi trường tiếng Anh; nghĩa là tài liệu Việt ngữ dùng trong môi trường tiếng Anh như sau:
Một cách tổng quát trong tài liệu Việt ngữ, ý tứ trình bày không có thứ tự rõ ràng, với nhiều đoạn hay nhiều câu không có liên quan tới chủ đề nên không cần phải viết. Thí dụ khi nói về sự quan hệ giữa hai người thì không cần phải mô tả về thời tiết nắng mưa! Khi trả lời một câu hỏi, người Việt mình thường có thói quen không trả lời trực tiếp mà hay đi lòng vòng theo kiểu nhập đề luân khởi! Đây là một điều tối kỵ trong văn hóa tiếng Anh.
Về cách viết tên họ của người Việt mình cũng rất phức tạp, nếu không khéo sẽ gây ra nhiều ngộ nhận đáng tiếc. Thí dụ trong một bức thư diễn tả về mối quan hệ vợ chồng của một người bạn, thay vì viết bình thường Nguyễn Thị Kim Thúy thì lại viết Thúy Kim Thị Nguyễn! Trong chữ Việt đâu có khi nào người ta viết ngược ngạo như vậy, nhưng người viết có lẽ vì nghe đồn lỏm bỏm đâu đó nghĩ rằng trong thế giới tiếng Anh người ta hay viết ngược ngạo như vậy nên khi viết một văn bản chữ Việt họ cũng bắt chước viết ngược như vậy! Thực ra dù viết để dùng trong môi trường tiếng Anh khi viết tên người Việt một cách trọn vẹn, có lẽ an toàn nhất là ta viết theo thứ tự bình thường “Nguyễn Thị Kim Thúy”. Kể cả khi dịch sang tiếng Anh cũng nên viết theo thứ tự như vậy mặc dù không bỏ dấu – Nguyen Thi Kim Thuy, không cần phải lo cho người đọc không biết chữ nào là tên, chữ nào là họ; bởi vì họ có cách tham khảo để biết khi họ muốn biết chắc tên họ của một người Việt. Thật ra trong tiếng Anh khi người ta viết tên của một người thì viết tên trước (first name) rồi mới tới họ (surname), còn mấy chữ lót thì viết tắt một chữ thôi, thí dụ Thuy Nguyen T. K.
Trong mấy năm gần đây, hay nói đúng hơn là từ sau năm 1975 khi chế độ cộng sản khống chế toàn cõi đất nước Việt Nam, cách viết chữ Việt dần dần thay đổi kèm theo một số từ ngữ nghe rất chỏi tai đặc biệt là đối với người dân miền Nam; ví dụ như người ta thay chữ ph bằng f như trong chữ “phải” thì người ta viết là “fải”. Chữ y thì thay bằng chữ i và ngược lại như trong chữ bác sĩ thì người ta viết bác sỹ. Thanh Thúy nếu thay chữ y bằng chữ i thì nó thành ra Thanh Thúi ! Chưa hết một số danh từ riêng như Nhà thương Tử Vũ thì người ta đổi thành “xưởng đẻ”, máy bay trực thăng thì họi gọi là máy bay lên thẳng, thủy quân lục chiến thì gọi là lính thủy đánh bộ v.v.
Thôi thì khi người ta nắm quyền lực trong tay rồi thì mặc sức thay đổi dù nghe rất chỏi tai khi chưa quen. Tệ hại hơn nữa ngay cả cái tên nước của người ta mà họ còn tự ý thay đổi như Australia thì đổi thành “Ô-Xì-Trây-Lia”. Đây là một cách làm rất bỉ ổi và dốt nát vì khi đổi như vậy thì không còn ai biết đó là nước nào! Nếu muốn Việt hóa tên nước của người ta thì đã có sẵn là Úc hay Úc Đại Lợi đã có từ thời xa xưa rồi, mặc dù cái tên Australia thì không cần phải thay đổi gì hết cho dù là khi viết một văn thư bằng chữ Việt đi nữa; bởi vì không ai có quyền đổi tên của người khác hay của một quốc gia khác cả.
Khi viết một bản văn ta cần nên để ý một điều là mình đang chuyển gởi ý tưởng của mình cho người đọc hiểu qua hình thức chữ Viết. Cho nên ta phải luôn luôn cẩn thận trong việc chọn chữ cho thích hợp; nếu không người đọc sẽ hiểu sai ý của ta thì không hay lắm! Cũng tương tự như vậy, người dịch cũng phải cân nhắc chọn chữ thích hợp để chuyên chở đúng cái ý của người viết trong ngôn ngữ gốc (Việt). Nên lưu ý rằng chữ viết là vật vô tri mà ta muốn dùng nó để làm nhiệm vụ chuyên chở hay diễn đạt cái ý của ta. Trong trường hợp nầy người dịch cần phải có đủ khà năng hiểu ý chứa trong ngôn ngữ gốc (Việt) lại còn phải có đủ khả năng chuyển tải cái ý gốc đó qua ngôn ngữ dịch. Trong cả hai trường hợp chọn chữ thích hợp và chính xác là một điều tối cần thiết đối với người dịch.
Khi viết một văn thư bằng Việt ngữ để dùng trong môi trường tiếng Anh như khi viết một bức thư lên ông Bộ Trưởng Di Trú chẳng hạn, người viết nên cố gắng viết cho có thứ tự mạch lạc, rõ ràng. Phải biết cân nhắc không viết ngoài vấn đề mà mình muốn nêu lên. Nên nhớ là phải biết rõ ràng mình muốn nêu ra điều gì rồi chọn từ ngữ cho chính xác mà dùng. Có như vậy người dịch mới dễ nắm vững cái ý của mình để đạt trong tiếng Anh được.
Người viết một văn bản bằng chữ Việt thường không rành tiếng Anh nên không cần phải nghĩ tới cách viết theo kiểu tiếng Anh làm gì (như trong trường hợp viết tên đảo ngược nêu trên). Nếu mình cảm thấy không tự tin về cách viết một bản văn mạch lạc bằng chính chữ Việt của mình thì không cần phải tự ái hay cố chấp mà viết bản văn ấy mà nên nhờ người có khả năng hay nhờ người dịch viết cho mình càng tốt hơn.
Một tệ trạng thông thường nhất mà tôi nhận thấy qua các văn bản chữ Việt dùng lãnh vực di trú. Người viết một bản tường trình về mối quan hệ giữa hai người thường không hiểu là có sự khác biệt giữa văn hóa Việt và văn hóa Anh Ngữ cho nên cách trình bày một vấn đề cũng khác nhau. Trong văn hóa Anh Ngữ thì người ta trình bày trực tiếp khi muốn bày tỏ một ý tưởng nào đó, chớ không nói lòng vòng như trong văn hóa Việt của mình. Muốn nắm rõ hơn về cách trình bày một văn bản bằng Việt ngữ thích hợp trong môi trường Anh Ngữ thì người viết phải luôn luôn suy nghĩ xem cái ý chính của mình muốn trình bày là gì để từ đó tìm từ ngữ thích hợp mà dùng. Không nên viết những câu thừa thải, không đi lạc đề mà phải tập trung vào ý chính mà mình muốn trình bày.
Trên đây chỉ là một số ít ý kiến cá nhân, đưa ra trong phạm vi hiểu biết giới hạn của tôi trong lãnh vực ngôn ngữ, một lãnh vực rất bao la và phức tạp bởi vì nó liên quan diễn biết tư tưởng con người. Ngoài ra, ngôn ngữ còn là một phần của văn hóa, vốn dĩ vô cùng phúc tạp và rất khó định nghĩa một cách chính xác. Tuy nhiên, một cách đơn giản, tôi có thể nói rằng văn hóa là giá trị tinh thần do con người tạo ra và áp dụng qua hành động thực tiễn qua thái độ, ngôn ngữ, và biểu hiện cảm xúc theo từng giai đoạn thời gian và hoàn cảnh thực tế chung quanh.
Sau cùng tôi muốn xin nhất mạnh ở đây là trong ngôn ngữ không có chuyện đúng hay sai, bởi vì thể hiện của ngôn ngữ nói hay viết là bắt nguồn từ tư tưởng của con người; vậy thì người nghe hay người đọc làm sao biết được cái diễn biến trong tư tưởng của người khác như thế nào mà có thể đánh giá là đúng hay sai ! Nếu nói sự đánh giá sự thể hiện ngôn ngữ của một người căn cứ vào kiến thức hay sự hiểu biết cá nhân của mình thì lại là một điều hoàn toàn thiếu khách quan, và không có gì chắc chắn cả, bởi vì kiến thức hay sự hiểu biết cá nhân của một người là cái gì? Và lấy gì bảo đảm nó hoàn hảo?
Tôi xin nêu ra các câu hỏi nầy nhằm mục đích khuyến khích mọi người suy gẫm và thận trọng khi phê phán đúng hay sai trong sự thể hiện ngôn ngữ của người khác vậy. Ước mong chúng ta có một diễn đàn hay những cuộc hội thảo về “Việt ngữ trong môi trường tiếng Anh” để chúng ta có cơ hội bàn thảo rộng rải thêm.
Ts. Lê Thiện Phúc chuyển

MỘT CUỐN SÁCH ĐẦU TIÊN CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH MIỀN NAM ĐƯỢC LƯU TRỮ NHƯ TÀI LIỆU LỊCH SỬ CỦA THÊ KỶ 2O - SAU HƠN MỘT THẾ KỶ SÁCH BÁO CỘNG SẢN, THIÊN TẢ ĐỘC CHIẾM DIỄN TRƯỜNG VĂN HÓA TÂY ÂU , CỤ THỂ Ở PHÁP.

Thân gởi Cô Giáo Trương T. Liễu
Trong hoàn cảnh đất nước đang trên đống lửa, nói chuyện sách vở quả là một điều bất cập. Nhưng tôi xin được ngõ lời chân thành cám ơn ĐẾN CÔ GIÁO TRƯƠNG T. LIỄU sau một thời gian dài nhiều năm, tháng làm việc trong lặng lẽ, cách biệt toàn diện, Cô Giáo đã hoàn thành bản dịch cuốn sách mà quả thật bản thân tôi (cũng có thể đối với nhiều người dân Miền Nam) hầu như đã quên đi trong khổ nạn chung quá lớn của Miền Nam/Của cả VN sau 1975 (Càng cụ thể tại hôm nay, qua thế Kỷ 21) - Một bản dịch tuyệt hảo mà ban tuyển chọn của L'Harmattan đã hoàn toàn đồng thuận, không phải sửa một lỗi nhỏ nào về văn phong (bản dịch thuật) và văn ý (nội dung nguyên bản) . Cụ thể nay Nhà Xuất Bản đã có lời giới thiệu trang trọng trên hệ thống net toàn cầu - MỘT CUỐN SÁCH ĐẦU TIÊN CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH MIỀN NAM ĐƯỢC LƯU TRỮ NHƯ TÀI LIỆU LỊCH SỬ CỦA  THÊ KỶ 2O - SAU  HƠN MỘT THẾ KỶ SÁCH BÁO CỘNG SẢN, THIÊN TẢ ĐỘC CHIẾM DIỄN TRƯỜNG VĂN HÓA TÂY ÂU , CỤ THỂ Ở PHÁP.  
Xin được phép thay mặt Người Lính Miền Nam, những người Miền Nam đã hứng đủ khổ nạn chiến tranh trong Mùa Hè 1972 gởi đến cô Lời Cám Ơn Chân Thực. Nhờ cô chuyển tới NHà Xuất Bản L'Harmattan lời cám ơn nầy do không phải đã in, phổ biến một cuốn sách - Nhưng chuyển đến độc giả Pháp, người nơi Tây Âu, trên thế giới nhận biết, hiểu thấu khổ nạn của Người Việt Nam-Người dân VNCH. 
Kính thư, 
Người Lính QLVNCH Phan Nhật Nam.        
2018-07-25 13:48 GMT-07:00 Thi Lieu TRUONG <lieu_truong@hotmail.com>:

 Chers lecteurs,
Nous sommes heureux de vous présenter cet ouvrage.
Bonne lecture.
ÉTÉ EMBRASÉ (UN) Mémoire de guerre d'un officier de l'armée - de la République du Viet Nam
L’effondrement du Sud, marqua la fin de la guerre du Viêt Nam. Auparavant avaient eu lieu des batailles d’une grande ampleur et d’une atrocité poignante. Un été embrasé est le témoignage d’un officier sud-vietnamien, Phan Nhât Nam, qui relate les grandes batailles de l’été 1972, celle de Charlie-Kontum, d'An Lôc et de Tri-Thiên. Ce témoignage révèle un monde d’horreurs et de souffrances et rend hommage au sacrifice et à l’héroïsme de soldats qui croyaient en leur idéal.
264 pages • 26 €
EAN : 9782343143200
L'Auteur
Phan Nhât Nam est né en 1943, au Centre Viêt Nam. Officier de l'Armée de la République du Viêt Nam, il sert dans le corps de parachutistes. Sa carrière militaire de 14 années est suivie d'une captivité de 14 années dans les camps de rééducation communistes. Libéré, il choisit le chemin de l'exil et arrive aux États-Unis en 1993. Auteur d'une quinzaine d'ouvrages, il continue à consacrer son temps à l'écriture, animé par le désir de témoigner de la souffrance du peuple vietnamien à l'époque contemporaine.

Cô Nhíp (Cao Thị Nhíp – cách mạng thì gọi cô là Nguyễn Trung Kiên), tên thật, người thật, việc thật (có nhiệm vụ dẫn xe tăng của phe Cách Mạng vào Sài Gòn) giờ cô ở đâu?




Cô Nhíp (công dân Mỹ) hiện nay định cư tại Nam Cali US *
Ngày 29/4/1975, xe tăng của Phe Cách Mạng đã vào đến cửa ngõ Sài Gòn theo hướng Tây Bắc. Trên xe có một cô gái trẻ, xinh đẹp, đầu đội mũ tai bèo, dẫn đường.
Sau này, đạo diễn Nguyễn Trí Việt của Hãng phim Giải Phóng đã dựa vào hình tượng đó để dựng thành phim: Cô Nhíp!
 
Cô Nhíp (Cao Thị Nhíp – cách mạng thì gọi cô là Nguyễn Trung Kiên), tên thật, người thật, việc thật (có nhiệm vụ dẫn xe tăng của phe Cách Mạng vào Sài Gòn) giờ cô ở đâu? Sau khi hoàn thành nhiệm vụ cao cả đó, cô được gì? cô làm gì? cô ra sao?

Trả lời: cô Nhíp đã qua Mỹ sống từ lâu. Cô đã mang quốc tịch Mỹ với tên họ khác. Một khoảng đời với cái tên Nhíp trước đây, cô đã tự chôn vùi.
 
Mùa hè cách đây vài năm, ở thành phố Garden Grove, Nam California, tôi gặp lại Nhíp. Vẫn xinh đẹp như xưa nhưng khi được hỏi về ngày 29/4/1975, Nhíp trả lời: “Tôi đã quên rồi. Quên lâu lắm rồi”.
Một buổi sáng thượng tuần tháng 10 năm ngoái, “Cô Nhíp” đến nhà thăm tôi khi vừa từ Cali về lại VN.
Tôi và nó là đôi bạn thân trước khi nó rời bỏ Sài Gòn để đến nước Mỹ xa xôi và trở thành cư dân ở đó.
Bốn mươi năm “Cô Nhíp” năm xưa đã mất dấu thật rồi. Chỉ còn đây, một người Mỹ gốc Việt.
Chuyện gì đã xảy ra vậy? Sử sách sẽ ghi chép thế nào đây? Cả tôi lẫn nó đều không ai nhắc về “Cô Nhíp” với chiếc xe tăng từ Củ Chi tiến về Sài Gòn cách đây 40 năm, về cái chuyện nó rời bỏ VN và quên đi quá khứ “hào hùng” của nó.
Có nỗi xót xa không thể nói thành lời.
Sưu tầm.

Thư Mời tham dự họp báo của tổ chức VOICE và LS Trịnh Hội


Tuesday, July 24, 2018

Phim bị cấm “Mẹ Vắng Nhà” sẽ chiếu tại báo Người Việt

https://www.nguoi-viet.com/phong-van/phim-bi-cam-vang-nha-se-chieu-tai-bao-nguoi-viet/?utm_source=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di+Vi%E1%BB%87t+Newsletter&utm_campaign=ecd69205c6-&utm_medium=email&utm_term=0_cf5f0a479c-ecd69205c6-165949881

Phim bị cấm “Mẹ Vắng Nhà” sẽ chiếu tại báo Người Việt

Trân trọng kính mời quý độc giả đến xem phim "Mẹ vắng nhà" để ủng hộ tinh thần Mẹ Nấm, người phụ nữ dũng cảm đang bị kêu án 10 năm tù giam vì đấu tranh cho tự do dân chủ. Buổi chiếu phim sẽ diễn ra vào lúc 5 giờ chiều thứ bảy ngày 28 tháng 7 năm 2018 tại nhật báo Người Việt, 14771 Moran St, Westminster, CA 92683.

Thursday, July 19, 2018

Cái học ngày nay… Phạm Sanh PBC72



Mùa hè năm nay không còn khói lửa như 72, nhưng chuyện thi cử thì vẫn còn mùi bom đạn. Trước 75, sợ rớt tú tài anh đi trung sỹ... Sau 75, đậu tú tài điểm phải thật cao để vào trường công an quân đội, đặng ra trường còn ăn trên ngồi trước. Thế thời, thời thế, nhiều chuyện trớ trêu.
Nhớ thời xa xưa, hễ chút là thi, mẫu giáo tiểu học, trung học đệ nhất cấp đệ nhị cấp, tú tài 1 tú tài 2…, cứ tốt nghiệp chuyển cấp là thi tuốt, thi túi bụi. Nghe kể, mấy “sư phụ” đi trước, còn phải ra tận Nha Trang thi, vào tận Sài Gòn học (nếu nhà có tiền). Sau, giảm dần, thời 72 đã bỏ thi đệ nhất cấp cuối năm đệ tứ, 74 bỏ thi tú tài 1 và tú tài 2 bắt đầu thi trắc nghiệm. Sau 75, cũng chỉ một kỳ thi “tú tài”, ngoài Bắc chỉ học 10 năm, làm gì có tú 1 tú 2. Nhưng vào cao đẳng đại học thì ác liệt hơn, không còn các trường chỉ cần ghi danh để học như Khoa học, Văn khoa, Luật khoa… thuở nào. Xuất hiện khái niệm cộng điểm uu tiên cho một số thành phần “phe mình”, loại bớt không thương tiếc thành phần “phe ngụy”. Tuy vậy, các trường trung học trong Nam vẫn còn nhiều em học sinh giỏi, tuy phải chịu đựng khổ sở đủ điều.
Mấy năm sau này, trường đại học mọc lên như nấm, Phan Thiết cũng có trường đại học Phú Hài do một tay chủ nhà hàng ở Sài Gòn ra xin đất làm khách sạn resort và chơi luôn mở trường đại học cho nở mặt nở mày đám lờ đờ rừng về. Trường nhiều, thày cô dạy trên trời dưới đất, sinh viên ra trường đông, thất nghiệp là cái chắc. Sân trường đại học vắng như chùa bà Đanh, không còn mấy em để mà trả lại. Chỉ một số trường có tiếng từ lâu như y khoa, bách khoa thì còn trụ. Hay các trường tốt nghiệp ra luôn có ghế không sợ đói như công an quân đội thì còn hấp dẩn đám con ông cháu cha. Bộ giáo dục bày ra trò thi 2 trong 1, lấy điểm thi tốt nghiệp phổ thông để xét tuyển vào đại học, thế là bắt đầu rối. Điểm thi ngoài Bắc cao vút trời, 3 môn 27 điểm (mỗi môn 9 điểm), vẫn chưa chắc vào được các trường “hot”. Vẫn chưa hiểu được tại sao các em học sinh phía Bắc đột xuất giỏi quá…
Năm này, cắc cớ đề thi khó. Khó đến nỗi mấy ông giáo sư tiến sỹ toán ngoài bắc giải đề thi vẫn không kịp giờ. Ấy vậy mà, kết quả vẫn có nhiều đứa điểm 10, lại toàn mấy đứa học ngu của mấy tỉnh trên núi bé xíu xa lơ xa lắc như Hà Giang, Sơn La, Lạng Sơn, Hòa Bình, Tuyên Quang…, qua mặt đàn anh Hà Nội, TpHCM hay vượt cả các xứ hiếu học nổi tiếng như Nam Định, Nghệ An, Khánh Hòa (không có Bình Thuận đâu mà tìm, lãnh đạo CA tỉnh ta sắp về hưu mà tự mình thấy còn “ngu ngu”, cùng cả đám lờ đờ, xin qua Đức học kinh nghiệm lấp biển Phan Thiết đặng có điều kiện dâng đất cho nhóm tiểu gia mua bán vật liệu xây dựng Trường Phúc Hải nào đó ở tận hốc cà tó đất Sài Gòn…). Gian mà không khôn chút nào, làm gì mà trong số 11 đứa cao điểm nhất nước thì Hà Giang đã có đến 3, làm gì mà số học sinh có điểm toán trên 9 của Sơn La lại gấp 3 Hà Nội gấp 7 Sài Gòn. Ăn vụng quên chùi mép, hài kịch lộ ra từ từ…
Trò thi trắc nghiệm chấm bằng máy, giao cho địa phương tổ chức thi, có kiểm soát thanh tra của bộ giáo dục, của CA, của thày cô các trường đại học…, mỗi năm tốn vài trăm triệu đô la, năm nào cũng báo cáo thành công vượt sức tưởng tượng, nay lòi chành toàn bịp bợm dối trá. Quy trình thủ tục, software nào hay đến đâu chính xác cách mấy cũng từ con người và đều do con người quyết định. Vụ gian lận điểm thi Hà Giang, tên Vũ Trọng Lương nhưng bất lương vô đạo là chính, sửa 300 bài thi chỉ mất 2 tiếng đồng hồ, cứ 6 giây một bài,  bằng cách đánh vào lỗ hổng các công nghệ thi cử 4.0 soạn ra bởi các cái đầu gian tham ngu dốt 0.4… Tất nhiên không thể nào chỉ một mình tay bất lương này làm được chuyện động trời, cũng không vì động cơ say mê công nghệ hay chạy theo đồng tiền. Con gái bí thư tỉnh ùy Hà Giang cũng bị nằm trong danh sách nâng điểm, dù thằng bố bí tuyên bố dỏng dạc với bàn dân thiên hạ, không biết không hề chỉ đạo và thật buồn khi nghe chuyện này, lếu láo hết cở. Phải điểm cao vút mới được vào trường an ninh trường tốp 1, mới đi học nước ngoài bằng tiền dân è cổ nộp thuế, mới tiếp tục ngồi vào cái chỗ bố mẹ ông  nội ông cố đã ngồi. Hồng phúc đại hồng phúc, đại họa đại đại họa.
Thế hệ lờ đờ sau 75, rừng núi dang tay, dốt một chút nhưng cũng còn kể công. Thế hệ tiếp theo, chưa hề đổ mồ hôi xương máu, nhờ lý lịch 3 đời, ngu nhưng vẫn còn có học. Thế hệ sắp chuyển giao, vừa ngu vừa gian, đếch thèm học, chờ bố mẹ tìm đường cứu… con, sửa điểm thi 1 thành chín mười hoặc đi du học kiếm tấm bằng ngoại quốc cho oai. Khốn nạn cho cái xã hội này, đâu cũng thấy gian dối. Sau 75 thì chơi cái trò không thi mà vẫn vào học Bách khoa Y khoa, nay có đứa làm đến P. Thủ tướng. Giờ thì hiện đại hơn, thi cứ thi, nhưng điểm thì biết trước, có đứa vào máy tính sửa giùm, để còn học trường an ninh, vừa hù dân vừa kiếm vài nghìn tỷ như đám tướng tá CA bị hốt vừa rồi. Không biết chuyện sửa điểm tràn lan cả nước như thế này có giống PA cài Vũ nhôm, bắt TX Thanh… hay không. Đất nước nghìn năm văn hiến thu nhỏ trong mấy cái chùa to đùng, mấy em chân dài lắm mối, mấy anh cán bộ lắm thẻ xanh, mấy đứa bé ốm nhom dạo bán vé số mân mê từng đồng lẻ, mấy lờ đờ môi mỏng. Hết biết.
Cái học ngày nay đã hỏng rồi, mười người đi học chín người thôi… Hỏng thật hay giả hỏng đây, có Trời mới biết. Như mấy ông lờ đờ xứ BT mình, giả ngu đi một chuyến qua Đức học công nghệ hạ tầng lấn biển cướp đất 4.0, ăn chơi hay lượm cục tiền gì đó cuối đời cho sướng. Tin giờ chót, lộ tẩy quê độ, hủy chuyến đi… đứt ruột này rồi.
Nhưng họp mặt uống cà phê của nhóm 72 Sài Gòn do MQ trả tiền thứ bảy cuối tuần này thì vẫn đi đông đủ.
Phạm Sanh, 72PBC