Friday, October 30, 2015

PARIS và NHỮNG NƠI KHÔNG CÓ ÁNH SÁNG

Hơn cả thế kỷ nay, người đời luôn gọi Paris là kinh đô của ánh sáng. Thật vậy, Paris về đêm luôn có thật nhiều ánh sáng vô cùng diễm lệ. Ánh sáng ở Paris không phải là ánh điện tử digital chói mắt như Las Vegas, cũng không diêm dúa ngũ sắc như Thượng Hải, không rực rỡ thời đại như HongKong. Đến Paris là để nhìn những ánh đèn vàng từng ngự trị trên những cột đèn cổ xưa, chạm trổ mỹ thuật hàng trăm năm qua, và cũng để cảm nhận một Paris về đêm trong tiếng nhạc cổ điển cất lên từ các quán rượu, của vòng khói thuốc bay lững lờ, của đôi tình nhân nép vào nhau bên bờ sông Seine, của ly rượu chát như không bao giờ thiếu trên bàn tay của các chàng trai lãng du cô đơn - cứ cố nán lại trong quán dù đã quá nửa khuya... Du khách đến Paris luôn gặp ánh sáng ấm cúng phủ đầy vai và tiếng nhạc lả lơi len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm....Và... tôi cũng vậy, những ngày đầu ở Paris tôi đã đắm mình trong không gian vô cùng lãng mạn. Tôi đã đến những nơi đầy ắp tiếng cười, những nơi có đầy sự sống, rất nhiều màu sắc lãng mạn tràn ngập.... Một ngày, hai ngày, ba ngày.... sang đến ngày thứ tư, tôi bỗng dưng muốn tìm xem những góc khuất thật tối của Paris. Những nơi nào mà ánh sáng không chiếu đến được, những nơi chốn đối nghịch của sự sống hoặc không còn thuộc về hiện tại.... Tôi muốn nghe lại một âm thanh của quá khứ, của một thế giới khác nằm sâu dưới lòng đất của Paris... Không biết tiếng cười ở dưới kia có khác chi tiếng cười khanh khách dày tình, nhiều sắc dục mà tôi đang nghe, đang thấy trên cuộc đời này hay không...?
Có đấy, có một Paris rất khác, âm u bên dưới lòng đất với những con đường chằng chịt không thua gì bên trên mặt đất. Có hơn sáu triệu bộ xương người đang được cất giữ bên dưới những con đường hầm đen tối, ẩm ướt. Có những nghĩa trang cổ với nhiều căn nhà mồ âm u, lạnh lẽo, rêu phong đã hàng trăm năm. Những nơi mà cho dù đến vào giữa trưa, người ta vẫn cảm giác những giòng từ trường âm tính như len lỏi, chạy dọc, xuyên thấu cơ thể, buốt lạnh xương sống.....
.
ĐƯỜNG HẦM CHẰNG CHỊT GIỮA THỦ ĐÔ HOA LỆ
Theo các tài liệu được lưu lại của thành phố, ngay từ thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên, người La Mã cổ đại sống ở đây đã bắt đầu đào những đường hầm để khai thác đá vôi. Những viên đá đầu tiên được dùng để xây hai công trình kiến trúc vĩ đại mà hiện nay vẫn còn di tích là vận động trường Arènes de Lutèce và nhà tắm hơi La Mã Thermes de Cluny. Theo thời gian, nhu cầu vật liệu dành cho những công trình kiến trúc khác vẫn tiếp tục, nên đá vôi lại tiếp tục được khai thác thật sâu bên dưới lòng đất. Cũng từ những đường hầm này, một số người nghèo lại tìm xuống để ở. Nơi thì cắt đá để xây cất, người thì đào sâu rộng ra để trú ngụ....và cứ thế, qua nhiều thế kỷ, hệ thống đường hầm bên dưới lòng thành phố ngày càng chằng chịt hơn. Nhiều người đã ví và so sánh, bên trên mặt đất của Paris có bao nhiêu con đường, bên dưới lòng thành phố cũng có bấy nhiêu con đường. Năm 1777, vua Louis XVI đã ra lệnh phải rà soát lại hệ thống đường hầm này vì vấn đề an toàn cho thành phố. Các nhà toán học, địa chất và kiến trúc sư tài giỏi, theo yêu cầu của nhà vua đã được mời đến, họ đã vẽ lại bản đồ của các đường hầm, thực hiện những hệ thống cột kèo chống lún, chống sập. Kể từ đó, không ai được phép đào thêm đường hầm nào nữa.
.
Nói về xã hội Paris thời ấy, có những xác chết vô thừa nhận được chôn trong các nghĩa trang của nhà thờ và các khu đất hoang ngày càng nhiều. Trải qua nhiều thế kỷ, đã có hàng trăm khu đất và nghĩa trang chôn những xác chết vô danh rải rác khắp nơi. Đa số đây là những xác chết được đưa ra từ các bệnh viện thí do giáo hội Thiên Chúa Giáo điều hành. Năm 1785, chính quyền thành phố Paris ra lệnh giải tỏa tất cả các nghĩa trang trong nội ô để lấy đất mở mang thành phố. Bắt đầu từ năm 1786 đến năm 1814, toàn bộ những bộ hài cốt vô thừa nhận này được cải táng, đưa vào hệ thống đường hầm bên dưới lòng đất. Xương và đầu lâu được sắp xếp cao như những bức tường, dọc theo lối đi. Ước chừng đã có trên 350 nghĩa trang lớn nhỏ đã được giải tỏa. Theo các thống kê, có trên sáu triệu bộ hài cốt được đưa vào hầm mộ này. Những xương ống, xương tay và đầu lâu được xếp dọc trên các lối đi, tuy vậy, đó cũng chưa là tất cả. Còn rất nhiều xương các loại khác nhau hiện vẫn còn chất đống trong các phòng chứa, đang được khóa kín mà du khách không thể vào được.
.
Rất ít người dân ở Paris biết đến hệ thống hầm mộ này. Từ năm 1810, một lượng khách ít ỏi được vào tham quan. Có giai đoạn chính quyền đóng cửa không cho ai vào vì đã xảy ra trường hợp đi lạc và mất tích trong các hệ thống đường hầm chằng chịt này. Xưa, khi vào bên dưới đường hầm, khách tham quan phải cầm một cây đuốt và lần mò từng bước, nay thì đã có đèn chiếu sáng. Địa điểm hầm mộ này tại Paris được xem là khu hầm mộ lớn và nổi tiếng nhất thế giới, đón nhận du khách đến tham quan mỗi ngày. Tôi đã đứng xếp hàng hơn hai tiếng đồng hồ mới vào được bên trong, vì các đường hầm rất nhỏ hẹp, không thể vào cùng lúc nhiều người. Hơn nữa, nhiều người vào cùng lúc sẽ gây ra ồn ào, mất đi không khí âm u, lạnh lẽo và yên tịnh cần có. Khi quý vị xem phim hoặc nhạc kịch Phantom of the Opera, quý vị sẽ thấy các chi tiết về đường hầm chằng chịt mà anh chàng “Phantom” dùng làm giang san sào huyệt. Đó không phải sự hư cấu và tưởng tượng mà đã được viết dựa trên đặc điểm thật của Paris, từ tấm bản đồ ngầm mà các nhà khoa học đã vẽ ra.
.
Hiện nay, vấn đề đào hầm đã không còn được phép nữa, ngay cả chuyện xâm nhập vào các đường hầm là tuyệt đối cấm kỵ và phạm pháp, các lối vào đều đã được bịt kín. Theo sự so sánh giữa bản đồ bên trên và bản đồ bên dưới thì hệ thống đường hầm chằng chịt này có diện tích bằng 1/10 Paris phồn hoa đô hội phía bên trên. Chỉ có một phần rất nhỏ (1/800) của hệ thống đường hầm được dùng chứa các bộ xương người như đã nói và làm thành Hầm Mộ Paris (Catacombs of Paris). 



NGHĨA TRANG CỔ, NHÀ MỒ VÀ NHỮNG DANH NHÂN
Nằm không xa nội ô Paris, có một nghĩa trang cổ được thành lập vào năm 1804 mang tên Père Lachaise. Đây là một khu đất rộng 44 hectares, có 77 000 ngôi mộ, trồng 5300 cây cổ thụ, được xem là công viên lớn nhất tại Paris. Tôi đi theo anh Ngô Kim Khôi, là người đã sống ở Paris trên 35 năm, anh rất rành tất cả mọi ngõ ngách của Paris. Anh Khôi, bạn tôi là một nhà thời trang nổi tiếng tại Paris, từng cùng các nhà thiết kế lừng danh thực hiện nhiều bộ xiêm y sân khấu cho danh ca Madona, áo cưới cho minh tinh Nicole Kidman, áo thời trang cho minh tinh Catherine Deneuve.... cũng như anh từng dựng mẫu cho các nhãn hiệu danh tiếng Louis Vuitton, Hermes, Yves Saint Laurent... Chúng tôi vào bên trong nghĩa trang, với sơ đồ xin từ văn phòng bên ngoài. Trong danh sách của nghĩa trang, có nhiều nhân vật tiếng tăm lẫy lừng ở mọi lãnh vực từ chính trị cho đến âm nhạc, văn, thi, họa.... Những ngôi mộ danh nhân mà chúng tôi tìm đến là Molière (kịch tác gia), La Fontaine (thi hào), Abélard & Héloisee (xem như Romeo & Juliet của Pháp), Georges Bizet (tác giả nhạc kịch Carmen), Chopin (nhạc sĩ), Apollinaire (thi sĩ bài thơ Mùa Thu Chết, được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc), Edith Piaf (danh ca)... Với tôi, những nghĩa trang xưa luôn cho tôi cảm giác bình yên. Lần nào đi Châu Âu, tôi cũng hay tìm đến ít nhất một nghĩa trang để lang thang và suy gẫm về cái vô thường của sự đời. Khi tôi “lang thang” đọc những tấm bia mộ, tôi như thấy lại được quá khứ của từng người đang nằm bên dưới. Họ cũng từng có những ước mơ, cũng từng yêu đương nồng nàn, từng khát khao cuộc sống, từng có đầy đủ hỷ-nộ- ái- ố dành cho cuộc đời....Giờ đây, khi sự sống chấm dứt thì tất cả vàng son và hận thù cũng trở về cùng cát bụi.....ai cũng xuôi tay một thế nằm như nhau cả !!!
.
Ngôi mộ của đại nhạc sĩ Chopin không khi nào vắng người. Hoa tươi luôn được khách mộ điệu đem đến mỗi ngày. Ngôi mộ của La Fontaine và Moliere cũng vậy, khách mộ điệu luôn đến chụp hình lưu niệm, có những người ở rất xa, họ đến từ Ai Cập, từ Nam Mỹ...Và đương nhiên, nếu kể đường xa thì còn có tôi nữa, tôi đến từ Bắc Mỹ!
.
Nhìn tiếp vào tấm sơ đồ của nghĩa trang, tôi đòi anh Khôi và người bạn đi cùng hãy đi với tôi đến thăm mộ danh ca Edith Piaf. Không hiểu sao tôi rất mến tiếng hát của bà, mặc dù khi tôi chào đời thì bà chết đã lâu. Khi tôi lớn lên, trong những năm trung học tại Canada, mỗi lần mệt mỏi với bài vở khuya, khi bụng đói mà tủ lạnh con nhà côi cút không còn gì để ăn, tôi chỉ có thể mở băng cassette của bà ra nghe rồi đi ngủ. Những âm thanh cũ, được thâu kỹ thuật mono xưa, rè... rè... một giọng hát mộc mạc, giản dị mà như xoáy tận tâm can thằng bé lớp 11 năm nào. Bà Edith Piaf thì rất quen thuộc với dân Việt Nam mê nhạc Pháp. Khi đọc về thân thế của bà, tôi đã rất xúc động. Theo một tài liệu đính kèm trong đĩa hát mà tôi đang sở hữu, họ ghi rằng cha mẹ bà đều là những nghệ sĩ hát dạo đường phố. Bà được sinh ra đời bên cạnh một đống rác, trên một con phố lầy lội tại Paris. Khi lớn lên, bà lại đi theo người cha hát dạo kiếm chút bạc cắc từ khách bộ hành, 13 tuổi bà được một hãng đĩa tình cờ phát hiện, cuộc đời bà đổi thay từ đó, nấc thang danh vọng cứ tiếp nối đi lên để rồi Edith Piaf trở thành một huyền thoại âm nhạc của cả thế giới.... Cũng như mộ của Chopin, ngôi mộ của danh ca Edith Piaf khi nào cũng đầy hoa tươi, luôn luôn có các khán giả mến mộ đến thăm và chụp hình. Tôi chỉ có thể ngồi sát vào tấm bia đá, nhờ anh bạn chụp nhanh tấm hình rồi phải nhường cho những khán giả ái mộ khác đến từ khắp nơi trên thế giới đang đứng chờ đến lượt họ.
.
Sau khi đã đi hết những ngôi mộ mà chúng tôi muốn đến thăm, trên đường trở ra, chúng tôi băng ngang qua nhiều căn nhà mồ âm u, kiến trúc trầm mặc. Có những nhà mồ đã bị hư hại, có căn bị sụp cánh cửa, có căn bị lún đất sâu mà tôi ngỡ có thể thấy được cả nắp quan tài bên dưới, có những ngôi mộ được rêu phong phủ xanh gần hết... Một vài con quạ đen hay loại chim gì tôi không rõ, đậu trên các bia đá, trên nóc các nhà mồ cất tiếng kêu nghe rất ghê.... Trời như muốn đổ mưa, mây đen kéo đến, gió thổi mạnh, gió lạnh buốc óc, gió hú từng cơn...những táng cây cổ thụ chờn vờn, lao xao trên đầu...Tôi nhìn trong đám lá vàng rơi đầu thu kia, có cả những chiếc lá chưa kịp vàng nhưng vì gió quá mạnh nên lá đành lìa cành mà rơi xuống.... Bầu trời bỗng xám xịt hơn, nhiều vầng mây nửa xám, nửa đen kéo đến rất ma quái chờn vờn trên đỉnh đầu.... Khí âm ở đâu bỗng như dâng lên, tỏa ra cả một vùng nghĩa trang rộng lớn...
.
Khi chúng tôi chạy ra được đến cổng chính, cũng là lúc mưa như trút nước đổ ào xuống !!! Nhìn lại phía sau, cả nghĩa trang chìm khuất trong một màn nước mờ mịt, trắng xóa....!!!
.
NƠI GIAM GIỮ HOÀNG HẬU MARIE- ANTOINETTE TRƯỚC KHI BÀ BỊ CHÉM ĐẦU
Cách Mạng Pháp nổ ra năm 1789 đến năm 1799 đã tàn sát không biết bao nhiêu người rất dã man, đã tàn phá rất nhiều các công trình kiến trúc và nghệ thuật của nước Pháp. Tôi được đi từ bắc chí nam, từ đông sang tây, đánh vòng dọc theo bờ biển của nước Pháp. Khi vào thăm các nhà thờ cổ, các tòa đô chính, các rạp hát, dinh thự cổ.... đâu đâu cũng còn dấu tích bị đập phá, tượng thánh bị cắt đầu, cổ vật bị mất cắp...hỏi ra đều do cuộc “cách mạng” Pháp này gây ra. Tôi có hỏi thêm rằng những nạn nhân thời ấy họ bị xử trảm ra sao, các hướng dẫn viên du lịch đã cho tôi xem nhiều tài liệu kể rằng 40 000 (bốn mươi ngàn người) giới trí thức tài giỏi, quý tộc, những nghệ sĩ tinh hoa, những vị linh mục cả đời chỉ biết hành đạo, những nhà kinh doanh thành đạt... đều bị đem ra xử tử kiểu chém đầu, tứ mã phân thây, treo cổ nhiều ngày trên cây cho đến khi thân xác nạn nhân bị phân hủy - xương rơi xuống đất.... Tôi đã nói quan điểm cá nhân của tôi với các bạn bè rằng ba cuộc thảm biến tại Châu Âu mà tôi cho rằng đã tàn phá tính nhân bản, tiêu diệt văn hóa và chà đạp văn minh con người, mà qua đó Châu Âu đã lãnh đủ là 10 năm của cuộc cách mạng Pháp từ 1789-1799, kế đến là chủ nghĩa cộng sản phát sinh từ Cách mạng tháng 10 Nga Xô trong thế kỷ XX, và không thể không kể tới là chủ nghĩa diệt chủng của Phát Xít rất kinh khủng đã bị chấm dứt vào năm 1945. Ngày tôi còn bé, học chương trình sử ở Việt Nam, sách vở nhà trường dạy cho học sinh rằng “Công Xã Pari (tức là chữ Paris)” là giải pháp tiên tiến để cải cách xã hội, hòng đem lại công bằng giai cấp (!). Cũng may là chương trình học ấy quá dở nên tôi đã trả lại hết chữ nghĩa cho nhà trường XHCN, chứ không thì đứa bé vô tội ngày xưa lại bị nhiễm bản tính sắc máu, rằng “giết và đập bỏ/ killing and destroying” là cách “tối ưu” để thay đổi một xã hội (!!!).
.
Cũng từ cuộc cách mạng tắm máu này, hầu như toàn bộ hoàng gia đời vua Louis XVI đã bị giết một cách dã man. Theo sự hướng dẫn của anh Ngô Kim Khôi, chúng tôi vào thăm nhà tù ở dinh La Conciergerie (nay thuộc Viện Bảo Tàng Quốc Gia). Nơi đây từng là dinh thự của hoàng gia khi trước. Khi cuộc nổi loại đẫm máu nổi lên, họ đã đưa hoàng hậu Marie Antoinette vào biệt giam trong một căn phòng phía sau vườn hoa. Căn phòng này cũng là nơi bà phải sống trong những ngày cuối cùng trước khi bị lôi ra chém đầu. Theo bảng hướng dẫn, chúng tôi lần theo hành lang để vào bên trong. Tim ngực tôi cứ nhói lên từng lúc vì sự trớ trêu của lịch sử và cuộc đời. Vào đến bên trong, viện bảo tàng dựng lại cách bài trí của căn phòng ấy đúng như ngày xưa. Căn phòng rất nhỏ, khoảng 120 sq ft, một bên kê chiếc giường đơn cũ kỹ, ọp ẹp, một bên là chiếc bàn gỗ nhỏ, có tượng bà hoàng hậu bằng sáp, trùm khăn đen, ngồi quay mặt vào tường - lưng xoay ra ngoài. Bên ngoài có hai lính canh, một bức mành lửng ngang ngực để lính canh có thể giám sát được bà 24/24. Phía bên kia của hành lang có một ô tò vò nhỏ để lính canh quan sát bà kín đáo từ một góc độ khác. Tôi đã cố gắng chụp nhiều hình để làm tài liệu. Tuy nhiên có một hiện tượng lạ là một tấm hình duy nhất tôi nhờ anh Khôi chụp tôi đứng sau lưng bức tượng sáp của bà. Khi về khách sạn xem lại, bức hình bị xoáy ốc không còn nhìn rõ. Tôi xin được chia xẻ bức hình này cùng bạn đọc. Mỗi bạn đọc sẽ có cách giải thích riêng cho mình. Đây là bức hình được chụp bằng iPhone, tức là mọi thứ đều được điều chỉnh tự động. Trước đây tôi cũng đã từng chụp được hai bóng trắng tại nhà tù diệt chủng Auschwitz của Phát Xít Đức. Khi đề cập đến những vấn đề thuộc về tâm linh, tôi không muốn hấp tấp phủ nhận hay khẳng định, bởi vì khi chúng ta chưa có khả năng chứng minh những điều khó hiểu ấy thì ta cũng không thể bảo đó là đúng hay sai. 


KẾT THÚC
Viết về Paris, theo tôi là một điều rất khó, bởi vì đây là một thành phố rất lớn, thu hút du khách nhiều nhất thế giới, hoa lệ nhất thế giới. Paris cũng là thành phố có nhiều danh nhân, văn nghệ sĩ thành danh nhất thế giới.... Đã có biết bao nhiêu sách vở, tài liệu, áng thơ văn viết về kinh đô ánh sáng Paris. Tôi đã đắn đo không biết phải viết như thế nào, bởi có đưa ra trình làng thêm cả ngàn trang sách về Paris cũng vẫn không có gì là mới mẻ...
.
Cơn mưa thu đầu mùa tối khuya hôm qua khiến căn phòng tôi lạnh hơn bình thường, nhiệt độ xuống nhanh chỉ còn 5 độ C. Ngồi dậy đóng cửa sổ, chỉnh lại nhiệt độ máy sưởi, tôi pha ly trà đen đậm, lãng đãng nhìn qua cửa sổ... những chiếc lá bị cuốn vào cơn gió cứ xoáy tít bên ngoài trông thật buồn trong thân phận xa cành. Mới ngày nào lá còn là những chồi xanh tươi tốt...
.
Tình cờ giọng hát của người đã chết mà tôi từng đến viếng mộ vang lên - bà Edith Piaf với âm thanh mono rè rè từ chiếc máy để góc phòng.... Rồi hình ảnh của những miếu đền, nhà mồ, hầm mộ, hàng triệu bộ xương người xếp lớp - nằm sâu 20 metres dưới lòng đất, nhất là lưỡi dao của máy chém (treo trong viện bảo tàng) từng dùng để chém đầu hoàng hậu Marie Antoinette, vua Louis XVI cùng nhiều ngàn người bỗng trở về trong tâm thức tôi như một nỗi ám ảnh.... Bước ra phòng ngoài, vặn lu chùm đèn chandelier, đốt ngọn nến trắng, mặc thêm chiếc áo choàng bên ngoài, tôi ngồi vào bàn, gõ máy trong vô thức.... Bụi Đường Xa....Paris và những nơi không có ánh sáng.... Tôi đã đến, đã nghe và đã thấy.... hàng triệu bộ xương người....!!!
 

BỤI ĐƯỜNG XA - Thời Báo phát hành tại Hoa Kỳ & Canada – Oct 29/15
Cột báo do Tôn Thất Hùng phụ trách

PARIS và NHỮNG NƠI KHÔNG CÓ ÁNH SÁNG
.
Nguồn FB Tôn Thất Hùng, Oct 2015

Thursday, October 29, 2015

CÔ BẠN NGÀY XƯA

(Xin được chia sẻ kỷ niệm cùng với Mỹ Vân)
Thật chẳng còn gì vui hơn nỗi vui gặp lại bạn ngày xưa nơi đất khách. Nhất là bạn của thuở ấu thời với bao kỷ niệm buồn vui tưởng đã theo thời gian mà đi vào quên lãng. Ba mươi tám năm rồi còn gì! Ba mươi tám năm thăng trầm theo vận nước với bao biến chuyển dồn dập đến như cuồng phong bạo vũ quả thật là một đoạn đường cam go dài thật dài. Nếu mang ra tính nhẩm thì nó cũng đã chiếm hơn hai phần ba tuổi đời của Hữu Anh trong hiện tại. Hữu Anh tôi lại bất chợt nhớ đến câu nói của người xưa: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ - Vô duyên đối diện bất tương phùng”. Mặc dù Hữu Anh không thuộc thành phần “Hán rộng” nhưng cũng biết nếu mang câu nói  trên sử dụng vào trường hợp này thì hữu duyên đâu không thấy mà chỉ thấy toàn là vô duyên! Hữu Anh muốn nói đến lần gặp gỡ lại cô bạn xưa trong ngày hội ngộ của trường trung học Phan Bội Châu - Phan Thiết, đươc  tổ chức tại tiểu bang Cali, Hoa Kỳ vào tháng 7 - 2015

Tôi đang loay hoay dọn dẹp một it vật dụng của sân khấu ngoài trời trong ngày tiền hội ngộ thì chợt thoáng thấy một dáng dấp quen quen. Dường như linh tính mách cho tôi biết, đó là một người mà trước đây tôi đã từng quen biết. Tôi tạm ngưng việc đang làm dang dở và chạy đến gần để nhìn xem thưc hư ra sao...Thôi đúng rồi, đúng là Mỷ Vân rồi. Tôi thét lên: 
_Có phải Mỹ Vân đó không ? 
Hỏi cho có hỏi chứ tôi đã chắc như bắp rang, đây chính là cô bạn Mỹ Vân cùa mình ngày xưa. Duy chì có một điều làm cho tôi ngạc nhiên gần như sửng sốt là Mỹ Vân trông còn quá trẻ mặc dầu chỉ cách vài bước nửa là đến cái tuổi  mà nhạc sỉ Anh Bằng gói gọn lại cho môt đời người qua nhạc phẩm " 60 năm cuộc đời ". Nhìn Mỹ Vân như khoảng ngoài bốn mươi một chút mà thôi.. Mỹ Vân quay lại nhận ra tôi  vui mừng la lên:
“_Ô ! Hữu Anh ..bạn mình...qua hồi nào...?
Tôi trả lời
_Được mấy ngày rồi Vân ơiiiiiii
Chúng tôi nắm tay nhau reo mừng như ngày nào hai đứa còn ở tuổi vô tư, chẳng buồn để ý đến sự hiện diện của những người chung quanh đang quây quần bên nhau trong không khi đầm ấm của ngày tiền hội ngộ. Chúng tôi nhìn nhau thật lâu để tìm kiếm cái nét còn sót lại của  thời ấu thơ cũng như những thay đổi trên khuộn mặt của nhau sau bao tháng năm xa cách.
Cô bạn của Hữu Anh vẩn thế, vẩn đẹp, vẫn dể mến như ngày nào. Mỹ Vân trông tươi mát tự nhiên với vóc dáng cao ráo, gọn gàng dù tuổi đời chồng chất. Hai đứa kéo nhau ra ngoài bài cỏ ngồi nhắc lại bạn bè củ ,thăm hỏi đứa còn đứa mất, đứa nào còn kẹt lại đứa nào đi được... ở đâu ...? Ôi thôi huyên thuyên đủ thứ, nhớ đâu nói đó thật là vui...Lâu lâu, hai đứa lại ré lên cười khi nhắc lại những mẩu chuyện vui ngày xa xưa
Nhớ trước năm 1975, tối cuối tuần là chúng tôi đóng đô trước nhà sách Vui Vui, dưới dốc cầu xuống vườn hoa nhỏ bên phố. Đầu dốc là nhà chú Năm Phùng ba của bạn Hiệp cũng là bạn của chúng tôi. Cả nhóm quây quần tán dóc, cắn hạt dưa, ăn bánh tráng mắm ruốt, chùm ruột, cóc, ổi ,xoài, mía ghim..  thỉnh thoảng lại rủ nhau đi ăn bánh căn ở Lạc Đạo, hay qua chổ ông Tàu góc Nguyễn Thái Học bên kia đường, gần tiệm may Nguyễn Đình Phúc uống sinh tố, hoặc ăn mì quảng ở ngả tư Quốc tế, bánh bèo Huế ở Hải Thượng Lãng Ông (đường lên Bệnh Viện). Mổi khi gặp lúc bà bán bánh quai vạc rao hàng đi ngang thì hầu như tối thiểu bọn này cũng chơi lưng nữa xoong... chỉ mình Mỹ Vân thì cũng đã hết 3 dĩa rồi... khửa...khửa...khửa... Trong nhóm có Tăng Vĩnh Thiện (cò Mười) con trai Út của chú Tăng Khánh tiệm sách Vui Vui, Hùng  (mụn), Mỹ Vân, Ngọc Dung , tôi (chín Thẹo) Thanh (Bồ), Dũng (sún) Vĩnh Chương (con bác sỉ Bửu Hàm) ở đường Đồng Khánh và thêm vài đứa nửa lâu lâu ghé nhập bọn.
Tôi hỏi Mỹ Vân
_Mỹ Vân còn nhớ Dũng (sún) không ?
Sau một chút suy nghĩ, Mỹ Vân nhớ ra... gật đầu
Tôi tiếp lời nó chết lâu rồi...
Vân trợn mắt ngạc nhiên ...
_Vậy hả ..sao chết vậy Hữu Anh
_Nó bệnh Mỹ Vân ơi.
....................................

Mỗi tối chia tay về nhà thì đã vào khoảng hơn 9 giờ tối. Tôi lãnh phần đưa Mỷ Vân về  trên chiếc xe đạp sườn ngang, còn Cò Mười chở Ngọc Dung cũng xe đạp sườn ngang. Nhà hai cô nàng cùng nằm trên đường Nguyễn Thái học. Mặc dầu cả hai xe đạp đều có yên sau nhưng hai cô nàng nghịch ngợm vẩn thích ngồi vắt vẻo một bên trên sườn ngang. Nhiều lúc cao hứng, chúng tôi chở nhau ra đường Trần Hưng Đao hay ngả ba Tam Biên ăn chè rồi mới chịu về, vừa chạy vừa nói chuyện cười đùa ỏm tỏi chẳng biết kiêng cử gì cả. Đường xá ngày ấy về khuya it người đi, khá vắng vẻ, không có cảnh chen chúc ồn ào bụi bậm như bây giờ nên chỉ có tiếng cười của chúng tôi lồng lộng trong đêm.
Sau ngày đứt phim một vài năm, Mỹ Vân với tôi không còn gặp nhau. Tôi về SaiGon đi học rồi nghe Mỹ Vân vượt biên định cư ở Mỹ..
Tôi chọc Mỹ Vân: 
_Hùng mụn hồi đó thương Vân mà Vân bỏ đi , nên bây giờ vẫn chưa vợ ở vậy đó Vân ơi !
Vân ngạc nhiên lườm tôi:
_Làm gì có chuyện đó,.. hồi đó Mỹ Vân có biết gì đâu... mà cũng có nghe nói gí đâu..
Vừa nói Mỹ Vân vừa gục gật cái đầu.  Đó là cố tật của cô nàng từ xưa tối giờ vẩn giử (hàng hiệu độc quyền) làm tôi phì cười cố tình chọc thêm:
_Bây giờ tối tối nó buồn nhớ Mỹ Vân thì ngôi nhậu cả chục lon Tiger với thằng Luật cùng liên lớp, Mỹ vân còn nhớ Luật không?
Vân nói nhanh :
_Luật làm bên Sở Giao Thông Vận Tải phải không ?
Đúng rồi nó làm bên Sở Giao Thông..., còn thằng Hùng thủy chung chờ Vân đã bốn mươi năm, kỳ này về tặng nó tấm bảng có nạm 6 chử bằng vàng bốn số 9  "MỘT ĐỜI DỰA CỬA CHỜ VÂN" .... khửa... khửa... khửa...
Vân đánh vào vai tôi nói:
_Ông phá tui hoài nha .. Vân đâu có biết gì đâu.. Vân vô tội à nha..
Nhìn điệu bộ dảy nảy phân bua thật thà của Vân lại càng làm tôi tức cười thêm. Mà thật vậy, lúc đó Vân rất vô tư, chẵng suy nghĩ hay có ý gì với đám húi cua tui tôi. Ai thầm yêu trộm nhớ cũng mặc kệ, cô nàng cứ mè nheo nhỏng nhẻo như con nit .. Có lẻ cô con gái rượu duy nhất, lại là con út nên dì Khuê, má Vân cưng như cục vàng. Ba Vân cấm tất cả các anh trai không ai được đụng tới cục vàng 24k này.
Gia đình tôi đến nhà Mỹ Vân thăm dì Dượng Khuê, Dì gặp chúng tôi Dì mừng lắm, Dì kễ chuyện ngày xưa làm việc ở bệnh viện Phan Thiết, những ngày còn ở VN cùng với những tháng năm sống trên đất  Mỹ ... Thương Dì quá, lúc nào cũng hướng về bạn bè quê hương và mang trong lòng một nổi buốn luyến tiếc xa quê.
Chúng tôi chia tay Mỹ Vân.. gia đình tôi ngày mai phải trở về lại Úc Châu. Chúng tôi mời Mỹ Vân sang năm cả nhà sang Úc chơi.. Gặp lại Mỹ Vân cho tôi cái cảm giác thật mãnh liệt. Những kỷ niệm ngày xưa quay trở lại, như mới ngày nào cả nhóm chúng tôi còn đang vui đùa trước hiệu sách Vui Vui, kéo nhau đi ăn đi chơi... vẫn tưởng mình như đang ở cái lứa tuổi Teen vô tư lự. Thật quý và trân trọng biết bao, những giây phút chúng tôi được sống lại bên nhau với tất cả chân tình và với một tình bạn thuẩn khiết, trong sáng như pha lê. Ôi, một tình bạn và một nhóm bạn mà Hữu Anh tôi không bao giờ quên được trong suốt cuộc đời này... cho đến bây giờ và mãi mãi về sau...
 
Một chút gì để nhớ để thương

Hữu Anh Kangaroo 10/2015

Auschwitz và những Oan Hồn


“The one who does not remember history is bound to live through it again” (George Santayana)

Điện thoại trong túi tôi rung liên tục, một người bạn từ Canada gọi rủ tôi đi uống café.  Cười nói cám ơn và cho anh ta biết tôi đang lang thang trên đường phố Warsaw, thủ đô của Ba Lan.  Đầu dây bên kia vội chấm dứt lời mời và lời tán dóc dông dài vì sợ tôi tốn tiền.  Anh bạn cúp phone khi tôi chưa kịp cho anh biết: hôm nay tôi sẽ đi thăm nhà tù Auschwitz, nơi mà Phát Xít và Hitler đã đưa hàng chục triệu người vào đây để thực hiện những tội ác tày trời trong Chiến Tranh Thế Giới thứ II, nơi mà tiếng kêu khóc đã ngất trời xanh và trở thành nỗi kinh hoàng nhất trong lịch sử văn minh con người từ cổ chí kim...



Từ thủ đô Warsaw đến trại Auschwitz độ chừng bốn năm tiếng đồng hồ nếu đi bằng xe bus (300km), tuy nhiên nếu đi từ cố đô Krakow thì chỉ mất chừng bốn mươi lăm phút (50 km).  Đây là trại giam lớn nhất mà quân Phát Xít và Hitler đã lập nên để giam và giết dần những người có nguồn gốc Do Thái, tù binh chiến tranh, những người gốc Gypsy, những người đồng tính luyến ái...  Hôm nay tôi được đi theo một đoàn các du khách từ Úc, Mỹ và Anh.  Một điểm tôi chú ý là lịch tham quan của đoàn này luôn nặng về văn hóa, lịch sử.  Đoàn có nhiều người là giáo sư đại học tại các quốc gia vừa kể.  Giá tiền của chuyến đi thì thuộc loại bình dân. À, thì ra các vị khách trong đoàn này họ thích học hỏi chứ không thích vung tiền ra để chứng minh ta đây là trưởng giả.  Tất nhiên khi được đi chung đoàn với những vị uyên thâm về kiến thức, tôi rất yên tâm vì những gì tôi thiếu sót trong hiểu biết sẽ được bạn đồng hành trả lời ngay lập tức.

Xe ra khỏi thành phố là những cánh đồng trồng lúa mì, trồng nho quen thuộc ở Châu Âu, và rồi cũng đến được thị trấn Katowice và rẽ vào con đường đến trại tạp trung Auschwitz.  Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là những hàng rào kẽm gai dầy đặt.  Địa thế của trại tù Auschwitz hiểm trở vì có sông nước bao bọc, những người tù rất khó trốn thoát.  Khi Hitler và Phát Xít chọn khu vực này trên đất Ba Lan vào năm 1940, chúng đã giở nóc và phá tan hơn một ngàn căn nhà dân.  Trại có ba khu vực riêng biệt và bốn mươi dãy láng trại cho mỗi khu vực.  Khi vào một khu vực được sử dụng như một viện bảo tàng với nhiều hiện vật, tôi đọc được hàng chữ: “The one who does not remember history is bound to live through it again” tạm dịch là: “Những ai không học lịch sử thì sẽ để lịch sử lập lại”.  Được biết câu này của ông George Santayana.



Không khí bên trong khu nhà rất lạnh, cái lạnh không phải của máy điều hòa nhiệt độ mà dường như của một thế giới nào đó, của tử khí, của những âm hồn còn vất vưởng trong oan ức ở dương thế.  Tôi được đưa vào bên trong sâu hun hút để chứng kiến hàng núi áo quần, vật dụng cá nhân của tù nhân. Họ đã phải trút bỏ tất cả để đi vào lò hơi ngạt. Mỗi ngày đã có khoảng hai mươi ngàn nạn nhân gồm người già, phụ nữ, trẻ em là những người bị đưa vào lò hơi ngạt trước.  Những người đàn ông khỏe mạnh bị giết sau, bởi vì họ còn có thể sử dụng làm lao động khổ sai. Tại đây mọi người bị lùa vào phòng kín, rồi những bình gas sẽ được mở ra gây ngạt, các nạn nhân sẽ chết trong vòng vài phút.  Ngoài lò hơi ngạt, có khu vực khác dùng súng tử hình, có khu vực có cả những dàn giáo để treo cổ các nạn nhân.  Những phụ nữ có mái tóc dài đều bị cạo trọc và tóc của họ được bện lại thành dây thừng dùng cho quân sự...  Tôi thấy có những con búp bê bị gãy tay, những chiếc valises ghi tên chủ nhân, những vật dụng cá nhân của các gia đình, những cặp mắt kính, những đôi ủng...tất cả cho tôi những mường tượng về các nạn nhân.  Họ đều là những con người có cuộc sống bình thường, nhưng chỉ vì lòng thù hận, vì khác biệt quan điểm, khác biệt giống nòi, khác biệt giới tính mà Hitler và Phát Xít đã ra tay tàn sát tiêu diệt họ.  Trong nhiều trại giam rải rác khắp Châu Âu thì trại này lớn nhất.  Ước chừng có khoảng một triệu rưỡi người đã bị giết chết tại đây.  Người gốc Do Thái bị đưa về từ nhiều nơi của Châu Âu vẫn là nhóm đầu tiên mà Phát Xít cần phải giết trước và giết nhiều nhất.

Bên trong trại Auschwitz, có một khu nhà được dùng làm nơi thí nghiệm tàn ác của nhiều tên bác sĩ, đứng đầu là Josef Mengele.  Những tù nhân khỏe mạnh, những cặp sinh đôi hoặc những ai có một khuyết tật trên cơ thể đều bị đưa vào đây để làm các con vật thí nghiệm.  Những thí nghiệm có thể kể là họ bị mổ sống không có thuốc tê, bị lột áo quần cho đứng ngoài trời tuyết,....những tên đồ tể này muốn thực hiện các thí nghiệm điên cuồng để thử xem sức chịu đựng của con người đến cỡ nào, khi nào thì người ta sẽ chết và khi nào thì sức đề kháng mới phải chịu thua môi trường, hoàn cảnh...Nỗi kinh hoàng của các nạn nhân được xem là đau đớn tột cùng ở đây vì họ bị chết từ từ qua những thí nghiệm tàn bạo, nhiều người đã phát điên loạn trước khi họ bị giết. 

Tất cả những người trong đoàn đều cùng cho biết họ cảm thấy rợn tóc gáy và lông tay bị dựng đứng khi bước chân vào lò hơi ngạt, nơi đã giết chết hàng triệu người.  Tôi cảm thấy tử khí oan khiên nơi đây nặng nề quá, như muốn đặc quánh cả không gian quanh tôi.  Cơ thể tôi run lên bần bật, nhưng hoàn toàn không phải vì sợ hãi mà dường như là xúc động và đau đớn, đồng cảm cùng các nạn nhân bị giết tại đây.  Những oan hồn như đang ở sát bên tôi than khóc. Tôi đưa tay ra quờ quạng, chỉ muốn nắm lấy được một bàn tay tội nghiệp vô hình nào đó, để cho họ biết: tôi hiểu và tôi đang đau cùng họ...

Tôi đã chụp lại rất nhiều hình từ bên ngoài cho tới bên trong trại tù để dùng làm tư liệu sau này. Có một điều tôi cho là khó giải thích khi vào căn phòng kế bên, nơi được dùng xử phạt kỷ luật tù nhân.  Đó là những hộc xây bằng cement khoảng một mét vuông rộng, cao cũng khỏang một mét.  Nếu bị cho là vi phạm nội quy, bốn người tù sẽ phải đứng chung trong cái hộc bé nhỏ ấy trong vòng mười hoặc mười hai đêm liên tục, họ muốn ngồi cũng không thể vì quá chật.  Ban ngày họ vẫn phải đi lao động khổ sai, đêm về đứng tiếp... Đa số đều chết vì kiệt sức sau vài ngày bị hành hạ. Khi người thuyết minh vừa giải thích đến đây, tôi nghe một tiếng thở dài nhẹ như một tiếng gió lạnh bên tai, tôi quay qua thì không có ai đang đứng gần tôi cả.  Đưa máy chụp hình lên bấm, âm thanh khô khốc vang lên nhưng flash không sáng.  Tôi xoay ngược cái camera để điều chỉnh lại, khi tôi chỉnh xong thì mọi người trong đoàn đã đi qua phòng khác, chỉ còn một mình tôi đứng nơi đây.  Tôi đưa máy lên bấm một cái nữa rồi nhanh chân bước theo phái đoàn... Đến tối trở về khách sạn, xem lại những tấm hình thì tôi như muốn đánh rơi cái máy....bên trong một cái hộc lúc ban chiều, tôi thấy rõ có hai bóng trắng thấp thoáng mờ ảo trong ấy...Tôi tức tốc chuyển tấm hình qua máy laptop để xem cho kỹ hơn...vẫn là thế, tôi đã không thể giải thích được điều gì hơn nữa (xem hình đính kèm)



Năm 1945, Phát Xít thua trận quân Đồng Minh và Liên Xô, tuy nhiên quân Đồng Minh không vào Ba Lan và là quân đội Liên Xô đổ vào như một sự dàn xếp, chia phần trên bàn cờ chính trị.  Quân đội Liên Xô đã vào giải cứu bộ đội của họ bị bắt và giải tán trại tù.  Mãi cho đến hôm nay, đã có nhiều thắc mắc là tại sao Hitler lại căm ghét những người dân vô tội gốc Do Thái, nhiều nhà sử học cũng thắc mắc nhưng không có câu trả lời chính xác.  Có giả thiết cho rằng vì người Do Thái rất thành công trong học vấn và thương mãi, nhưng Hitler lại chỉ muốn người Đức là dân tộc thượng đẳng nên cương quyết giết bằng hết người Do Thái.  Tuy nhiên cũng có ý kiến bảo Hitler là người Áo, do đó không cần thiết hắn ta phải tôn vinh dân tộc Đức!  Chúng ta không thể biết được bên trong bộ óc của kẻ tội đồ của nhân loại này từng nghĩ gì, nhưng các thế hệ sau này cần biết, cần phải nhắc nhớ nhau về một giai đoạn lịch sử đau thương và dã man nhất mà nhân loại từng phải chịu đựng. Không thể để cho tội ác lịch sử lập lại lần thứ hai.

Một câu chuyện thời nay liên quan đến trại Auschwitz mà tôi nghĩ mình cũng nên đề cập.  Năm 1982, tại Pháp có một ca nhạc sĩ trẻ tên Jean Jacques Goldman, anh có mẹ gốc Đức và cha gốc Do Thái từ Ba Lan.  Cha anh trước đó không bao giờ nhắc đến câu chuyện đau buồn của giòng họ.  Nhưng trong một lần tình cờ, anh xem được cuốn album hình xưa của gia đình.  Những tấm hình trắng đen có các cô bé, cậu bé rất lạ mà anh chưa bao giờ gặp.  Hỏi thì cha anh mới phải kể về câu chuyện đau lòng trong gia đình, rằng những em bé đó đã bị lùa vào trại tập trung và tuổi thần tiên ngắn ngủi của họ đã kết thúc trong địa ngục trần gian.  Ám ảnh bởi ánh mắt ngây thơ của một em bé trong hình mà giờ đây đã là tro bụi, anh Jean Jacques Goldman đã viết nên bài hát dành cho con gái của anh khi bé đang nằm ngủ.  Bài Comme Toi đã ra đời như một bài hát ru của người cha dành cho con gái thơ ngây.  Anh kể cho con nghe về câu chuyện của một bé gái tên Sarah vừa lên tám tuổi, cũng có đôi mắt ngây thơ, có con búp bê trong tay, có những giấc mơ thần tiên và một gia đình êm ấm như con, như mọi người, nhưng giông bão đã ập đến, số mệnh của Sarah đành kết thúc!!!  Khi ca khúc ra mắt với sự trình diễn nấc nghẹn của chính tác giả đã gây xúc động trên toàn thế giới bởi điệu nhạc thánh thót thần tiên và lời hát nhân bản dành cho em bé trẻ thơ vô tội. Bài hát này trở nên nổi tiếng và được hát lên bởi nhiều ca sĩ khác nhau tại nhiều quốc gia.  Không hiểu sao khi bài hát này được đặt lời Việt, nội dung đã biến thành một bản tình ca đôi lứa có những câu dành cho nam nữ yêu đương với những nụ hôn và những khát khao chăn gối.  Rất nhiều các ca sĩ nổi tiếng Việt Nam ở hải ngoại lẫn trong nước đều hát lời Việt này.  Với tôi, tôi cảm thấy không công bằng cho các nạn nhân trẻ thơ lẫn tâm tư của tác giả bài hát.  Đành rằng một bài nhạc ngoại quốc vẫn có thể được phóng tác thêm một lời ca khác xa hẳn nguyên mẫu, nhưng đây là một bài hát hiếm hoi được viết cho các em bé ngây thơ đã sống ngắn ngủi và đã chết oan ức vì tội ác diệt chủng trong Chiến Tranh Thế Giới thứ II.  Người lớn chúng ta còn quá nhiều nhạc để hát cùng nhau, chúng ta không quá thiếu thốn để cần phải lấy đi một bài nhạc tưởng niệm dành các nạn nhân ngây thơ để mà nhảy nhót hoặc khề khà trong các cuộc ăn chơi thời thượng và lồng vào trong khung nhạc ấy những câu tình ái yêu đương ướt át...  Từ lâu, tôi đã bỏ ra khỏi máy computer của tôi những bài hát Comme Toi lời Việt ấy, mặc dù rất tiếc, mặc dù tôi rất yêu các ca sĩ idol của tôi.  Khi đang viết bài này, tôi đã chạy xuống tủ nhạc, lục ra được 3 CDs cũng có bài này bằng lời Việt, cho vào nhà kho, khóa lại.  Tôi còn hơn hai trăm CDs khác để thưởng thức, nhưng các linh hồn bé nhỏ ấy chỉ có bài Comme Toi này mà thôi. Boys and Girls, please Rest In Peace !!!



Tôi đã hứa với những oan hồn rằng tôi sẽ kể lại thêm một lần nữa về những oan khiên của họ, và hôm nay tôi cảm thấy nhẹ nhàng khi đã viết xong. Tháng 7 âm lịch, mùa Vu Lan năm Quý Tỵ  - người ta tin rằng thời gian này, nếu được cầu nguyện, những oan hồn sẽ tìm được đường về với cõi vĩnh hằng không còn đau đớn. Xin nguyện cầu các đấng thiêng liêng hãy hóa giải khổ đau cho họ.

Tôn thất Hùng

 

Wednesday, October 28, 2015

ĐỜI SỐNG SAU NHỮNG CƠN MƯA BOM (National Geographic Tháng Tám 2015)



ĐỜI SỐNG SAU NHỮNG CƠN MƯA BOM
(National Geographic Tháng Tám 2015)

T. D. Allman viết
Ảnh do Stephen Wilkes cung cấp

Hoa Kỳ đã thả hơn 2 triệu tấn bom xuống nước Lào từ năm 1964 đến năm 1973 trong suốt trận chiến tranh Việt Nam. Số lượng bom tương đương với một phi cơ chứa đầy bom thả xuống cứ mỗi tám phút trong thời gian 9 năm. Làm thế nào quốc gia này khôi phục lại đời sống bình thường?

Những ngày trên cánh đồng Chum (Lào), tôi cố gắng hình dung, tìm câu trả lời trong suốt về đất nước Lào, một trong những quốc gia bị những trận mưa bom nặng nề nhất, vẫn tiếp tục đi lên và tìm thấy tương lai. Cuối cùng, trên một con đường ở Phonsavan, thành phố chính của tỉnh, tôi đã tìm ra, một đống vỏ bom khổng lồ, người Hoa Kỳ để lại sau những chiến dịch thả bom trên đất Lào. Một chứng cớ của sự tàn phá, và gần đống bom đạn phế liệu đó, có một máy lấy tiền (ATM). Một ngôi chùa lớn mầu xanh, trắng làm cho đống phế liệu trở nên “nhỏ nhoi” chìm dần vào lãng quên về một trận chiến tranh. Sau khi xem xét đống vỏ bom (qủa bom không nổ), tôi bước lại máy lấy tiền, cho thẻ tín dụng vào, lấy ra một triệu đồng (Kip, của Lào), khoảng 120 đô la Hoa Kỳ. Những tờ giấy bạc 50 ngàn (Kip) nói lên một câu chuyện mới về nước Lào, nơi mà những qủa bom đã nhường chỗ cho tiền bạc.
Trước đây, trong tỉnh Xiêng Khoang (nơi có Cánh Đồng Chum), trẻ con lớn lên ít khi được nhìn thấy ánh mặt trời. Dân chúng phải sống dưới hầm, trong những hang động. Ngày nay, Phonsavanis là một thành phố sầm uất, có đèn đường chỉ dẫn giao thông với con số điện tử cho người bộ hành biết còn bao nhiêu giây để băng qua đường. Bạn có thể tìm dễ dàng, một nhà băng, một tiệm ăn, một chợ bán đủ loại trái cây, rau qủa tươi, ngay cả một cửa hàng bán giầy thể thao (để chạy, có lẽ Adidas,Nike,…). Dọc theo những “chum” bằng đá cổ xưa trên Cánh Đồng Chum, vẫn còn bí ẩn cho những nhà khảo cổ, có những mảnh bom người Hoa Kỳ để lại sau những trận thả bom kéo dài từ 1964 đến năm 1973. Đó cũng là những “quảng cáo” hấp dẫn đối với du khách. Đống vỏ bom phế liệu năm ngay bên cạnh một văn phòng du lịch điạ phương.

Chỉ có vài nơi trên Cánh Đồng Chum mới được khai quang bom đạn an toàn cho du khác. Vài nhà khảo cổ tin rằng những cái chum khổng lồ 2000 năm dùng trong nghi lễ an táng.

Với những ngọn đồi trải dài xa xa trên cánh đồng cỏ tranh, Cánh Đồng Chum trông giống như một sân đánh Golf rộng lớn. Cát bụi lắng đọng nhiều trên cánh đồng do những trận mưa bom, hàng triệu qủa bom đã nổ, hàng triệu qủa không nổ khác vẫn là mối đe dọa thường xuyên, đặc biệt đối với những người Lào sinh sống bằng cách đi lấy sắt thép từ những qủa bom không nổ.
“Chào mừng đến thăm nhà ông Phet Napia, chuyên làm Thià (Muỗng) và Vòng đeo tay” nơi làng Ban Naphia. Trong sân sau nhà, ông Phet nấu chẩy nhôm từ những vỏ bom bằng nhôm, sau đó đổ vào khuôn làm các vật dụng ăn uống trong nhà. Các nhà hàng, tiệm ăn trong khu vực dường như lấy hàng: thìa, dao nĩa, đũa làm bằng phế liệu từ thời chiến tranh. Công nghệ của ông Phet đã được quảng cáo trong các dịch vụ mua bán nhà cửa, truyền hình vệ tinh, đèn điện,…
Một hình ảnh sống động
Quốc gia Lào có dân số không đến 7 triệu người, nhưng có gần 5 triệu điện thoại di động. Tại Ban Pak-Ou, một ngôi làng trong khu vực thượng lưu sông Cửu Long, những người dân sinh sống bằng nghề đánh cá, cũng vừa câu cá vừa nói chuyện qua chiếc điện thoại di động.
Thủ đô Vientiane (Vạn Tượng) là một thành phố đang phát triển với những dinh thự cao 12 tầng. Trước đây rất lặng lẽ với tiếng mưa rơi, tiếng khóc trẻ con, tiếng người nói cười, tiếng tăng sĩ cầu nguyện, bây giờ thay bằng tiếng máy điều hòa không khí, tiếng máy phát điện nổ, tiếng xe gắn máy, cùng tiếng bóp còi rộn đường phố.
Nền kinh tế nước Lào gia tăng gần 8% một năm. Lá cờ đảng Nhân Dân Cách Mạng với búa, lưỡi liềm theo kiểu Nga Sô vẫn tung bay bên cạnh lá cờ quốc gia. Chính quyền Lào theo đuổi chính sách kinh tế tự do trong vùng Đông Nam Á, với hy vọng sẽ ra khỏi danh sách những quốc gia nghèo khó của Liên Hiệp Quốc vào năm 2020.
Ở Lào, người giầu có trở nên giầu hơn, và ngay cả một nơi hẻo lánh nhất với những người dân đơn sơ, mộc mạc, tôi được chứng kiến một hình ảnh ít người trên thế giới hình tượng ra được. Gần biên giới Việt Nam, giữa nước Lào, tôi trông thấy một thanh niên trẻ lái xe gắn máy trên đường trở về nhà, một tay anh ta nắm chặt điã bắt sóng vệ tinh cho máy truyền hình. Trong những ngôi làng trên vùng núi non, cao nguyên, tôi được trông thấy đàn trẻ con đến trường trong đồng phục mầu xanh, trắng. Tôi cũng đã thấy nhiều đền chùa được sửa sang, và vài nhà thờ Tin Lành được xây dựng. Bạn vẫn trông thấy những vị sư trong áo cà sa ở khắp nơi, nhưng bây giờ họ mang theo túi đựng máy vi tính.
Giòng sông Cửu Long vẫn chẩy ngang qua VienTiane như trong lịch sử, nhưng dọc theo bờ sông đã thay đổi. Trước đây là bùn và bãi cát, bây giờ là hành lang công viên dài hai dặm, với nhữg dụng cụ thể dục, lối đi hẹp để chạy bộ, và bãi đậu xe hơi (nhà giầu). Buổi tối đông đảo với những cặp tình nhân, người bán hàng rong, người biểu diễn trên đường lấy tiền, tiếng cười trẻ em, và giới trẻ nhẩy múa theo kiểu tây phương (break dancing). Những nghệ sĩ (đường phố) ca hát và những “thầy” xem bói cho người đi dạo mát.

Như những chuyện đổi thay trên đất Lào, công viên bờ sông ở Vientiane là một thành công trong kế hoạch xây dựng thành phố, nỗ lực vào nếp sống người dân nơi giòng sông, nơi thoáng mát, rộng rãi. Ngoài ra còn bảo vệ Vientiane chống lụt lội do sông Cửu Long. Ai là người xây công viên bờ sông? Phần lớn do ngân khoản mượn từ Nam Hàn, một quốc gia phát triển mạnh ở Á châu. Nam Hàn giúp đỡ tích cực hơn những “siêu cường” (Pháp, Hoa Kỳ) trước đó.
Trong suốt thời gian Pháp thuộc và ảnh hưởng của người Hoa Kỳ, cả hai quốc gia chưa từng xây một chiếc cầu nào bắc qua sông Cửu Long. Ngày nay có tất cả sáu (6) chiếc cầu, một chiếc ở Thakhet rút ngắn thời gian đi lại, giao thương với Thailand và Việt Nam xuống còn 90 dặm. Ở Thakhet, tôi có thể nhìn qua đất Thailand từ cửa sổ khách sạn cư ngụ, trong khi xem đài truyền hình Việt Nam.
Một buổi sáng ở Vientiane, tôi gặp hội viên xe gắn máy, vào đầy phòng tiếp tân khách sạn “Chúng tôi trên đường đi Malaysia”, một hội viên nhã nhặn trả lời. Một chặng đường khứ hồi 2600 dặm. Một buổi sáng khác ở Louang Phabang, tôi thức giấc vì ngoài đường phố đầy xe cộ mới đến. Xe nào cũng có bảng số Trung Hoa. Khi những tay lái xe gắn máy đến từ Malaysia đi lên hướng bắc, đoàn xe người Hoa phát xuất từ Côn Minh (Kunming) đi về hướng nam. Trước đây khi ngồi trong máy bay cất cánh, hình ảnh hố bom hiện ra trong mắt tôi, bây giờ là một sân đánh golf mới do Nam Hàn xây cất.
Một thành phố hồi sinh
Một thời gian dài trước đây khi tôi đứng bên bờ sông ở Vientiane, tôi băn khoăn trước một câu hỏi mà biết rằng không thể nào trả lời được. Một người Hoa Kỳ như tôi, tưởng rằng có thể chiến thắng trận chiến Việt Nam bằng cách hủy diệt nước Lào? Khi tôi viết bài tường thuật, một cuộc chiến bí mật đang xẩy ra trên nước Lào, được đăng tải hàng đầu trên báo chí thế giới. Sự thật, người Hoa Kỳ đã nhúng tay vào chuyện bên Lào từ những năm 1950, kéo dài đến năm 1974, không bí mật. Bạn cứ hỏi một người dân Lào, chuyện gì đã xẩy ra trên quê hương của họ là đủ. Tất cả những phụ nữ bán hoa sen sáng sớm ở ngoài chợ, những trẻ em  ngoài đường đều biết đến đường mòn HCM, đạo quân bí mật do cơ quan tình báo CIA tài trợ, và cả chuyện phi cơ Hoa Kỳ thả bom nơi có thường dân cư trú. Họ biết luôn chuyện người Hoa Kỳ bí mật liên hệ đến việc mua bán trao đổi nha phiến (opium trade).
Trong năm 1968, năm Tổng Công Kích tết Nguyên Đán trên khắp miền nam Việt Nam, tôi lấy một chiếc taxi từ hạ lưu sông Cửu Long đi lên cao nguyên Bolovens. Khi người lái xe từ chối không chịu đi nữa, tôi lội bộ dưới tiếng gầm thét của phản lực Hoa Kỳ bay ngang qua. Nơi cuối chân trời, dưới rặng cây, tôi trông thấy bóng người ngụy trang. Đó là lần duy nhất trong suốt cuộc chiến, tôi trông thấy người lính Bắc Việt, hoặc phi cơ Hoa Kỳ thả bom. Năm đó tôi 23 tuổi, kiếm tiền bằng cách tìm ra sự thật.
Tại Pakxong, một đồn canh cũ cho chủ đồn điền cà phê người Pháp. Tôi lang thang vào một quán rượu bỏ hoang mà bạn có thể thấy trong phim về lính Lê Dương. Một bức họa trên tường vẽ “Tây Đồn Điền” cùng với một nhóm phụ nữ Lào. Lúc đó, trời đã tối, dấu hiệu duy nhất về sự sống là ánh đèn leo lét phát ra từ một căn nhà nhỏ bên cạnh nhà thờ Pháp. Trong nhà, tôi gặp một tu sĩ người Pháp cụt một chân đang ngồi uống rượu Whiskey, ống chân giả bằng gỗ đặt dựa vào bàn. Ông ta rót rượu cho tôi một ly, đang đọc một bài viết dịch sang tiếng Pháp về “Đoàn Quân Mũ Xanh” (Green Berets – LLĐB). Ông ta hỏi tôi “Trận chiến Việt Nam có giống vậy không?”.
Trong nhiều thập niên, tôi muốn thăm lại Pakxong. Tôi biết vị tu sĩ người Pháp đã không còn ở đó nữa, nhưng cũng không ngờ cả Pakxong cũng “biến” mất. Sau năm 1968, phi cơ B-52 đã trải thảm bom xuống Pakxong hai lần. Chỉ còn lại một góc cháy đen của một tòa nhà.

Vỏ bom được dùng làm cọc cho nhà chơi trẻ em ở XiengKhouang. Năm 2012, một qủa phát nổ làm chết 15 người Lào và bị thương 41 người khác.

Pakxong đã bị tiêu hủy, nhưng sao lần trở về có một sự vui mừng trong tim tôi? Đó là con người - Họ vẫn vui vẻ - bận rộn làm ăn cho cuộc đời tươi đẹp hơn. Như cả nước Lào, Pakxong cũng đang chuyển mình từ bãi chiến trường sang thị trường buôn bán. Nơi đồn bót của người Pháp xưa kia đã biến thành một cái chợ sầm uất, đông đảo kẻ mua người bán. Điều làm tôi thích thú nhất là “Con trâu sắt” (Iron Buffalo). Bạn hãy tưởng tượng, một nông dân Lào, muốn có đủ thứ quảng cáo trên TV nhưng không đủ tiền. Con trâu sắt cho bạn là đủ. Không như trâu thật, con trâu sắt có thể bơm nước cũng như kéo cầy, và nó có thể phát điện sáng nhà bạn. Sự thực đó là một máy tạo ra sức ép để bàn nhỏ, và bạn có thể xử dụng trong nhiều trường hợp. Gắn vào máy bơm nước vào ruộng, máy kéo cầy, kéo xe bò,…
Đó cũng là dịp cho tôi gặp gỡ Lan Keopanya. Anh ta gắn một tay lái (vô lăng) xe Volvo vào con trâu sắt, anh ta nổ máy chạy chiếc xe tự chế (homemade pickup), cho biết ngôi làng nhỏ của anh ta cách chợ Pakxong 12 dặm “chuyến đi mất 4 lít dầu, cũng đáng giá”, nhờ đi lại dễ dàng, anh ta bán được nhiều hàng hơn, cà phê, trái cây, rau qủa, và bán đắt hơn nhờ còn tươi. Hôm đó, Lan Keopanya ra chợ mua tôn plastic về lợp mái cho căn nhà mới. Anh ta hãnh diện khoe, cả sáu người con đều được đi học hoặc sẽ đến trường. Một con đường mới đã được làm đến đầu làng của anh ta. “Chúng tôi hy vọng sẽ có điện trong vòng hai năm tới”. Trước khi từ giã, tôi hỏi anh ta, còn ao ước điều gì nữa? “Chúng tôi cần khai quang, dọn dẹp bom đạn… Nếu xong, tôi có thể phát triển thêm nữa”
Trong thời gian thả bom trên đất Lào, dân tộc thiểu số sống trên vùng đồi núi chịu nhiều thiệt hại nhất. Kết cuộc, cả đôi bên đều bị thiệt hại, bom đạn không phân biệt cộng sản hay không cộng sản, cũng như quân nhân và thường dân, trẻ em. Keay Tcha, 58 tuổi, đã sống 17 năm ở Ban Na Oune, một trại định cư người Hmong gần Louang Phabang kể lại.
Một vấn đề á phiện mới
Một điều không thay đổi ở Lào, khí hậu nóng bức. Cơn khát đồ uống lạnh đưa tôi đến tiệm tạp hóa Khenchan Khamsao trên tuyến đường bắc nam đi Louang Phabang. Trong tiệm có tủ kính chứa nước uông lạnh, nhưng thùng rác mầu xanh mới đáng nói. Thùng rác có chân, bên trong rộng chứa được nhiều rác và có nắp đậy, được biến chế từ cao su, lấy từ vỏ bánh xe cũ.
Cuộc đời người chủ tiệm cũng thoát ra từ nơi bom đạn tàn phá. Bà ta đến từ tỉnh Khammouan trung tâm nước Lào, nơi này vẫn còn nhiều qủa bom chưa được khai quang nên không thể trồng trọt cầy cấy được. Cùng với chồng di chuyển đến khu vực mới này và thành công, cửa tiệm là tầng dưới căn nhà mới của họ. Người chồng tìm được công việc xây cất cách Vangviang 65 dặm về hướng bắc, cả ba người con đều được đi học. Đứa lớn được gửi đi học ở Vientiane.
Khi tôi nói, đi học ở thành phố lớn như Vientiane rất tốt cho việc học, bà ta trả lời “Không phải vậy, bà ta gửi con đi học xa để tránh những tay buôn bán thuốc phiện”. Trận chiến chống ma túy bắt đầu từ năm 1989 với sự tài trợ của Hoa Kỳ để tận diệt vấn đề ma túy. Năm 2006, Lào tuyên bố đã không còn tệ nạn ma túy, như khi đất nước đến giai đoạn mở mang, nền kinh tế phát triển, các loại ma túy như Metham Phetamines xuất hiện trở lại. Quốc gia Lào trở nên một trung tâm chuyển tiếp lớn cho Metham Phetamine, ma túy, và thuốc phiện. Cũng như ở Hoa Kỳ những vùng xa thành phố dễ bị ảnh hưởng nhất.
Sợ hãi những quả bom rơi xuống
Ở Lào, khi nhiệt độ xuống dưới 70 độ (độ F), người ta bắt đầu khoác thêm áo ấm, đội mũ và đốt lò sưởi. Một đêm cuối năm, ba người bạn  trong tỉnh Xiang Khouang đi cắm trại, đêm đó nhiệt độ xuống thấp và họ nhóm lửa để sưởi. Một quả bom nơi họ dựng lều phát nổ giết chết một người tại chỗ, một người khác bị thương nặng. Tôi đi thăm  người bị nhẹ nhất, Yer Herr nơi làng anh sống, người thanh niên 18 tuổi kéo áo đằng sau lên cho tôi xem 19 vết thương do mảnh bom trúng vào lưng.
Trong ngôi làng của Yer, mọi nhà đều có điện, máy truyền hình vệ tinh, mọi người lớn đều có điện thoại di động. Mỗi người Mẹ, người Vợ đều có chồng, anh em trai, em gái chết vì bom đạn Hoa Kỳ sau khi trận chiến kết thúc. Những quả bom đang rơi xuống vẫn còn tái xuất hiện trong giấc mơ của nhiều người. “Tôi sống với nó”.
Chiến tranh tiếp vận
Phi cơ Hoa Kỳ thả xuống tổng cộng 270 triệu qủa bom nhỏ trên đất Lào, nhiều hơn dân số Hoa Kỳ trong cùng thời gian. Thêm 4 triệu quả bom lớn. Trọng lượng bom cao hơn nhiều lần so với trọng lượng tổng số dân chúng Lào. Khoảng thời gian đó, dân Lào khoảng chừng 2 triệu người, mỗi người được “chia” trung bình một tấn bom.
Thường xuyên trong suốt cuộc chiến, Washington tuyên bố “Ngưng thả bom”, nhưng đường dây tiếp vận vũ khí, bom đạn kéo dài 8000 dặm trải dài từ các kho vũ khí ở Hoa Kỳ qua Thái Bình Dương không thể khóa lại đơn giản như lời nói. Do đó nếu quả bom không rơi xuống Việt Nam sẽ chuyển hướng sang Lào. Đó là trận chiến tiếp vận đầu tiên. Thêm một điều nữa, việc sản xuất hàng loạt bom đạn thiếu kiểm soát chất lượng. Có thể lên đến 10% số bom rơi xuống đất không nổ (hay chưa phát nổ).

American University of Nigeria
Department of Computer Science
vđh

PBC Hội Ngộ sưu tầm VDH dịch thuật