Friday, October 6, 2017

Tình người ở Las Vegas -CVA Nguyễn Ngọc Phúc

Chuyện xẩy ra lúc 10:08 đêm Chủ Nhật ngày 1 tháng 10 ở Las Vegas nhưng tôi chỉ được hay lúc khoảng 10:00 sáng Thứ hai khi thức dậy,  bắt đầu ăn sáng và mở computer đọc email bạn bè như  thường lệ mỗi sáng. Có biết đâu rằng trong 12 giờ đồng hồ trôi qua từ đêm Chủ nhật tới sáng Thứ Hai, một chuyện thảm sát đau thương và kinh hoàng nhất của lịch sử đất Mỹ đã xẩy ra ở một nơi, một thành phố được gọi là Sin City trong những Sin City trên thế giới, một thành phố tội lỗi. 
Tội lỗi bởi cờ bạc, đánh cược, dễ dàng kết hôn và dễ dàng ly dị, đĩ điếm, hội quán thoát y, quán rượu mở 24 giờ suốt ngày đêm ở bên cạnh hàng chục sân khấu ăn chơi trình diễn huy hoàng và lộng lẫy nhất thế giới.
Đến nỗi người Mỹ phải thốt lên câu: "What happens in Vegas, Stays in Vegas" nhưng chuyện đêm Chủ nhật lúc 10.08 tối không còn Stays in Vegas.
Tôi đã theo dõi tin tức hai ngày liên tục kể từ lúc tôi được biết vào buổi sáng thứ hai ngày 2 tháng 10 lúc 10.00 sáng, câu chuyện thảm sát đã làm tôi day dứt và buồn bã khi xem tin tức, đọc báo chí, thấy hình ảnh và nghe chuyện kể kinh hoàng của những người thoát qua cơn mưa đạn từ trên trời bay xuống.
Chiến tranh và bom đạn đã là một phần của cuộc đời người tỵ nạn trước năm 1975 ở Việt Nam, chúng ta đã sinh ra, lớn lên và trôi theo dòng đời của khói lửa binh đao mỗi ngày nhưng 10 phút mưa đạn từ trên trời bay xuống với người Mỹ ở một buổi trình diễn âm nhạc đồng quê cho 22 ngàn người xem là một chuyện thật là kinh hoàng và khủng khiếp, một chuyện không ai kể cả người không có mặt ở đó có thể nghĩ đến và tưởng tượng được.
Tôi không là nhân chứng ở hiện trường, tôi không là người tham dự buổi trình diễn và tôi không phải là phóng viên để ghi lại tin tức câu chuyện cho mọi người đọc nhưng tôi là một người yêu quê hương dung thân đất Mỹ này, một quê hương đã cho tôi biết tình người là thế nào chẳng cần phải là người da trắng hay da mầu.
Tôi đã lặng người và nước mắt muốn rơi ra khi nghe câu chuyện kể của những người bên cạnh cái chết của bạn bè, của vợ chồng, của bố mẹ, của anh chị em và kể cả của người xa lạ.
Buổi trình diễn nhạc đang tiếp diễn bỗng nghe có những tiếng nổ như pháo chen lẫn trong tiếng nhạc ca hát ầm ĩ đã làm cho mọi người bắt đầu để ý nhưng không thấy ánh lửa cháy vụt lên như mỗi khi pháo nổ chung quanh.
Trên sân khấu, dù ca sĩ dân ca Jason Aldean vẫn còn ca hát ầm ĩ, họ bớt lắng nghe nhạc bởi các tiếng nổ tiếp tục vang lên cả tràng lạnh lẽo đã khiến họ để ý nhưng vẫn chưa hiểu chuyện gì xẩy ra cho đến khi có một vài người đang đứng bỗng tự dung té đụii xuống như sung rụng và máu me trên đầu hay trên mình đang bắt đầu phun ra.
Mọi người chợt hiểu là không phải tiếng pháo mà là súng bắn.
Hoảng loạn bắt đầu xẩy ra nhưng như bầy cừu ngoan hiền lành, mỗi tràng súng nổ là đám đông nặm bẹp xuống đất và  không biết chạy đi đâu. Mọi người dáo dác tìm xem súng đạn được bắn từ đâu tới.
Một chàng trai trẻ gan dạ nhốn nháo nghĩ rằng nó từ phía sát sân khâu bắn ngược lại khán giả đằng sau, cho nên, đã nhẩy bổ tới phía trước nhưng được vài bước bỗng khám phá ra là hàng trăm người khác đang tìm cách chạy trốn vào dưới gầm sân khấu. Trong khi đó, tiếng đạn bay tới đã va vào sân khấu chát chúa làm anh biết mình đã nghĩ nhầm.
Nó được bắn từ xa tới và ở trên cao nhưng không biết từ hướng nào.
Phippen, ngoài đời là một nhân viên chuyên về cấp cứu và cha cùng đi nghe nhạc. Anh phải nằm sát mặt đất.
Anh nhìn thấy hàng chục người nằm la liệt chung qunh mình bê bết máu trên người mà không ai tiếp cứu. Với tình người và lòng yêu nghề, Phippen đã băng bó vết thương của họ với quần áo sẵn có đang mặc vì không có cái gì trong tay. Chưa kịp xong một người thì cô gái nằm gần cạnh anh bị trúng ngay một phát vào đầu.
Anh tiếp tục bò tới cứu một nguời đàn ông khác to lớn bị thương đang nằm xấp, anh lật ngửa ông ta lại để xem vết thương thế  nào.
Khi nhìn ra thì nạn nhân chính lại là cha mình bị một viên đạn trúng lưng.. Anh tìm cách bịt lỗ đạn với vết thương đang chảy máu bằng ngón tay của mình và kéo cha ra khỏi chỗ hỗn loạn nhưng cuối cùng ra khỏi nơi này thì không kịp nữa. Lúc đó, anh mới biết rằng mình cũng trúng đạn bị thương chảy máu ở tay phải.
Mọi người chạy túa ra mọi hướng ở nơi nào có lối thoát.
Khi cảnh sát ùa đến phía ngoài đường, họ biết có súng nổ nhưng ai bắn và từ đâu? Không rõ.
Theo sách vở, khi gặp người chạy ra, cảnh sát sợ kẻ sát nhận lẫn lộn với người chạy, đã ra lệnh bắt mọi người phải nằm xuống hết ở vỉa hè mặt đường.
Cho đến khi, thấy mọi người chỉ tay lên hướng tòa nhà khách sạn Mandalay Bay Hotel xa xa vì tiếng súng nổ đã đi kèm với ánh sáng lấp lóe từ một vật trên đó, lúc đó, họ mới khám phá ra vị trị của tiếng súng và của kẻ sát nhân.
Mọi người chạy trốn đã túa vào nấp ở bất cứ nơi nào họ có thể vào được như đằng sau các xe tải, sau xe cảnh sát, trong hầm lạnh của hotel, trong thùng lạnh của xe tải hay trong các quán ăn nhà hàng khác.
Còn người bị thương chay ra ngoài  bằng đủ mọi cách được xe cứu thương, xe cảnh sát, xe taxi, xe của mình, xe người quen, xe bạn bè  hay xe của bất cứ ai cho lên xe chở đến bệnh viện cấp cứu.
Có biết đâu rằng ở lại hiện trường, tất cả nạn nhân bị thương nặng hay chết vẫn đang được một số người trẻ còn sống sót rất can đảm và đầy tình người đang tìm cách khiêng hay mang họ ra khỏi chỗ nguy hiểm bằng mảnh hàng rào dùng làm cáng, bằng xe 1 bánh đẩy làm xe khiêng, bằng tay chân bồng bế cõng vịn để dìu đưa .
Họ vẫn lo và vẫn ở quanh đó để giúp đỡ  khiêng người, không bỏ ai lại.
Xe cứu thương và nhân viên cấp cứu chưa xuất hiện kịp vào lúc này.
Tại bệnh viện, nạn nhân bị thương đã tràn ngập quá sức chịu đựng của phòng ốc và nhân viên..
Từ ngoài xe chở tới cho đến hành lang và phòng ốc giường gối đã bê bết máu đỏ ở khắp nơi. Từ phòng trống, phòng riêng biệt tới phòng cấp cứu hay bất cừ phòng nào ngay cả hành lang bệnh viện, nơi có thể  để cái giường là đã được xử dụng tất cả.
Ngoài nhân viên y tá và bác sĩ ca trực làm việc, họ còn gọi thêm nhân viên tan sở hết giờ trở lại làm việc vào tăng cường. Đó là không kể những y tá, nhân viên y tế chuyên môn và bác sĩ ở xa đến Las Vegas chơi đã xuất hiện và tình nguyện làm việc giúp đỡ với bệnh viện không điều kiện và không khẩu trang hay dụng cụ chuẩn bị trước.
Bác sĩ chuyên khoa mổ, Dr. Jay Coates, đã bắt tay vào làm việc ngay từ lúc 11.00 giờ đêm. ông  đã làm việc mổ liên tục trong 6 tiếng đồng hồ không ngừng đến độ ông nói: " Tôi không biết bệnh nhận tôi mổ là ai vậy"
Nhiều bệnh nhận bị thương, nhiều người đã chảy máu và nhiều bệnh nhân phải mổ, tiếp máu là một vấn đề khẩn cấp cần có tức thời.
Cần máu là cần người hiến máu. Lời kêu gọi đã được loan ra. Từ lúc loan tin buổi tối, một dòng người đã đáp lại lời kêu gọi và sẵn sàng ngồi lên ghế cho máu đến độ, bệnh viện không còn đủ bịch máu trống để lấy máu hiến.
Lời kêu gọi đó kéo dài từ nửa đêm cho tới sáng ngày hôm sau đã được đáp ứng bằng một hàng dài người đứng ở ngoài vỉa hè bệnh viện vẫn còn tiếp diễn nối đuôi nhau để hiến máu.
Họ lặng lẽ bình tâm kiên nhẫn đứng chờ tới phiên mình cho máu dù chưa biết bao lâu .
Không phải chỉ có bệnh viện, nhân viên y tá, bác sĩ của bệnh viện hay nhân viên y ta bác sĩ tình nguyện và người hiến máu có mặt để cứu chữa người bị thương, buổi sáng hôm sau, đã xuất hiện thêm các xe bán hàng và đồ ăn đến đậu trước bệnh viện để tự nguyện cung cấp đồ ăn miễn phí cho mọi người từ nhân viên bệnh viện cho tới bệnh nhân và người hiến máu.
Với tôi, có quá nhiều chuyện không thể kể hết được và cũng không biết phải kể chuyện gi cho mọi người nghe về cái tình người tôi được nhìn thấy, xem thấy, đọc thấy, hiểu được đã và đang xẩy ra trong gần 2 ngày vừa qua.
Nhưng có lẽ cũng đủ để tôi muốn rơi nước mặt về giọng kể chuyện bên cạnh cái chết của những người đã đi qua. Họ là hai người trai trẻ và hai cô thiếu nữ.
Họ xúc động kể lại giọng đứt đoạn ngập ngừng và hãi hùng về câu chuyện của chính họ, của bạn bè, của vợ chồng hay người xa lạ chung quanh.
Họ đã nói trong nước mắt chẳng cần phải kể là người đàn ông hay đàn bà, con trai hay con gái.
Đôi vai họ run lên và tiếng nói của họ lịm đi nhỏ lại khi phải kể những gì họ thấy và những gì họ làm mà trong cuộc đời của họ, chuyện chưa bao giờ  xẩy ra đến độ họ không tìm được chữ để diễn tả.
Trên màn ảnh TV phỏng vấn, bốn người trẻ 2 nam 2 nữ đã phải nắm tay nhau để chia xẻ được nỗi khổ với nhau và để họ có đủ can đảm vượt qua được nỗi đau này cho dù nó không bị chảy máu nhưng lại là một vết thương của cuộc đời.
Họ đã nắm tay nhau để được tiếp máu cho nhau.
Tất cả câu chuyện dài đó chỉ mới bắt đầu nhưng hình như đã đủ cho tôi thấy được một điều ở cuối đường và tìm được một kết luận.
Câu chuyện thật rất đơn giản và dễ hiểu. Nó được viết ra không có sửa soạn, không có xếp đặt, không chuẩn bị và không cần phải có điều kiện.
Nó không cần phải được kêu gọi hay nói trước bởi khi tôi viết đến những dòng chữ cuối cùng của câu chuyện, tôi chỉ nhớ một hình ảnh nó đã đến với tôi ngay từ đầu và ở lại với tôi vào phút cuối.
Ngày xưa, lúc còn bé được đi học và cho đến lúc ra đời, tôi chưa hề bao giờ được nghe và được biết đến hai chữ Vô Cảm là gì?
Trong câu chuyện này, tất cả mọi người tôi nhìn thấy đều là những tuổi trẻ của nước Mỹ, những thanh niên và những thiếu nữ, những người chỉ mới bước chân vào đời nhưng có  một trái tim thật đầy tình người.
Và như vậy, họ chắc không bao giờ biết đến và nghe đến chữ Vô Cảm là gì.
Đấy là một kết luận thật hạnh phúc.

CVA Nguyễn Ngọc Phúc

PBC Hội Ngộ 2012 Nam California Videos

PBC Hội Ngộ 2012 Nam Calofornia 7/7/2012 Phần Tiếp Tân Video Phần 1 Video Phần 2 Video Phần 3 Video Phần 4 Xa Trường PBC72 Hội Ngộ tại Phan Thiết

Thursday, October 5, 2017

Một Thời Bên Phố - Cát Biển

Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu

(Thôi Hiệu)

Thế giới đang chuyển mình bước vào một thiên niên kỷ mới. Giữa nhịp sống dồn dập với bao nhiêu phát minh mới của khoa học, bao nhiêu đổi thay kinh tế nhằm cải tiến nếp sống con người, ai đó vẫn còn đang dừng lại ngóng tìm bóng dáng quê hương như lời thơ của Thôi Hiệu mà đã được Vũ Hoàng Chương gửi gấm nỗi tâm sự miên man trong lời kêu ai oán cuối quãng đời người thi sĩ: "Gần xa chiều xuống đâu quê quán? Chớ giục cơn sầu nữa sóng ơi"...

Có những hình ảnh nào đó đã ghi khắc sâu đậm trong tâm tư mà mình không thể nào quên được. Những kỷ niệm thân thương như mảnh lụa nhung êm ả quấn quyện vào tâm khảm, chiếm một chổ dịu dàng yêu dấu nhất của ký ức con người mà ta mang theo cả cuộc đời để thương và để nhớ...

Vào khoảng cuối thập niên 50, một biến cố đáng kể đến với gia đình chúng tôi. Chúng tôi phải dọn khỏi phố vườn bông (được gọi là "bùng binh") Phan Thiết trên đường Lê Văn Duyệt, bỏ lại đằng sau mớ kỷ niệm đáng yêu. Bao nhiêu hình ảnh thân thương với các bạn bè nhỏ bé của tuổi ấu thơ, với các chị và 2 cô em gái chúng tôi tại căn nhà ấy, tức là tiệm may Phan Sinh kế bên nhà hàng Nam Thạnh Lầu (mà mọi người vẫn gọi là "quán Hai Mọi", cách vài căn từ tiệm may Mai Xuân Trượng), bỗng nhiên trở thành quá khứ. Một cái gì hụt hẫng trống vắng xâm chiếm cả tâm hồn ngây thơ khờ dại trong tôi... Thời gian sau, khi tôi có dịp trở lại căn nhà củ lần đầu tiên, tôi thấy mình là một kẽ xa lạ đứng ngỡ ngàng bên lề đường, nhìn thoáng vội vã vào bên trong căn nhà củ như sợ ai bắt gặp. Căn nhà thân yêu đó, bây giờ được mang tên mới là tiệm Huê Lợi với các thùng đinh ốc và vật liệu xây cất trông thật kỳ lạ được bày bán từ trong ra ngoài. Các dấu vết thân yêu các tiếng cười tiếng ca xưa không còn nữa, dầu nắng chiều vàng mềm mại vẫn còn lung linh từ mái hiên khu hàng xóm củ. Hương thơm từ không gian cao như đã ngừng rơi đâu đó...Những ấn tượng thời niên thiếu ấy đã theo dòng đời trôi vào quên lãng từ hơn 40 năm qua. So ra, nó chỉ là một phần gì rất khiêm nhượng, quá tầm thường, thật nhỏ bé, so sánh với những mất mát đau thương nghiệt ngã, những đòn thù mà con người VN đã phải hứng chịu sau 1975. Nhưng đống tro tàn kỷ niệm ấy phải chăng chỉ là lớp khoác che đậy những tâm tư vẫn còn âm ỉ cháy trong lòng kẽ tha hương, chỉ chờ ai đó khơi lại để trôi về, như người xưa ngóng đợi một mình bên bờ sông vắng vì ai đó đã lỗi hẹn...

Vào những tháng ngày thơ ấu trong trí nhớ non kém mà tôi còn có thể hình dung được, cả phố Phan Thiết bình dị vừa chứng kiến nhiều dâu bể đổi thay trong nước. Vua Bảo Đại xuống, Ngô Đình Diệm lên thay, sau một cuộc bầu cử "trưng cầu dân ý". Tân Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người từng giữ chức Tuần Vũ Bình Thuận lúc mới tròn 21 tuổi, một chức vụ tương tự như Tỉnh Trưởng sau này. (Sau cuộc đảo chánh năm 1963, giấy khai tử của ông có kê khai chức vụ của ông là "Tuần Vũ Bình Thuận" chứ không phải là "Tổng Thống VNCH"). Đồng bạc mới VN thời đó đó có giá trị đáng kể. Chỉ cần hai cắc bạc chúng tôi có thể mua được cả một rổ ốc ruốc về để chị em chúng tôi "lể" ăn mệt nghỉ. Tôi nhớ lúc chánh phủ mới vừa cho lưu hành tiền mới, tôi cầm đồng bạc mới do má cho, đi mua món trái cây trị giá năm cắc. Bà bán hàng không thối lại năm cắc mà lại bà xé đôi đồng bạc giấy trả cho tôi một nữa vừa được xé ra! Trong hoang mang tôi về kể với các chị và ba má, thì mới hiểu lúc đó tân chính phủ vừa nhậm chức chưa có tiền cắc mới để cho lưu hành.

Dạo ấy MTGPMN vẫn còn trong trứng nước, chưa được Đảng CS Bắc Việt cho chính thức ra đời, nên các tuyến đường xe đò và các chuyến xe lửa đi Sài Gòn hoặc ra Nha Trang chưa bị phá hoại, vẫn còn lưu hành thông suốt. Thành phố hiền hoà quê tôi được hưởng vài năm yên lành trước khi thực sự chứng kiến những thãm cảnh của chiến tranh làm tan đi mất những hi vọng về hoà bình của người dân trong phố. Thời gian ấy tôi được may mắn theo ba tôi mấy chuyến đi Sài Gòn bằng xe lửa. Xe khởi hành rời ga Phan Thiết khoảng chừng sập tối, mình có thể ngủ một giấc cho đến khi xe ghé các trạm khuya thức dậy ăn cháo gà, rồi đến cổng ga Sài Gòn (công trường Quách Thị Trang sau này) với một không khí hấp dẫn thật khác lạ do các tiếng xích lô máy nổ bình bịch, dù lúc trời chỉ vừa tờ mờ rựng sáng. Thành phố Phan Thiết bình dị trong các năm có thể nói là thanh bình ấy thật đáng yêu với các phiên chợ Tết nhộn nhịp, và khắp phố phường dấu vết của hạnh phúc thấp thoáng ló dạng đâu đây. Ba tôi không còn đi lưu diễn với đoàn hát nữa, về lại Phan Thiết lập nghiệp với tiệm may Phan Sinh. Tuy nhiên các diễn viên củ trong đoàn hát như cô Út, chú Tao Ngộ, chú Võ, v.v... vẫn ghé thăm nhà tôi để cùng đờn ca xướng hát các bài bản ưng ý của thời đi lưu diễn. Thỉnh thoảng ba tôi vẫn ngân nga những bài ca xưa, cả những khi ông đang cắt vải thoăn thoắt theo đường phấn kẻ màu xanh với chiếc kéo cắt thật bén và lớn, hoặc lúc chân đang đạp đều nhịp chiếc máy may với đôi tay ông lèo lái các đường vải. Các máy may khác trong nhà chạy đều theo nhịp đạp của các thợ chính, thợ phụ, hoặc các anh còn đang tập sự. Các anh thợ thanh niên thì dạn dĩ hay ca góp vui nối tiếp theo ba tôi, hoặc có người ra câu đố, hoặc kể chuyện vui. Các người giúp việc đôi khi cũng trở thành đề tài cho các thanh niên giỡn phá. Các chị thợ thường chỉ phụ đơm khuy và kết nút, tham gia cuộc vui một cách kín đáo hơn bằng các tiếng cười dòn. Chị Sáu thường bị các anh thợ chiếu cố trêu ghẹo suốt ngày vì chị có nét xinh ở tuổi dậy thì. Sau giờ làm việc, các anh chị vẫn còn tiếp tục kể chuyện vui hoặc đờn ca, có khi còn ngũ lại đêm trong 1 phòng lầu dưới. Mé sau căn nhà, trên lầu trên có một bức tường bằng gạch, được xây hơi kiểu cọ, chừa khuyết một vòng tròn khá lớn như vầng trăng khiến cho người trong nhà có thể nhìn được ra sân thượng ở mé sau. Chị cả của chúng tôi, chị Hoàng Anh, thường leo ngồi vào vòng trăng đó, thả chân đong đưa vừa ca các bài như Ánh trăng trắng ngà, có cây đa to... Dạo ấy chị Anh đã là 1 thiếu nữ cao và thon gầy trong chiếc áo dài trắng. Trong khi chị Hoàng Minh (tức chị Nam) vẫn còn học trường Nữ bậc tiểu học, chị Anh đã vào học trường Phan Bội Châu, được ba má tôi mua cho một chiếc xe đạp mà lúc nào chị cũng giữ bóng loáng. (Lúc sau, theo phong trào Velo Solex, chị cũng có 1 chiếc Velo thay cho xe đạp). Chị theo sát ba tôi từ những dịp đi lưu diễn hay cả những lúc ba đi đá banh bên Sân Vận Động. Các cầu thủ đá banh mặc quần shọt, áo may ô và mang giầy đinh. Có lần trên sân banh, khi chị Anh đang giữ áo quần của ba tôi vừa thay ra, một thanh niên đến nói với chị là "Ba của cô kêu tôi đến nhờ cô đưa quần áo cho ổng thay"... Chị Anh bèn đưa hết quần áo, có cả bóp và tiền bạc. Đến khi ba tôi đá banh xong, trở lại lấy quần áo đi thay, mới biết chị Anh đã bị kẽ lạ gạt lấy hết quần áo giấy tờ. Em Hoàng Yến kế tôi hãy còn bé chưa đi học, và em Thanh Hà chỉ mới chập chững biết đi. Trong các bài ca mà tôi nghe ba tôi ca, có một bài với lời thật ngộ nghĩnh khiến tôi theo hỏi và được ba cho biết là do bác Trúc Viên Trương Gia Kỳ Sanh sáng tác, thời bác còn làm bầu gánh hát - thời thật xa xưa trước khi bác trở thành Dân Biểu. Bài hát này các chị em chúng tôi sau này đều thuộc lòng (và trở thành bài ca chung trong những dịp vui mỗi khi gia đình hội ngộ):
Mau vô trỏng, cúi đầu thưa với ổng
Rằng tôi đợi ngoài cổng
Rồi trở ra mau nói, để cho tôi thăm hỏi
Kẻo chờ lâu cẳng mỏi
Ông quan ấy thân với tôi lắm đấy
Tôi với ổng họ Trình
Trình ấy làm Quan
Còn Trình này thì bán quán giữa rừng "hoang"
Quán với Quan cũng gần
Quan với Quán một vần
Vì Trình ấy tuổi Dần có phần quan lớn
Còn Trình này tuổi Tý con chuột con, ở đầu non, nhưng mà ngon...

Những lúc cả nhà theo tiếng đờn của cha tôi quây quần ca hát, mẹ tôi thỉnh thoảng cũng ca góp một bài với lời lẽ thật xa xưa "Dạ dạ dập đầu ... Thưa chuyện với chị dâu ..." Có một bài ca rất dài mà lủ chúng tôi rất thích nghe giọng của Ba ca với những hơi ngân, những nhịp ngắt với tiếng song lang gỏ nhịp tài tình của điệu Xàng Xê, hoặc khúc lái ngân nga lên xuống giọng thật đặc biệt, khiến cho người nghe cảm thấy như có một làn mây ấm cúng nào đó đang vây quyện khắp không gian:

Hậu đô Bắc Hà,
Vào triều Lê Cảnh Hưng năm thứ 46,
Hân hạnh được cung nghinh Đức Bình Bắc Tướng Quân Nguyễn Huệ
Thống lãnh đại đội binh hùng
Hát khúc khải hoàn vào cổ luỹ Thăng Long
Sau khi bình giặc đã thành công
Nhưng vì thấy Lê Trịnh tranh hùng muôn dân đồ thán
Cho nên Nguyễn Tướng Quân phải diệt Trịnh phù Lê
Tảo trừ bọn Trịnh tư quyền là Trịnh Tứ Phương
Hạ thành sơn nam
Mới thấu nhập kinh đô vào Nam giao đài bái mạng vua Lê Hiến Tôn
Vì mộ tài danh viên dũng tướng thiếu niên anh hùng lỗi lạc
Chắc có lẽ sau này phải nhờ quyền bảo hộ của Tây Sơn
Thế cho nên Hiến Tôn Hoàng Đế mới định gả trung thần
Là lịnh ái nữ Công Chúa Ngọc Hân
Kịp đến n ngày mồng 3 tháng 8 năm Bính Ngọ
Vua Thái Đức nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc ngự ra Bắc Hà
Bèn cùng tân quân Lê Chiêu Thống thừa nghinh trọng rất là uy nghi
Phán rằng "Từ khi phụ thân trẫm đây thất lộc
Trẫm lên kế tự ngôi trời
Đồ lao cộng tác với bá quan
Trẫm những mong rằng trăm họ được bình an
Nhưng Trẫm vẫn biết rằng tuổi Trẫm còn thiếu niên
Mà việc triều đình quá ư to tát
Bởi thế cho nên mà vận mạng của Lê triều
Chẵng may mà gặp cơn nguy biến
Trẫm chỉ nhờ lượng hải hà và ơn tư trợ
Của Tây Sơn quân
Lấy đức bủa khắp bốn phương
..................................................

Sau những quãng đời khó khăn vật vã truân chuyên với cuộc sống từ những ngày Tây về ruồng bố bắt dân, rồi chuyến lưu lạc sang tận Cam Bốt học may, cha mẹ chúng tôi vừa mới bắt đầu gầy dựng được một cửa tiệm may để sinh nhai với những điều tạm gọi là yên ổn của mái ấm gia đình, tuy đơn sơ nhưng tràn đầy hạnh phúc. Bỗng nhiên một hôm cần tiền, người chủ căn phố nhà chúng tôi đang ở trở về lại Phan Thiết và quyết định bán căn nhà thật gấp, chứ không cho gia đình tôi thuê nữa, mặc dầu thời hạn thuê mướn vẫn còn và công việc làm ăn của ba tôi đang đà phạt đạt. Vì giá bán căn phố quá cao cha mẹ tôi không đủ tiền để chồng mua căn phố ấy, gia đình chúng tôi đành phải quyết định dọn đi.
Trong khi chờ đợi dọn về căn nhà mới xây trước ấp Đức Nghỉa, gia đình chúng tôi về ở tạm khu Cồn Chà, nơi mà tâm trí nhỏ bé trong tôi có cảm tưởng cách xa khu nhà bên phố củ hằng diệu vợi, như thuộc về một không gian nào xa cách hẳn... Nơi chỗ mới xa lạ chúng tôi phải đi bằng xe đạp hoặc được Ba chở bằng xe gắn máy Sach thì mới về được đến phố Gia Long . Dầu chỉ ở mấy tháng, chúng tôi cũng đã có dịp nhìn thấy trực tiếp nếp sinh hoạt thay đổi của các bạn ghe mà nếp sống được gắn liền với các vụ cá...từ những lễ lộc của "Vạn", lễ cúng tế khi có cá ông "lỵ", những mùa cá rộ, mọi người bạn cá khắp xóm đều thắp đèn ra đường hì hục làm muối, vô thùng, hàn xì, khiêng vác, rầm rộ thâu đêm không ai mà không bận bịu làm lụng. Có cảnh tượng của một gia đình hàng xóm bên kia đường, đối với chúng tôi thật lạ lùng lẫn thương tâm. Gia đình ấy có một người cha say sưa liên miên. Họ có 2 người con trai, người con lớn đã lên 17 tuổi . Mỗi lần say sưa, người cha về đánh đập vợ con, nhất là cậu con cả. Ông ta lột hết quần áo người con lớn, lôi anh ta trần trùng trục ra giữa đường quất roi tơi tả bất kể nơi nào trên thân thể trước sự chứng kiến của đám người lớn nhỏ trong xóm tò mò đến xem...Sau mấy lần tiếp diễn cảnh đánh đập tàn bạo ấy, người con lớn vì nhục nhã, một hôm bỏ nhà đi biền biệt. Buổi tối khu cồn chà người ta có thể nghe văng vẳng tiếng biển vỗ rạt rào vòng vọng thật buồn hiu với những đèn đường héo hắt vàng vọt và mùi đất biển thoảng tanh mùi cá, thật khác với phố Lê Văn Duyệt nhộn nhịp mà tôi đã quen thuộc.

Những cảnh khá xa lạ đối với quãng đời nhỏ bé ngây thơ ấy khiến tôi nhớ và thương làm sao những ngày bên phố. Nhớ các bạn học tí hon lũ chúng tôi trường Bác Giáo Nhiều, kể cả những lần bắn "bì" (tức là giấy quấn thật cứng chắc, gập đôi lại để bắn bằng dây thun) với nhóm anh em Thuận và Hưng tiệm vàng Mỹ Quang (mà chị Tuyết Mai của tụi nó là bạn học thân với chị Anh của tôi và sau này làm phù dâu cho chị), những trò chơi "phóng bút" (dùng đầu sắt của cây viết mực chấm từng mắt cá tay và phóng ghim vào ụ cát) với các trẻ con hàng xóm. Thương những chiều nắng rọi nghiêng nghiêng từ mé nhà hàng Kim Sơn ngồi trước nhà nhìn sang công viên trước mặt chờ mẹ đi chợ về với chút quà, thương mùi thơm bánh mì Nghi Hưng mới ra lò nóng hổi được các trẻ em đi rao bán, thương những ly "siủ phé" ba và các tay mê đá banh như chú Bảy Đài, chú Buộc (sau này vì bất cẩn trong lúc đổ chì, chú bị mù 1 mắt), chú Tí Hoan, v.v... quây quần ngồi uống bàn bạc sau những trận đá từ sân banh về, hay thương mùi nem nướng và mùi bánh xèo thơm ngào ngạt từ quầy bánh xèo cố hữu của gia đình chị Quyệt, một người bạn thật dịu hiền của chị Nam (ba má chị đặt tên chị là Nguyệt, nhưng khi làm giấy tờ bị đánh vần sai đi, trở thành "Quyệt" ) bên hông tiệm vàng Đạt Thành mé tiệm Kim Sơn mà tôi tin vẫn là chỗ ăn nem nướng và bánh xèo ngon nhất...mà có lẽ ấn tượng đó sẽ còn mãi cho đến suốt cuộc đời.

Khu vườn bông dưới dốc cầu điểm Thiết trước căn nhà thân yêu ấy nơi tôi lớn lên đã là địa điểm chính của bao biến cố vui buồn của người dân tỉnh lỵ ... Khoảng trống rộng lớn từ phía bên nay là tiệm may Phan Sinh nhà tôi, đối diện bên kia đường là các tiệm Tân Lập, Lê Chính Ngữ bán xe đạp, và tiệm nước Nam Nhất Viên... sang góc xéo là quán nước Tân Phương Viên... và bên kia đường là tiệm vàng Đạt Thành đầu phố Gia Long... là một mặt bằng tráng nhựa khá lớn mà ta có cãm tưởng có công dụng tương tự như quãng trường Thiên An Môn thuộc Bắc Kinh của Trung Hoa. Chính tại nơi đây đã là nơi con Rồng hùng vĩ, mỹ lệ và thiêng liêng nhất của Phan Thiết trổ tài vùng vẫy trong các dịp lễ lộc hội hè. Tại nơi ấy những cuộc diễn hành, biểu tình, các xe hoa đều quy tụ về để chuyên chở các biến cố vui buồn của thành phố. Rồi những buổi chợ Tết thâu đêm cũng đều diễn ra bắt đầu từ khu cuối vườn bông ấy kéo lan dài khắp phố Gia Long, lần ra các hang cùng ngõ hẻm của khu chợ chính.

Thật là khó quên ngày lễ được gọi là Thỉnh Ông Đi Chơi, lũ trẻ chúng tôi nô nức đi ra đường xem giữa rừng người, cảnh tượng con Rồng uốn lượn theo trái Châu được vũ lộng xoay vần liên tục bởi một thanh niên lực lưỡng để dẫn Rồng quây quyện, cuộn các con Lân vào giữa, theo tiếng trống "tùm tùm...tùm tùm..." hùng dũng, tiếng chiêng "cheng...cheng..." ngân vang, tiếng tu huýt tíu tít điều khiển, tiếng chân người của đoàn Rồng to lớn, tiếng lục lạc từ thân Rồng lúc lắc theo nhịp chân chạy xào xạc reo vang khắp nơi, cùng xen lẫn các điệu trống Lân "cắc cá lắc cắc cắc... tùng tùng...." khi thì dồn dập, khi thì "xổ..." một tràng dài, khi nhịp đều "cắc tùng tùng... cắc tùng tùng..." lúc các con Lân chồng người lên cao để tung qua mình Rồng thoát khỏi vòng vây...

Vì một dịp tình cờ tôi có đến Chùa Ông để ngắm nghía một cách say sưa các chi tiết của con Rồng Phan Thiết, dầu không bao giờ tôi đủ can đảm đến quá gần vì sợ. Mình Rồng có cài hằng ngàn chiếc "vẫy" óng ánh. Một dịp nọ, có một trẻ lượm được một chiếc vẫy Rồng, tôi và các bạn tò mò đến ngắm nghía. Mỗi vẫy Rồng là một miếng gương tròn (cỡ gương thời ấy dành cho các phụ nữ mang theo để soi mặt). Mặt sau của các vẫy gương Rồng ấy có in tên của ân nhân bảo trợ. Đầu Rồng màu trắng, với nét thanh cao, hùng vĩ, có hai chiếc sừng cong cong khúc khỹu. Mủi Rồng nở nang tròn lớn như sẵn sàng để khè ra lửa, mỗi bên mũi có các râu cong cong. Rồng có chiếc lưỡi đỏ thè dài, với hàng râu cằm toả đều xuống mé dưới miệng, vừa xinh đẹp vừa mang vẻ huyền thoại kỳ bí của một linh vật khiến chúng tôi sờ sợ né xa, không bao giờ "đụng" vào ...

Cảnh tượng múa Rồng là cảnh của một linh vật đang đạp mây uốn mình quây lượn theo sự thu hút của trái Châu (tức là một bảo vật). Tục truyền khi nào có các linh vật Long, Lân. Qui, Phụng xuất hiện thì muôn dân sẽ hưởng được cảnh thanh bình hoan lạc. Trong tâm niệm người dân, cảnh Rồng múa như mang được hình ảnh thiêng liêng cao cả về gần lại để chiếu cố những khó khăn của thực tế cuộc sống. Mỗi khi Rồng múa, tôi vẫn còn nhớ đầu Rồng khá nặng cần phải có 3 thanh niên cùng gồng vác, một người mang chịu cây trụ chánh ở giữa, hai người kia mang 2 cây xéo chịu 2 bên. Mình Rồng là loại vải bố vừa chắc vừa mềm mại cho dể múa, màu sắc lộng lẫy nhưng không diêm dúa. Cách đều nhau giữa các khúc nối mềm mại bằng vải bố là hằng mấy chục khúc thân cứng cáp cho các thanh niên mang đội vào để lượn múa. Mỗi khúc thân Rồng có 1 sườn bằng nan mây, vừa vặn cho 1 người thanh niên nai nịt chịu ở lưng, vai và đai ở hông. Cứ vài phút người này mỏi lại có người khác vào thay thế. Lưng Rồng có dẩy Vi lởm chởm chạy dài từ đầu cho đến khúc đuôi. Cuối các chân Rồng với những móng vuốt nhọn là hình vẽ những cụm mây. Khúc đuôi cuối cùng của Rồng là những khía vi nhọn lỉa chỉa, khá cao, lắc lư khi múa, cũng có một cây trụ chính của đuôi do một người nai nịt ở hông và cầm chịu ở tay, và lại thêm 2 dây kéo bởi 2 người khác ở hai bên để múa lượn. Những ngày tôi còn bé theo xem hội hè đình đám, nghe tiếng trống "tùm tùm...tùm tùm..." của đội Rồng Phan Thiết hoặc tiếng trống dòn dả "Cắc cắc tùng..." của các đội Lân chùa Ông hoặc các đội Lân Mặt Xẹp (với tiếng trống "tùm tùm...tùm tùm tùm...tùng tùng tùng, tùm tùm..." thật đặc biệt và kỳ dị), hay các đội Lân Sài Gòn (có leo cây trụ sắt thật cao và có múa võ) được mời về dự lễ Thỉnh Ông, chân tay tôi bổng trở nên bủn rủn, tim hồi hộp, vì bị thu hút mãnh liệt bởi các âm thanh kỳ diệu ấy ... Sau này nghe nói ở thành phố nổi tiếng nào như New York hoặc Singapore có các con Rồng rất hay và đẹp, tôi đều chú ý xem các hình ảnh để so sánh với con Rồng Phan Thiết. Và vẫn chưa tìm được các đối tượng đáng kể để mà so sánh...

Trong ký ức tuổi trẻ thơ ngây ấy tôi nhớ hình ảnh của các bạn trẻ con bên phố. Cùng học chung trường thầy Giáo Nhiều, được gọi là thầy "Thẹo", là hầu hết lủ trẻ đường Lê Văn Duyệt dảy nhà tôi, và dảy phía bên kia bùng binh, tức đường Nguyễn Văn Thành. Cùng học chung trường thời ấy có con của các bác Vui Vui, bác Năm Phùng, tiệm Thành Kim, Mỹ Quang, Mai Xuân Trượng v.v...bên kia đường là con của bác Tân Lập, Lê Chánh Ngử... có cả hai chị em Thanh và Bạch cháu cô Nam Phong nhà ở đường Đinh Tiên Hoàng phía trong tiệm billiard chú "Buộc" nữa. Bên phố Gia Long các tiệm Vĩnh Hưng, Phước Hưng, kéo dài đến tiệm chú Bé Vĩnh Lợi cũng đều gửi con học chung trường này... Sau ngày anh cả tôi mất lúc vừa 2 tuổi, mẹ tôi sinh chị Anh rồi chị Nam. Lúc sanh được con trai, người mình có tục lệ hay cho đeo khoen ở tai để khỏi bị ông bà "bắt", vì ngỡ là con gái (?). Tôi và Hiệp con bác Tân Lập đều rơi vào hoàn cảnh đó. Hiệp con bác Tân Lập (vẫn thường được các bạn bè thân yêu gọi là Hiệp Lé, sau này được người chú tập đánh trống, trở thành 1 tay trống xuất sắc), khi đi học vỡ lòng vẫn còn mang khoen ở tai. Bây giờ mỗi khi sờ lên cuối vành tai trái tôi vẫn còn dấu lỗ tai đeo khoen ngày xưa, mặc dầu lỗ ấy đã được lấp kín từ lâu. Trường thầy Giáo Thẹo rất nghiêm và nổi tiếng đánh học trò rất đau. Viết bằng tay trái là bị khẽ tay. Nói chuyện trong lớp thầy kêu lên bắt quỳ lấy thước kẻ vào đít. Đứa nào không thuộc bài hay chưa làm bài tập thì mặt mũi xanh rờn vì sợ thầy phạt đòn. Sau này kể cả quãng đời đi lính, tôi chưa bao giờ sợ một người có nhiều uy quyền đến thế! Hôm nhập trường mẹ tôi có mua cho tôi một quyễn tập viết mà bây giờ tôi vẫn còn nhớ. Quyễn tập ấy có hàng chử in ngoài bìa xinh xinh đã khiến cho tôi suy nghĩ miên man...Đó là mấy chữ "Ngày Nay Học Tập, Ngày Mai Giúp Đời". Ôi chao quả là 1 ý tưởng ngoài sức tưởng tượng. Lủ trẻ nít ăn chưa no, lo chưa tới như chúng tôi, mà lại hình dung có một ngày nào đó mình sẽ làm một cái gì để "giúp đời". Tuy vậy, vì ngày nào cũng đọc, mấy chữ đơn sơ đó đã ghi khắc vào trong tâm khảm. Câu chữ in đó nổi bật trong ký ức về mái trường yêu dấu của thầy Giáo Nhiều. Tôi học trường thầy được khoảng 1 năm thì có 1 cậu bé kháu khỉnh con bác Năm Phùng mới vào học lớp vỡ lòng và ngồi kế bên tôi, tên là Đinh Quốc Cường em của chị Dung. Cậu em út của Cường là Tuấn lúc ấy chưa đi học. Chị Dung chơi với chị Nam của tôi và chị Tăng Thị Thiết con bác Vui Vui. Cậu bé ấy thật dễ thương, hay cho tôi mượn cục gôm hoặc đồ bào bút chì, tôi thường giúp Cường làm bài tập, và đến giờ chơi chúng tôi chơi chung. (Anh em Cường và Tuấn bắt đầu tập chơi tennis từ bé cùng với anh em Toàn và Thắng nhà ở bờ sông; sau này cả Cường và Tuấn đều trở thành những cây vợt nổi tiếng của VN). Giờ chơi trước sân trường thầy Giáo Nhiều bầy bán đủ thứ, từ me riêm, ốc khương, bánh tráng mắm ruốc, trái khế trái cốc thứ gì cũng có. Thậm chí lũ con nít chúng tôi còn có thể mua "chịu" nữa! Tôi nhớ những lần ăn kem "cà rem" chất lạnh thường buốt nhói lên tận đỉnh đầu. Ăn đu đủ bò kho, ăn xong còn húp hết cả chất nước cay và mặn ấy thì mới đúng điệu. Rồi lại có xe bán kẹo kéo với thớ kẹo lớn khi được kéo ra, ở giữa có các hạt đậu phộng vừa ngọt vừa thơm. Anh bán kẹo kéo còn kích thích chúng tôi bằng cách cho "đổ hột me", thỉnh thoảng con nít chúng tôi có ai đổ trúng thì được anh kéo thêm gấp 2, 3 lần dài hơn (mà thật ra thì cũng "mỏng" hơn). Lũ con trai thì chơi bắn bi, đáo lạc, bắn "bì", hoặc quăng cùi bắp. Các chị gái thì hay chơi các trò chơi mà con trai chúng tôi không tham dự như "đánh chắc" (tung trái banh lên, rồi chuyền xoay 1 nắm que đủa cho thật nhanh, để bắt lại quả banh kịp khi nó rơi xuống), nhảy giây (giây được nện lại bằng nhiều sợi thun thành một thớ thun dài), hoặc chơi búp bê, đá cầu ...Có lần hai chị em chúng tôi dạo bộ chung, đi lên mé cầu, trông thấy chị Dung hoặc chị Thiết, chị Nam tôi nhập bọn con gái chơi với họ, thế là tôi phải lủi thủi đi về nhà một mình, lòng ao ước phải gì mình có một người anh để chơi chung!

Trong các hình ảnh tuổi thơ ấy có bóng dáng của chính tôi ngày được ba may cho 1 bộ đồ veston mà mọi người dạo ấy gọi là áo "bành tô". Súng sính trong bộ đồ đặc biệt ấy, các chị và em nhìn tôi như thấy lạ mắt. Mẹ tôi vừa thắt nút áo cho tôi vừa kéo vạt áo cho thẳng thớm, vừa vổ đầu tôi và đùa mấy câu mà người dân thường hay trêu ghẹo những người mặc đồ veston có vẻ "bảnh bao" thời đó:

Bành tô la ghì
Ăn cắp bánh mì bỏ túi bành tô

Vì nhà gần quán bác Hai Mọi nên hai gia đình thân nhau. Ngoài các món ăn chiều hấp dẫn như bánh bèo, bánh quai vạt, mì quãng, nem nướng với các nước chấm mặn mà đặc biệt, hoặc các món chè đậu xanh, chè chí màu bửu (tức chè mè, màu đen), hoặc bánh bò được bán bởi các quầy gánh rong dọc theo phố chánh, chị em chúng tôi chiều chiều hay qua nhà bác Hai mua chỉ hai đồng "xí quách" mà đựng đầy cả một tô lớn về ăn chấm nước mắm, vừa ngon miệng vừa rẽ. Một buổi nọ, tôi sang mua 2 đồng xí quách như thường lệ, nhưng vì không tìm thấy 1 tô lớn nào trong nhà cả, tôi bèn mang đại 1 chiếc soong theo để đựng. Trông thấy chiếc soong khá lớn bác gái má anh Huệ (bác Hai Mọi) vừa cười hỏi tôi: "Thằng Tám con anh Sinh đó hả... Nhà con cái soong nào lớn hơn cái đó nữa không con?..." Vì bẽn lẽn từ đó về sau tôi không bao giờ dám mang soong chảo đi mua "2 đồng xí quách" nhà Bác Hai nữa cả. Rồi có một một tai nạn hi hữu mà tôi nhớ mãi. Dạo tôi lên chừng 6 tuổi, một hôm khi đang chơi bắn bi cùng lũ trẻ tại bãi đậu xe trước nhà, ngay lúc tôi đang lui cui chăm chú bắn bi vào lỗ bỗng nhiên tôi thấy mé trên đầu có chất gì nóng như nhớt nhỏ giọt xuống đầu tôi. Ngoảnh đầu lên nhìn thì lũ trẻ đã bỏ chạy đi đâu hết cả chỉ còn lại một mình tôi, mà lại có một chiếc xe vừa "de" vào đậu phủ ngay trên đầu tôi, lúc tôi còn đang cúi thấp xuống cặm cụi bắn bi cho vào được lỗ ! Tôi đang ngạc nhiên hoảng sợ thì nghe tiếng hốt hoảng của cha tôi. Chạy vội từ trong nhà ra đến bãi đậu xe, ông la lên: "Trời ơi xe cán con tôi rồi!..." Cha tôi vừa cầu cứu vừa cố gắng dở hỏng chiếc xe lên (nhưng không dở nỗi vì xe quá nặng). Khi tôi lòm còm bò ra khỏi gầm xe, cả ba tôi và người chủ chiếc xe đều mừng rỡ, ôm chầm lấy tôi . Dù tôi không bị hề hấn gì, ngày hôm sau ông chủ chiếc xe hơi ấy có ghé lại thăm gia đình tôi. Ông tặng 1 bó hoa và ngỏ lời xin lỗi về "tai nạn". Ông chủ chiếc xe ấy là 1 du khách ăn mặc sang trọng và dáng dấp thanh tao. Cha mẹ tôi cảm tạ về mỹ ý của ông với tai nạn thật là hi hữu đó. Hành động tặng hoa đó cũng thật là khác biệt đối với lối cư xử thường nhật khiến tôi không thể nào quên.

Các hình ảnh thời niên thiếu ấy có thể biểu tượng bằng 1 tấm hình thời bé mà tôi rất thương, dầu hình ấy đã thất lạc từ dạo tôi xa quê vào Sai Gòn học. Ngày tôi lên mười tuổi, học sinh lớp Nhất phải đi chụp hình để chuẩn bị đi thi Tiểu Học. Một hôm tình cờ đi qua tiệm chụp hình Liên Hoa chợt thấy tiệm treo 1 tấm hình khá lớn của 1 cậu bé. Nhìn kỹ té ra là hình của chính mình với áo sơ mi trắng, tóc chải dợn sóng, với nụ cười nhẹ nhàng xinh xắn. Tấm hình ấy sau khi thất lạc tôi vẫn ước mơ có dịp nào ngắm lại các bóng hình của thời bé bỏng xa xưa... Ngày tôi thi đậu bằng Tiểu Học, chị Nam mang về 1 món quà, bão rằng do chị Tăng Thị Thiết (tức chị Cà Sáu) con bác Vui Vui, bạn chơi thân của chi Nam tôi,gửi tặng tôi. Món quà đó là một con thỏ đồ chơi màu trắng, đằng sau lưng thỏ có gắn 1 chìa khoá lớn dùng để căng dây thiều. Khi quay dây thiều xong, thả xuống, con thỏ trắng "tự động" ấy nhảy lốp cốp khắp nơi thật vui mắt. Đấy là một món quà bất ngờ và đặc biệt. Bẳng về sau này, ngày nghe tin chị Thiết qua đời khi tuổi đời của chị còn rất trẻ, tôi liên tưởng món quà chị cho tôi, và cảm thấy một phần nào quãng ngày thơ ngây thân thương vừa mới mất...Cùng với chuyến dọn đi đến khu nhà mới xây trước ấp Đức Nghỉa, giữa các thay đổi với trường mới, bạn mới, lòng non dại của cậu bé trong tôi vẫn nghĩ và nhớ nhiều về Cường, cậu học trò nhỏ bé cạnh tôi một thuở mài đũng quần trường thầy Giáo Thẹo... Hình như ai đã cắt mất nơi tôi một phần gì thân thương âu yếm và hồn nhiên nhất...

Những ngày mới lớn xa quê vào học Sài Gòn, giữa những chiều nắng vàng bên phố Lê Lợi nhộn nhịp của chốn phồn hoa đô hội, hay những tối từ căn lầu nhà Dì Hai nhìn xuống con đường Phan Đình Phùng với ngựa xe trẩy hội náo nhiệt mé dưới... Tôi chợt nhớ về quê hương Phan Thiết với những cột đèn đường bình dị có quầy bánh căn và thấp thoáng đâu đó hình ảnh tiếng cười vui của các chị em tôi quây quần bên lò bánh gắp từng miếng bánh căn dòn vừa được cậy khỏi khuôn trộn vào với nước mắm, các tốp mỡ, và các thứa cá Nục kho... nhớ quê ngoại, mé xa bên kia đường đối diện khu trường Phan Bội Châu nằm sâu trong vùng ngoại ô, với bóng mát chiều tỉnh lặng khoan thai êm ả lúc khói nhà ai đang nấu cơm và tiếng gọi lanh lảnh xa xăm "Cu ơi ...về ăn cơm" ...nhớ tiếng ru con của ai đó xen lẫn giữa tiếng võng đưa kẽo kẹt giữa trưa hè "Ầu ơ... bầu ơi thương lấy bí cùng"... nhớ cảnh đồng ruộng, xanh thật là xanh, màu mạ mới cắt... và nhớ hương đồng gió nội yêu dấu của quê hương... nước mắt kẽ tha hương chợt rưng tròng.

Bây giờ, sau những cuộc đổi dời, sau những chuyến vượt đại dương, qua bao nhiêu bến bờ, qua bao nhiêu không gian, qua bao nhiêu mảnh đời, các hình ảnh thơ dại xưa vẫn còn lưu lại tiềm tàng trong ký ức. MTGPMN đã được cho ra đời để khởi đầu chinh chiến, rồi lại bị khai tử vào bóng tối, sau khi Miền Nam VN đã mất vào tay CS Bắc Việt. Nhiều trẻ tí hon cùng học chung trường thầy Giáo Nhiều ngày xưa giờ đã ra người thiên cổ. Có kẽ tha hương đang tìm kiếm trong sương mù ký ức một quãng đời hơn 40 năm xưa, như đang kiếm tìm lại những viên lưu ly trân quý. Mỗi khi chị em chúng tôi gặp lại nhau, nghe lại giọng ca của chị Nam "Mưa rơi hoa lá tơi bời, đàn ai vọng đến một chiều gió mưa ..." của một bài ca mà chúng tôi đều ưa thích; hoặc lời ca "Ta đến đây để xin lệnh phụ vương..." do chị Anh ca; hoặc giọng em Hà ngâm lời thơ "Từ buồn chị chọn em làm tri kỹ, Để đêm về gục mặt kể em nghe..." của chị Nam làm tặng em Hà, các ấn tượng và cảm giác xa xưa vẫn còn sẵn sàng để cuồn cuộn trôi về trong tôi như thác lũ - từ những nguồn sông của quê hương xa thẳm...

Lủ trẻ con xưa đã từng Học Tập, nay vẫn còn ngóng tìm qua hàng rào ngăn cách của lý tưởng ý thức hệ, mảnh quê hương bình dị thân yêu xưa, với ước mong sẽ làm được một điều nhỏ nhoi nào đó có thể gọi là Giúp Đời...

Cát Biển

Sunday, October 1, 2017

Từ Sân Trường Phan Bội Châu PT Ðến Những Giấc Mơ Biển - Cát Biển

Cầu Nguyện Hương Linh chị Huỳnh Thị Thanh Hiếu sớm phiêu diêu nơi miền cực lạc.
Cát Biển
Vài Ký Ức –
Hôm nay được tin chị Thanh Hiếu, bạn cùng lớp Ðệ Nhất PBC nhập học năm 1967, vừa vĩnh biệt, lòng tôi chợt nhớ về một tấm hình của chị trước cổng trường Phan Bội Châu…Trong chuyến công tác hảng Boeing tại Seattle năm 1997 tôi được có cơ hội ghé thăm gia đình chị Hiếu tại Portland Oregon, có cả chị Vân, là các chị học cùng lớp năm xưa ... Một thâm tình sau hơn 20 năm thời mài đũng quần nơi trường PBC thân yêu ... trước khi ra về anh Sanh chồng chị Hiếu còn nhất quyết tặng tôi 1 đôi giầy, và chị Hiếu cho xem lại tấm hình của chị mang kiếng mát, tay cầm áo ấm len đen trước cổng trường . Tôi nói tấm hình này cần được đăng trong Ðặc San Hội Bình Thuận. Chị Thanh Hiếu nói như vậy chị tặng luôn tấm hình nhé. Và sau đó tấm hình đã được scan ra và phổ biến khắp nơi cùng với các bài viết về Hội Bình Thuận và trường PBC Phan Thiết. Một tấm ảnh trông đơn sơ, nhưng nói nhiều về tính chất con người của các cựu học sinh PBC ngày xưa, vừa chuyên cần học hành, vừa tha thước trong nhân bản đạo đức...
 Dạo đó tôi học trung học ở Sài Gòn. Năm 1967 tôi về học lớp đệ nhất tại trường trung học Phan Bội Châu Phan Thiết. Sau đó là các trường Đại Học ở Sài Gòn, cho đến ngày tình nguyện nhập ngũ quân chủng hải quân khóa 20 Đệ Nhị Hổ Cáp. Hải nghiệp đã mang nhiều ấp ủ thời tuổi trẻ, song bầu nhiệt huyết hăng say trong tính chất hào hùng cùng với các gian lao cực nhọc nang đến cho đời lính biển nhiều nguồn thi vị lãng mạn. Những năm học lớp đệ nhất vào mỗi buổi tối, lũ chúng tôi những người bạn yêu văn chương, thường tụ tập ngồi ngắm sao trời, bàn luận say mê về các tác phẩm nổi danh vào thời đó, thường là các tác phẩm triết lý gợi suy ngẫm cho tuổi mới lớn, như Ung Thư của Thanh Tâm Tuyền, Buồn Nôn của Jean-Paul Sartre, Bonjour Tristess của Francois Sagan, La Porte Etroite của Andre Gide do Bùi Giáng dịch v…v… Những lúc làm thơ, viết văn cho báo trường, là những bước đầu tập tễnh vào khu vườn văn thơ. Mãi đến lúc sang Hoa Kỳ, những buồn bã bâng khuâng từ nỗi cô đơn nhớ nhà, nhớ bạn bè, nhớ quê hương, đã dấy lên thành một động lực mạnh mẽ thôi thúc những bài thơ mang tâm trạng của nếp sống tha hương, về biển cả, về quê hương.
Phan Thiết là nơi chốn để nâng niu chiu chắt những kỷ niệm ngọc ngà của tuổi thơ. Quê hương Phan Thiết bình dị là một miền biển mặn có con sông Mường giang lững lờ trôi:
Ai về Phan Thiết quê tôi
Nhắn sông Mường Mán chiều ơi nhớ cùng 
Phan Thiết trong lòng tôi vẫn mãi mãi là một chốn thân thương tuyệt vời của thời niên thiếu, khi tâm hồn còn bát ngát những ngây ngô non dại…Những niềm hạnh phúc vô biên với những câu chuyện đầy ly kỳ lẫn thi vị do người Cha kể lại, đã được chị em lắng nghe say mê từ lúc còn bé, đến những buổi cơm chiều đậm đà hương vị quê hương có canh chua, cá nục kho, gỏi cá mai do người Mẹ nấu, quây quần với tiếng cười tiếng ca náo nhiệt của các chị em trong nhà. Những kỷ niệm đậm lắng mãi trong một nơi sâu thẳm của ký ức, để ta mang theo suốt cuộc đời. Thành phố đó cũng mang nhiều hình ảnh lam lũ bình dị của những người dân chài miền biển. Những người dân Phan Thiết rất chân phương hiền hòa và mộc mạc trong lối giao tiếp giữa người và ngườị Khi lớn lên và có dịp vào Sài Gòn học trung học, dù rất yêu chốn phồn hoa đô hội này, nhưng Phan Thiết luôn luôn trải mời tiếng gọi réo rắc, kéo tấm lòng về với quê hương, vì nơi đó có hình ảnh của một mái ấm gia đình, có lũ bạn thuở thiếu thời, có mớ chân tình sâu đậm:
Mường Giang óng ánh nhẹ nhàng
Quê hương tôi đó muôn vàn nhớ thương
Người đi lạc xứ vấn vương
Chiều trông quê cũ lệ tuôn đôi hàng

Năm còn học lớp đệ nhất tại trường trung học Phan Bội Châu, Phan Thiết đã thoáng ghi nhận một mối tình học trò thơ ngây:

Phan Bội Châu áo dài tia nắng dại
Lối đi về vai chạm nhói tim nhau


Quay trở lại thời kỳ quê hương còn đắm chìm trong chiến tranh, chàng thanh niên trẻ sinh trong thời loạn đã rời ghế nhà trường để dấn thân vào cuộc chiến:

Rồi cảnh quê mình thêm khổ đau,
Bom giày đạn xéo đẩy chia ly,
Những cánh tay ôm ngày giã biệt,
Người trai nhập ngũ tuổi xuân thì


Rồi chúng tôi nhập ngũ như bao nhiêu thanh niên cùng lứa tuổi anh đã phải tòng quân trong hoàn cảnh đất nước điêu linh. Ngày bắt đầu lên đường theo tiếng gọi của non sông cũng là ngày chấm dứt cuộc đời thư sinh mơ mộng:

Anh ra đi gói theo hành trang nhỏ
Ấm quê hương thương mấy giọt lệ chào
Cửa xe cuối đời học sinh áo trắng
Khép kín khung trời thơ mộng xuyến xao

Đại dương đã có một sức quyến rũ. Vào thời điểm đó, chiến cuộc đang tràn lan khắp nơi trên quê hương, với tuổi trẻ đầy bầu nhiệt huyết, nhìn cuộc đời bằng một màu xanh, màu xanh của mặt đại dương bao la, màu xanh của hy vọng tuổi trẻ:

Xưa yêu biển anh mộng mơ hải nghiệp
Dệt hồn mình thẳm tuyệt một màu xanh


Khi gia nhập quân chủng Hải quân khóa 20 Đệ nhị Hổ Cáp, những chàng trai được đào luyện theo truyền thống từ Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang đã ôm ấp một cuộc đời binh nghiệp với những chuyến hải hành phiêu lưu bất tận:

Áo trắng tinh anh mũ vành phong nhã
Nếp chỉ vàng vai áo dạ hoàng gia
Hoa biển mộng ẩn đầy vai khổ nhục
Cánh tay trần luyện hái gió đo mây
Ngày đăng quang quỳ đưa tay vũ trụ
Đeo nhẫn vàng thách thức ngũ đại dương
Suốt những tháng năm thêu dệt mộng hải hồ, với những chuyến đi công tác, quần đảo Trường Sa là địa danh đã ghi lại biết bao nhiêu kỷ niệm với những chuyến hải hành đầy mưa giông bão táp, với tầm bao la của biển trời, và sự nhỏ nhoi cô độc của thủy thủ giữa ngàn khơi. Các binh sĩ đóng ở các hải đảo hẻo lánh xa xôi với sóng nước mênh mông chung quanh, chỉ có bạn là những chú chim hải âu với tiếng kêu vang trời trên hải đảọ Các thủy thủ thường chỉ mong thấy được bóng dáng con tàu để tưởng nhớ đến đất liền, bắt cầu nối nhịp với đời sống loài ngườị Người thuỷ thủ liên tưởng một thế giới biển cả thâm sâu bí ẩn, và hằng hà sa số các sinh vật đặc thù kỳ lạ trong thế giới thủy cung:

Rồi từ đó loài kình ngư lượn sóng
Mộng thủy cung huyền thoại mỹ nhân ngư
Ngắm sao trời gió lũ sóng ba đào
Đi chất ngất chuyến phiêu lưu kỳ ảo
Chiều Trường Sa hải âu bay ngập đảo


Con tàu vượt đại dương trong những chuyến hải hành của người lính thủy đáp lại chí tang bồng:

Bến ở đi sương mờ giăng hải lý
Gan thép thề bền bỉ với non sông
Những ca đêm hải hành vào tác xạ
Đại pháo bắn đi rung cả thân tàu

Rồi những chiều mưa giông vờn bão lớn
Tàu nghiến mình răng rắc rợn cả da
Và những chuyến xuôi buồm trong nắng sớm
Thủy thủ hát ca vang vọng cả boong tàu


Hải nghiệp tưởng đã theo mình, nào ngờ biến cố tháng Tư năm 1975 đã khiến cuộc đời rẻ qua một khúc quanh lịch sử khác, gắn liền với định mệnh của dân tộc:

Phiêu lãng đời trai ngất cao ước mộng
Bỗng một chiều ác mộng tháng Tư đen
Nhổ neo cắt xuồng đắng cay tấc lưỡi
Xếp lá cờ tức tưởi kiếp tha hương


Buổi chiều tháng Năm năm 1975 tại hải phận Phi Luật Tân, chưa bao giờ người tha hương lại có một cảm giác lưu vong buồn nản cho kiếp người đến tức tưởi như thế. Bây giờ mỗi khi nhắc lại biến cố này không khỏi nấc nghẹn nơi cổ:

Ngày Ba tháng Năm tàu vào Phi phận
Con số chiếc tàu sơn cạo, xóa tên
Bao nhiêu uy danh nay thành hư ảo
Khối sắt vô hồn, thây xác rỗng tênh
Còi chào sĩ quan nghe cay đắng nhức
Viên chức Hoa Kỳ trình ủy nhiệm thư
Nhận các con tàu vừa thành vô chủ
Áo biển trẽn trơ ngày mất bến bờ


Trong lòng mang tâm sự của một người lính trẻ, đã không còn được cả cái quyền buồn vì da ngựa bọc thây nữa, và đã thoáng lo âu về tương lai đất nước:

Cả trời tin yêu một lòng anh dũng
Tuổi trẻ kiêu hùng dâng hiến quê cha
Nay quê chẳng còn, con buông chí cả
Mai con đi rồi ai giữ quê tả


Buổi chiều trao trả chiến hạm lại cho các sĩ quan Hoa Kỳ để họ bàn giao tàu lại cho hải quân Phi, khi lệnh hô: “Hạ kỳ!”, cả thủy thủ đoàn anh ai cũng chào tay mà khóc sướt mướt, vì biểu tượng cuối cùng của đất nước, chất keo sơn cuối cùng gắn bó giữa những người bạn đồng đội đã bị tước đoạt đi:

Chiều gió mơ màng hàng người im phắc
Đứng thẳng boong tàu cứng ngắt, chào tay
Nhìn lá cờ vàng lòng đau quặn thắt
Còi thổi: “Hạ kỳ”, mọi mắt đều cay
Có kẻ nấc lên người kềm nước mắt
Nhìn lại bạn bè hận ức bủa vây
Hăm Chín Tháng Tư khăn tang ban phát
Tàu có hai xuồng chung thủy đón đưa
Lệnh gom quân vĩnh biệt đến giờ
Không kéo thuyền lên mà đành đoạn cắt
Thủy thủ chặt giây, hồn tim se thắt
Lìa bỏ con thuyền dứt bến bờ thương
Mồng Bảy tháng Năm ta mang đời tị nạn
Từ đó hằn sâu dấu tích quê hương


Tại trại tị nạn Orote Point ở Guam, chúng tôi đã cảm nhận cả một nỗi niềm cô đơn trống vắng mênh mông vào những tháng ngày đầu tiên trên xứ người. Nghe hồn mình như chú chim lạc bầy giữa thành phố lạ, mà lòng vẫn ray rức khôn nguôi tiếc nuối những tháng ngày lênh đênh trên biển cả:

Khuya nay lệ đắng hành trang
Chim về phố lạ, lũ đàn bỏ rơi
Sóng ơi xin chớ gọi mời
Biển yêu chớ trách một đời dở dang


Trước ngày ra đi khoảng 2 tuần, tôi được Thiếu Úy Hoành Khoá 23 cho biết tôi vừa có Nghị Ðịnh thăng cấp Ðại Úy, nhưng tâm trí nào còn màng đến
chuyện lên lon hay xuống cấp…Trong hành trình tức tưởi rời bỏ quê hương đi vào một phương trời xa lạ, anh em binh sĩ đến hỏi “Trung Úy ơi, mai mốt qua xứ Hoa Kỳ xa lạ, mình làm gì để sống hả Trung Úy?” Có biết đâu lòng mình cũng đang hoang mang không kém gì những binh sĩ này:

Chiều nào nghe tên mình đọc trên loa
Ngỡ ngàng bước lao mình cơn gió lốc
Đi ở chia tay giã từ rào cổng
Mỏi gót chân đời nên cười hay khóc?


Cuộc đời tha hương sau đó chỉ là những chuỗi ngày dật dờ cho qua một kiếp người:

Mỗi ngày xa quê là một ngày lạc lỏng
Mỗi bóng mặt trời là một kiếp khổ sai
Mỗi tối hoàng hôn là âm tỳ tủi nhục
Mỗi sóng reo đùa là mũi nhọn chởm gai

Hôm nay nhận thêm tin chị Thanh Hiếu lìa đời, như sự vĩnh biệt cuả những bạn thân xưa thời trai trẻ...những Diệu Lý, Bá Long, Nam Bò, Sử Rỗ, Dũng Lọ v.v... Mình tự hỏi thế nào là sự hiện diện của chúng ta ...như những đêm kế bên hảng nước đá Huỳnh Ðức thời theo học lớp Ðệ Nhất trường PBC, từng bàn luận:

Con người là các sản phẩm chưa hoàn tất –
Unfinished products,
Cho tới vài giây trước khi buông tay nhắm mắt.
Cuộc hành trình
Thế có phải chăng là một chuỗi dài học hỏi,
để vượt qua các giới hạn?


Một hôm nào, chợt nhìn lại, tuổi xuân đã qua, dù giấc mộng giang hồ trên biển cả vẫn còn rất mãnh liệt, trong ta chỉ còn ký ức của một thời ngạo nghễ:

Nay phố lạ áo gươm trao trả mộng
Thoáng rượu nồng hổ chợt nhớ rừng xưa
Ôi hải nghiệp biển yêu còn ấp ủ
Tóc ngã màu chim rũ cánh phiêu du… 
Cát Biển
PBC-68

Phân Ưu CHS-PBC69 Vũ Thị Bạch Yến

Thành Kính Phân Ưu
Nhận tin trễ chị Vũ thị Bạch Yến
Pháp danh Nhật Oanh,
Cựu hs PBC69, là chị của bạn Vũ Công Luyến PBC73,
vừa tạ thế tại Nam California.
Hưởng thọ 67 tuổi.
Xin chia buồn cùng tang quyến và cầu nguyện cho hương linh chị Bạch Yến sớm an nghĩ Cõi Vĩnh Hằng.
Nhóm anh chị em Cựu HS Phan Bội Châu Phan Thiết, Nam California,
Thân hữu Bình thuận - Nam California.
(Mõ PBC69)
Ted Tao Nguyen
Nguồn từ:
Thompson Nguyễn Xuân Thuỳ PBC73

Phân Ưu nhóm CHS Phan Bội Châu & Hội Thân Hữu Bình Thuận Nam California.



Được tin buồn chị Huỳnh Thanh Hiếu
là chị của Huỳnh Xuân Hồng PBC72.
Vừa mãn phần lúc 6:30g ngày 30 tháng 9 năm 2017 tại thành phố Portland, Tiểu Bang Oregon Hoa Kỳ.

Thành thật chia buồn cùng Xuân Hồng PBC72, Chánh cùng gia đình tang quyến
nguyện cầu hương linh chị sớm về cõi niết bàn.

Cựu Học Sinh Phan Bội Châu Niên Khóa 1972

Thành thật chia buồn cùng gia đình Huỳnh Nhơn PBC69 và các em Thuỳ Hiệp, Jennifer Huỳnh, ...
Được tin chị Huỳnh Thị Thanh Hiếu, cựu HS PBC68, là chị của các HS PBC: Huỳnh Văn Nhơn PBC69; Huỳnh Thuỳ Hiệp PBC 79; Jennifer Nghĩa Huỳnh PBC78, vừa tạ thế tại Porland Oregon, USA ngày 30-9-2017.
Cầu nguyện hương linh chị Thanh Hiếu Huỳnh sớm yên nghỉ Cõi đời đời!
Thành kính Phân Ưu đến gia đình họ Huỳnh Nhơn, Thuỳ Hiệp,...
nhóm HS PBC Nam California &
Thân Hữu Bình Thuận Nam California.


Một ngày đầu mùa đông Thanh Hieu Huynh một người con của Mẹ...người chị &em của chúng ta đã mãi mãi ra đi rời bỏ cỏi tạm để theo chân đức Phật về nơi xa xăm ....vô thường .. ấy
Gia đình con xin chia sẻ sự mất mát ...và nổi đau cùng Má 6 và các em . Nguyện cầu đức Phật từ bi dẫn dắt hương linh em về cỏi niết bàn

FB  



Vĩnh Biệt chị Huỳnh thị Thanh Hiếu PBC68:

Một đời rồi cũng đã qua
Còn gì để lại sau tà áo xưa
Thâm tình ân nghĩa vẹn chưa?

Chiều nay nắng tắt ai đưa tiễn người?

 
K.D. Lê
9/30/17

❤️Vĩnh biệt chị
Nguồn:KD Lê


Được tin chị Huỳnh Thanh Hiếu chị của Huỳnh Xuân Hồng vừa ra đi lúc 6:30g chiều nay tại Portland, Oregon. Thành thật chia buồn cùng Xuân Hồng và Chánh, cầu hương linh chị sớm về cõi niết bàn.
AT


Lộc xin chia buổn cùng vợ chồng Hồng Chánh và gia đỉnh 
Lộc xin cầu nguyện cho chị Hiếu sớm về cỏi cực lạc
Thành kính phân ưu 
Lê Thị Lộc PBC72
Được tin buồn chị Huỳnh Thanh Hiếu là hiền thê của Anh Lê Hoàng Thanh vừa mãn phần tại Oregon, Porland ,USA. 

Thành thật chia buồn cùng Anh, Anh Nhơn chị Phương, Xuân Hồng và Chánh, các em Hiệp, Nghĩa và đồng tang quyến. 

Nguyện cầu hương lính chị sớm tiêu diêu miền cực lạc. 

Nam mô tiếp dẫn Đại Sư A Di Đà Phật. 



Đồng kính phân ưu 

G/đ Nguyễn   Hiếu 

G/đ Nguyễn Tín