Thursday, January 28, 2016

Diễn Văn TT Obama cuối nhiệm kỳ 1 / 2010


Xin chào Philadelphia! Thật là tuyệt vời. Tôi ở đây để chào mừng tất cả các bạn và chào mừng học sinh trên toàn nước Mỹ trở lại trường học – và tôi nghĩ là để làm việc này thì không có nơi nào tốt hơn là Masterman. Các bạn là một trong những trường tốt nhất ở Philadelphia – là trường đi đầu trong việc giúp đỡ học sinh để họ có thể theo kịp được bài học trong lớp. Tuần vừa qua, do những thành tích của mình, các bạn được công nhận là trường National Blue Ribbon School. Đấy là lời chứng cho tất cả mọi người có mặt ở đây – cả học sinh lẫn phụ huynh, cả các thày cô giáo lẫn những người lãnh đạo nhà trường. Và đây là trường xuất sắc, tôi tin là các cộng đồng trên khắp nước Mỹ sẽ làm theo.

Cách đây vài tuần bà Michelle và tôi đã sửa soạn cho Sasha và Malia tựu trường. Tôi đoán là nhiều người trong các bạn cũng có cảm giác như hai cô con gái tôi. Các bạn cảm thấy hơi buồn vì mua hè đang trôi qua, nhưng các bạn cũng cảm thấy phấn khởi trước những cơ hội của năm học mới. Cơ hội có những người bạn mới và củng cố tình bạn đã có sẵn. Cơ hội tham gia câu lạc bộ trong trường và lập ra các đội thể thao. Cơ hội trở thành người học trò giỏi hơn và tốt hơn và làm cho gia đình các bạn có thể tự hào.
Nhưng tôi biết rằng một số bạn có thể lo lắng về sự khởi đầu của năm học mới. Có thể bạn vừa nhảy từ trường phổ thông cơ sở lên trường trung học cơ sở hay từ trường trung học cơ sở lên trường trung học phổ thông và lo lắng không biết nó sẽ như thế nào. Có thể bạn vừa mới bước chân vào một ngôi trường mới và không biết mình có thích nó không. Có thể bạn là người học lớp trên và cảm thấy lo lắng về quá trình học tập, và không biết mình nên thi vào trường nào và có đủ sức theo không.

Và ngoài tất cả những lo lắng đấy ra thì tôi biết là nhiều người trong số các bạn còn cảm thấy sự căng thẳng của giai đoạn khó khăn này. Các bạn biết những chuyện đang được nói tới trong các chương trình thời sự và cuộc sống của chính gia đình các bạn. Các bạn đã đọc về cuộc chiến ở Afghanistan. Các bạn đã nghe nói về cuộc suy thoái mà chúng ta đang trải qua. Các bạn thấy điều đó trên nét mặt cha mẹ mình và cảm nhận được nó trong giọng nói của họ.

Nhiều người trong các bạn phải hành động như những người già dặn hơn tuổi của mình, phải mạnh mẽ hơn để bảo vệ gia đình mình trong khi anh hay chị của bạn đang phục vụ ở hải ngoại, phải trông em trong khi mẹ bạn đi làm ca hai hay phải làm việc bán thời gian khi cha bạn thất nghiệp.

Có nhiều việc phải giải quyết, nhiều hơn là đáng lẽ bạn phải làm. Và đôi khi nó làm cho bạn phải tự hỏi tương lai của mình sẽ như thế nào, liệu bạn có tiếp tục theo học được hay không, liệu bạn có phải hạ bớt tham vọng, và điều chỉnh lại mơ ước của mình hay không. Nhưng tôi đến Masterman để nói với bạn rằng ngoài bạn ra, sẽ chẳng có ai có thể quyết định được số phận của bạn. Tương lai của bạn nằm trong tay bạn. Bạn tạo ra chính cuộc sống của mình. Và không có gì – hoàn toàn không có gì – nằm ngoài tầm với của bạn. Miễn là bạn còn muốn ước mơ. Miễn là bạn còn tiếp tục tập trung vào việc học tập.

Phần sau này là cực kỳ thiết yếu bởi vì học vấn chưa bao giờ lại quan trọng đến như thế. Tôi tin chắc rằng trong vài tháng tới có lúc các bạn sẽ phải thức khuya để làm cho xong bài tập, mãi vẫn không chui ra được khỏi giường trong một buổi sáng mưa tầm tã và tự hỏi là có đáng phải làm thế hay không. Tôi xin nói với bạn rằng không được đặt vấn đề như thế. Không có gì có thể gây ảnh hưởng tới thành công của bạn hơn là học vấn.

Càng ngày những cơ hội mở ra trước mắt bạn càng phụ thuộc vào thời gian theo học của bạn. Nói cách khác, bạn càng học nhiều thì bạn càng tiến xa hơn trên đường đời. Đồng thời, trong khi các nước khác đang cạnh tranh với chúng ta quyết liệt hơn trước đây, trong khi các học sinh trên toàn thế giới đang làm việc tích cực hơn trước đây và học tốt hơn trước đây thì thành tích của bạn trong trường học cũng sẽ góp phần quyết định thành công của nước Mỹ trong thế kỉ XXI.

Cho nên các bạn phải có trách nhiệm với chính mình, và nước Mỹ có trách nhiệm bảo đảm là bạn sẽ nhận được một nền học vấn tốt nhất có thể. Và việc bảo đảm để bạn có một nền học vấn như thế buộc tất cả chúng ta phải nắm tay nhau cùng làm việc.

Điều đó động chạm đến tất cả chúng tôi ở trong chính phủ - từ Harrisburg đến Washington – phải làm công việc của mình để chuẩn bị cho các học sinh, tất cả học sinh, gặt hái được thành tích, trong nhà trường phổ thông, trong trường đại học và trong nghề nghiệp nữa. Nó sẽ động chạm đến những thày hiệu trưởng, các thày cô giáo, tương tự như các thày cô ở trường Masterman này; những thày cô giáo làm hết sức mình vì học sinh của mình. Và nó cũng sẽ động chạm đến các vị phụ huynh, những người hết lòng vì sự học tập của các bạn.

Đấy là những điều chúng tôi phải làm cho các bạn. Đấy là trách nhiệm của chúng tôi. Đấy là công việc của chúng tôi. Nhưng đây là công việc của các bạn. Đến trường đúng giờ. Trong lớp chú ý nghe giảng. Làm bài tập về nhà. Chuẩn bị cho các kì thi. Đừng dính vào những chuyện rắc rối. Đấy là kỉ luật và nghị lực – là làm việc chuyên cần – cực kỳ cần thiết nếu muốn thành công.

Tôi biết vì không phải lúc nào tôi cũng làm được như thế. Khi còn trẻ không phải lúc nào tôi cũng là học trò giỏi nhất; tôi đã mắc một số khuyết điểm. Tôi vẫn còn nhớ câu chuyện với mẹ tôi khi tôi học trường phổ thông trung học, khi tôi khoảng tuổi của một số bạn ở đây hôm nay. Chúng tôi nói về việc điểm của tôi cứ thấp dần, vì sao tôi lại không chuẩn bị cho kì thi đại học, tại sao tôi lại hành động – như mẹ tôi nói là “được chăng hay chớ”. Câu chuyện này tôi ngờ rằng nghe có vẻ quen đối với một số bạn và một số vị phụ huynh đang có mặt ở đây hôm nay.

Tôi cho rằng thái độ của tôi cũng là thái độ của tất cả các thanh thiếu niên trong những cuộc nói chuyện kiểu đó. Tôi không cần nghe tất cả những chuyện đó. Cho nên tôi bắt đầu nói như thế và bà ngắt lời tôi ngay lập tức. Con không thể ngồi xuống và nhìn lại mình hay sao, bà nói như thế. Bà bảo rằng tôi có thể vào học bất cứ trường nào trên đất nước này, nếu tôi gắng thêm một chút. Sau đó bà nghiêm khắc nhìn tôi và nói thêm: “Hãy nhớ điều đó nghĩa là gì? Cố gắng?”

Điều mẹ nói có làm tôi hơi choáng váng. Nhưng cuối cùng thì những lời của bà đã có tác dụng. Tôi học hành nghiêm túc hơn. Tôi đã cố gắng. Tôi bắt đầu chú ý đến điểm số - và tương lai của tôi – đã được cải thiện. Và tôi biết rằng lao động chuyên cần có thể tạo ra sự khác biệt cho tôi thì nó cũng có thể tạo ra sự khác biệt cho các bạn nữa.

Tôi biết rằng một số bạn có thể hoài nghi chuyện này. Bạn có thể tự nhủ là một số người chắc chắn là giỏi hơn bạn về một số môn nào đó. Và đúng là mỗi người chúng ta đều có những tài năng và thiên phú riêng của mình, chúng ta cần phát hiện và chăm sóc chúng. Nhưng chính vì bạn không phải là người làm tốt nhất một việc gì đó ngày hôm nay thì điều đó cũng không có nghĩa là bạn không thể trở thành người như thế vào ngày mai. Thậm chí nếu bạn không nghĩ rằng mình là người giỏi toán hay giỏi khoa học thì bạn vẫn có thể trở thành người xuất sắc trong những môn này nếu bạn cố gắng. Và bạn có thể phát hiện ra rằng mình có những tài năng mà bạn không hề mơ tới.

Như các bạn đã thấy, xuất sắc trong học tập và trong cuộc sống chủ yếu không phải là do thông minh hơn người khác. Đấy chỉ là do làm việc chăm chỉ hơn người khác mà thôi. Đừng có lảng tránh những thách thức mới – hãy đi tìm chúng, hãy bước ra khỏi khu vực mà bạn cảm thấy thoải mái, đừng ngại nhờ người khác giúp đỡ, các thày cô giáo và gia đình sẵn sàng hướng dẫn bạn. Đừng có nản chí hay bỏ cuộc nếu bạn không làm tốt một việc gì đó – hãy thử một lần nữa và hãy học từ chính sai lầm của bạn. Đừng sợ nếu bạn bè của bạn làm tốt, hãy tự hào về họ và xét xem bạn có thể rút ra được bài học gì từ những việc làm thành công của họ.

Đấy là nền văn hóa của sự vượt trội mà các bạn đang cổ vũ ở trường Masterman này; và đấy cũng là hình thức vượt trội mà chúng ta cần khuyến khích trong tất cả các trường học ở Mỹ. Đấy là lí do vì sao hôm nay tôi tuyên bố cuộc thi Thách thức lần thứ hai. Nếu trường các bạn là người chiến thắng; nếu các bạn cho chúng tôi thấy các thày giáo, học sinh và phụ huynh đang làm việc cùng nhau để chuẩn bị cho con em vào đại học và nghề nghiệp như thế nào; nếu các bạn cho chúng tôi thấy các bạn đang đền đáp lại cộng đồng của mình và đất nước của chúng ta như thế nào thì tôi sẽ đến chúc mừng các bạn và nói chuyện tại lễ phát phần thưởng của các bạn.

Nhưng sự thật là học tập không chỉ nhắm vào trường đại học tốt hay công việc tốt sau khi ra trường. Đấy là tạo điều kiện cho tất cả mọi người và từng người một cơ hội thực hiện lời hứa của chúng ta: trở thành người hữu ích nhất mà ta có thể. Và một phần của điều đó có nghĩa là cư xử với người khác như là mình muốn họ đối xử với mình – tử tế và tôn trọng họ.

Tôi biết rằng không phải lúc nào cũng được như thế. Nhất là ở các trường trung học cơ sở và phổ thông trung học. Tuổi mới lớn là giai đoạn khó khăn. Đấy là giai đoạn mà ta phải vật lộn với nhiều thứ. Khi tôi bằng tuổi các bạn tôi phải vật lộn với những câu hỏi: tôi là ai, là con của người mẹ da trắng và bố da đen có nghĩa là như thế nào, và những câu hỏi về việc không có người cha trong cuộc đời mình nữa. Một số bạn có thể đang giải quyết những câu hỏi của mình ngay trong lúc này và tìm thấy điều làm cho bạn trở thành khác biệt.

Tôi biết rằng giải quyết những chuyện đó thậm chí càng khó hơn nữa khi trong lớp của bạn có những kẻ đầu bò đầu bướu, những kẻ tìm cách lợi dụng những sự khác biệt đó để chế giễu hoặc đưa bạn ra làm trò cười; làm cho bạn cảm thấy mình là người chẳng ra gì. Ở một số nơi vấn đề còn nghiêm trọng hơn. Có những khu vực ở thành phố Chicago quê hương tôi, trẻ con còn đánh nhau nữa. Ở Philly này cũng có hiện tượng như thế.

Cho nên điều tôi muốn nói với các bạn hôm nay – điều tôi muốn tất cả các bạn mang theo từ bài nói chuyện của tôi là cuộc đời rất đáng quí mà một phần vẻ đẹp của cuộc sống lại nằm ở sự đa dạng của nó. Không việc gì phải ngượng vì những thứ làm chúng ta khác biệt với người khác. Chúng ta phải tự hào vì chúng. Vì những thứ làm chúng ta khác biệt với người khác cũng chính là những thứ làm nên chúng ta. Sức mạnh cũng như đặc điểm của đất nước chúng ta luôn luôn xuất phát từ khả năng nhận ra chính con người mình trong tha nhân, dù chúng ta là ai, dù chúng ta từ đâu tới, dù chúng ta trông như thế nào, hoặc chúng ta có hoặc không có khả năng gì thì cũng cũng thế.

Tôi nhớ lại ý tưởng đó khi đọc bức thư của cô bé Tamerria Robinson, 11 tuổi, ở bang Georgia. Cô bé kể cho tôi nghe cô làm việc chăm chỉ như thế nào, cô kể về tất cả những việc mà cô cùng với người anh trai đã làm cho cộng đồng. Và cô viết như thế này: “Tôi cố gắng thực hiện ước mơ của mình và giúp những người khác thực hiện ước mơ của họ. Thế giới cần phải hoạt động như thế”.

Tôi đồng ý với Tamerria. Thế giới phải hoạt động như thế. Vâng, chúng ta phải tích cực làm việc. Vâng, chúng ta phải có trách nhiệm với việc học tập của mình. Nhưng điều làm nên chúng ta ở đây, trên đất nước này, là chúng ta không chỉ thực hiện ước mơ của mình mà chúng ta còn giúp người khác thực hiện ước mơ của họ nữa. Đây là đất nước cung cấp cho tất cả những người con gái, con trai của nó cơ hội như nhau. Cơ hội tạo làm được nhiều việc nhất trong cuộc đời của mình. Cơ hội hoàn thành những tiềm năng mà Thượng đế đã ban cho họ.

Và tôi tuyệt đối tin tưởng rằng nếu tất cả các học sinh của chúng ta - ở Masterman này và trên khắp nước Mỹ – tiếp tục làm phần việc của họ, nếu các bạn tiếp tục chiến đấu cho ước mơ của mình và nếu tất cả chúng tôi đều giúp đỡ để bạn đạt được ước mơ của mình, thì bạn không chỉ thành công trong năm học này và trong phần còn lại của cuộc đời mình mà nước Mĩ cũng sẽ thành công trong thế kỉ XXI nữa.

Xin cám ơn các bạn, xin Chúa phù hộ các bạn, xin Chúa phù hộ nước Mỹ.

Nguồn: http://www.whitehouse.gov/the-press-office/2010/09/13/remarks-president-barack-obama-prepared-delivery-back-school-speech

Wednesday, January 27, 2016

Ngày 20/1/2009, ông Barack Obama đã đọc diễn văn nhậm chức Tổng thống đời thứ 44 của Mỹ trước toàn thể người dân nước này.


Dưới đây là toàn văn bài phát biểu nhậm chức Tổng thống nhiệm kỳ đầu tiên của ông Barack Obama. Hàng nghìn người dân Mỹ đã khóc khi theo dõi bài diễn văn và lễ nhậm chức của vị Tổng thống da đen đầu tiên của nước Mỹ.

Tổng thống Obama đọc diễn văn trong lễ nhậm chức năm 2009.
Tổng thống Obama đọc diễn văn trong lễ nhậm chức năm 2009.

Thưa đồng bào,
Tôi đứng đây hôm nay, nhỏ bé trước nhiệm vụ đang đặt ra trước mắt, cảm kích trước sự tin tưởng của đồng bào, và thấu hiểu về những hy sinh của các bậc tiền bối.
Tôi xin cảm ơn Tổng thống Bush về những cống hiến của Ngài cho đất nước, về tấm lòng rộng lượng và sự hợp tác của Ngài trong quá trình chuyển giao này.
Đã có bốn mươi bốn người dân Mỹ từng tuyên thệ nhậm chức tổng thống. Có lời tuyên thệ được vang lên trong những thời khắc thịnh vượng và yên bình, nhưng cũng có những lời tuyên thệ được vang lên trong giai đoạn sóng gió.
Vào những thời khắc đó, nước Mỹ đã vượt qua, không đơn giản chỉ nhờ vào kỹ năng hay tầm nhìn của các nhà lãnh đạo, mà bởi vì dân tộc Mỹ chúng ta luôn giữ vững niềm tin vào lý tưởng của cha ông, và luôn trung thành với những văn tự lập quốc.
Nó đã như vậy. Và nó cũng sẽ như vậy với thế hệ người Mỹ hôm nay.
Giờ đây ai cũng biết rõ chúng ta đang ở trong khủng hoảng. Đất nước chúng ta đang trong thời chiến chống lại một mạng lưới bạo lực và hận thù.
Nền kinh tế của chúng ta bị suy yếu nghiêm trọng - hậu quả từ sự tham lam và vô trách nhiệm của một số người, nhưng cũng là thất bại của tất cả chúng ta khi không biết chấp nhận những lựa chọn khó khăn và chuẩn bị cho đất nước bước vào một kỷ nguyên mới.
Nhiều gia đình mất nhà; nhiều người mất việc; nhiều doanh nghiệp đình đốn.
Chi phí y tế quá đắt đỏ; chất lượng trường học khiến nhiều người thất vọng; và mỗi ngày lại có thêm bằng chứng cho thấy cách chúng ta sử dụng năng lượng càng khiến kẻ thù của chúng ta mạnh thêm và đe doạ hành tinh này.
Đó là những dấu hiệu của khủng hoảng, theo các dữ liệu và con số thống kê.
Khó đo lường hơn, nhưng cũng không kém phần sâu sắc, là sự suy thoái lòng tin trên khắp cả nước - một tâm lý sợ hãi đeo đẳng rằng sự suy thoái của Mỹ là không tránh khỏi, và rằng thế hệ sau sẽ phải hạ bớt tầm nhìn.
Hôm nay, tôi xin tuyên bố với quý vị rằng, những thách thức mà chúng ta đang đối mặt là có thật. Những thách thức đó rất nhiều và rất nghiêm trọng.
Những thách thức đó không thể giải quyết được một cách dễ dàng hoặc trong ngày một ngày hai. Nhưng hãy tin rằng chúng sẽ được giải quyết.

Người đàn ông vô gia cư Farrington James khóc khi theo dõi lễ nhậm chức của Tổng thống Obama.
Người đàn ông vô gia cư Farrington James khóc khi theo dõi lễ nhậm chức của Tổng thống Obama.

Hôm nay, chúng ta tụ hội về đây bởi chúng ta đã lựa chọn hy vọng thay vì sợ hãi, đoàn kết vì một mục tiêu chung thay vì xung đột và bất hòa.
Hôm nay, chúng ta tới đây để tuyên bố chấm dứt lời chỉ trích nhỏ nhen và những lời hứa hẹn dối trá, những lời buộc tội lẫn nhau cùng những lời nói giáo điều nhàm chán, những thứ từ lâu đã bóp nghẹt nền chính trị của chúng ta.
Chúng ta vẫn là một quốc gia non trẻ, nhưng như Kinh thánh nói, đã tới lúc gạt sang một bên những điều nông nổi.
Đã đến lúc chúng ta xốc lại tinh thần kiên định, để lựa chọn một lịch sử tốt đẹp hơn, để tiếp tục mang theo món quà quý giá, ý tưởng cao đẹp đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác:
Thượng đế trao cho mọi người quyền bình đẳng, quyền được tự do, và mọi người ai cũng đều có quyền mưu cầu hạnh phúc.
Thêm một lần khẳng định sự vĩ đại của dân tộc mình, chúng ta hiểu rằng sự vĩ đại đó không bao giờ là thứ được cho không. Chúng ta phải tạo dựng nó.
Hành trình chúng ta đi chưa bao giờ là một con đường tắt hoặc một điều gì đó dễ dàng hơn. Đó chưa từng là con đường dành cho những người nhút nhát, cho những người ưa thích tiêu khiển hơn lao động, hoặc chỉ tìm kiếm những thú vui của sự giàu sang và nổi tiếng.
Ngược lại, chính những người dám mạo hiểm, những người lao động, những người làm ra của cải vật chất - một vài người nổi tiếng nhưng thường vô danh trong lao động - đã đưa chúng ta vượt qua con đường dài đầy khó khăn gập ghềnh đến với thịnh vượng và tự do.
Vì chúng ta, họ đã gói ghém chút của cải của mình và băng qua các đại dương để kiếm tìm một cuộc sống mới.
Vì chúng ta, họ đã phải vất vả lao động ở những công xưởng hà khắc và khai phá miền Tây, chịu đựng những trận đòn roi da và cấy trồng trên nền đất cứng.
Vì chúng ta, họ đã chiến đấu và hy sinh.
Hết lần này đến lần khác, những người nam nữ đó đã tranh đấu, hy sinh và làm việc tới tận khi đôi bàn tay của họ chai sạn để chúng ta có thể có một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Họ nhìn thấy một nước Mỹ lớn hơn tất cả những tham vọng cá nhân, lớn hơn tất cả những khác biệt về nguồn gốc, của cải hay phe phái.
Đó chính là hành trình chúng ta đang tiếp bước hôm nay. Chúng ta vẫn là quốc gia cường thịnh nhất trên Trái Đất.

Một người phụ nữ gạt nước mắt khi nghe bài diễn văn của Tổng thống.
Một người phụ nữ gạt nước mắt khi nghe bài diễn văn của Tổng thống.

Công nhân của chúng ta không hề làm việc kém năng suất hơn thời điểm bắt đầu khủng hoảng. Trí óc của chúng ta không hề kém sáng tạo, hàng hoá và dịch vụ của chúng ta không hề bị giảm cầu so với tuần trước, tháng trước hay năm trước.
Năng lực của chúng ta vẫn không hề bị giảm sút. Nhưng thời kỳ của sự trì trệ, bảo vệ những lợi ích hẹp hòi và lảng tránh những quyết định không vừa ý chắc chắn đã qua đi.
Bắt đầu từ hôm nay, chúng ta phải tự mình đứng dậy, tự phủi bụi và bắt đầu lại với công việc tái thiết nước Mỹ.
Nhìn vào bất cứ đâu, chúng ta cũng sẽ thấy có việc phải làm. Tình trạng kinh tế hiện nay kêu gọi chúng ta hành động, can đảm và mau lẹ, và chúng ta sẽ hành động – không chỉ để tạo ra những việc làm mới, mà còn đặt nền móng mới cho sự tăng trưởng.
Chúng ta sẽ xây dựng những cây cầu, con đường, lưới điện và đường dây kỹ thuật số phục vụ cho thương mại và kết nối chúng ta lại với nhau.
Chúng ta sẽ khôi phục lại khoa học cho xứng với vị trí của nó và áp dụng những thành tựu công nghệ để nâng cao chất lượng và hạ thấp chi phí dịch vụ y tế.
Chúng ta sẽ khai thác năng lượng từ mặt trời, gió và đất để cung cấp nhiên liệu cho xe hơi, vận hành các nhà máy. Chúng ta cũng sẽ cải cách các trường phổ thông, đại học và cao đẳng để đáp ứng các nhu cầu của một thời đại mới.
Chúng ta có thể làm được tất cả những điều này và chúng ta sẽ làm.

Cụ ông Herbert Bridges, 94 tuổi, khóc khi theo dõi lễ nhậm chức của Tổng thống Obama qua truyền hình.
Cụ ông Herbert Bridges, 94 tuổi, khóc khi theo dõi lễ nhậm chức của Tổng thống Obama qua truyền hình.

Vào lúc này, một số người vẫn còn hoài nghi về tầm vóc những tham vọng của chúng ta, những người cho rằng hệ thống của chúng ta không thể kham nổi quá nhiều kế hoạch lớn.
Đầu óc của họ quá thiển cận. Bởi họ đã quên rằng những gì đất nước này đã làm được, những gì những con người tự do, nam cũng như nữ, có thể đạt được khi mà tất cả đều hướng về một mục đích và thấy cần phải can đảm.
Điều mà những kẻ hoài nghi không hiểu nổi là mặt đất đang chuyển dịch dưới chân họ - rằng những luận điểm chính trị cũ rích làm héo mòn chúng ta bấy lâu đã không còn phù hợp nữa.
Câu hỏi dành cho chúng ta hôm nay không phải là liệu chính phủ quá lớn hay quá nhỏ, mà là liệu nó có hiệu quả hay không - liệu nó có thể giúp các gia đình tìm được việc làm với đồng lương tử tế, có thể chi trả dịch vụ y tế, và có được một suất lương hưu xứng đáng.
Ở đâu chúng ta tìm được câu trả lời, chúng ta sẽ tiến tới. Nơi nào không tìm được câu trả lời, các chương trình sẽ kết thúc.
Ai trong chúng ta đang quản lý những đồng đô-la của người dân sẽ phải có trách nhiệm - để sử dụng một cách khôn ngoan, để sửa những thói xấu và làm việc minh bạch – vì chỉ khi đó chúng ta mới có thể khôi phục được lòng tin sống còn giữa người dân và chính phủ.
Câu hỏi mà chúng ta phải đối mặt cũng không phải liệu thị trường là lực lượng tốt hay xấu.
Sức mạnh của thị trường nhằm sản xuất ra của cải và mở rộng tự do là không gì sánh nổi, nhưng cuộc khủng hoảng này nhắc chúng ta rằng nếu thiếu thận trọng, thị trường có thể vượt khỏi vòng kiểm soát, rằng 1 quốc gia không thể thịnh vượng lâu dài khi chỉ tạo thuận lợi cho người giàu.
Thành công của nền kinh tế chúng ta luôn dựa trên không chỉ quy mô của Tổng sản phẩm Quốc nội, mà còn dựa trên sự lan toả của thịnh vượng, dựa trên khả năng mở rộng cơ hội cho tất cả những ai sẵn sàng đón nhận.
Nó không phải vì lòng từ thiện, mà vì đó là con đường chắc chắn nhất dẫn tới lợi ích chung của chúng ta.

Một người phụ nữ da màu khóc và cầu nguyện khi theo dõi bài diễn văn nhậm chức của Tổng thống qua truyền hình.
Một người phụ nữ da màu khóc và cầu nguyện khi theo dõi bài diễn văn nhậm chức của Tổng thống qua truyền hình.

Về quốc phòng, chúng ta bác bỏ sự lựa chọn giữa an toàn và các lý tưởng của chúng ta.
Những Bậc khai quốc, vốn từng phải đương đầu với những hiểm nguy mà ngày nay chúng ta khó có thể hình dung được, đã soạn thảo một bản hiến chương nhằm đảm bảo nền pháp trị và quyền con người, một hiến chương được vun đắp bằng máu của nhiều thế hệ.
Những lý tưởng đó vẫn đang tiếp tục soi sáng nhân loại, và chúng ta sẽ không từ bỏ chỉ vì lợi ích.
Vì vậy, với tất cả các dân tộc và chính phủ đang theo dõi chúng ta hôm nay, từ các thủ đô lớn nhất cho tới ngôi làng nhỏ nơi cha tôi ra đời:
Quý vị hãy tin rằng Hoa Kỳ là người bạn của mỗi quốc gia, mỗi con người, và của mỗi em thơ, những người đang tìm kiếm một tương lai hoà bình và được tôn trọng phẩm giá, và chúng ta sẵn sàng một lần nữa là những người tiên phong.
Hãy nhớ rằng những thế hệ đi trước từng quật ngã chủ nghĩa phát xít... không chỉ bằng tên lửa và xe tăng mà bằng những liên minh vững chắc và những niềm tin bền bỉ.
Lớp cha anh hiểu rằng chỉ sức mạnh không thôi sẽ không thể bảo vệ chúng ta, cũng không thể cho phép chúng ta làm những gì mình muốn.
Họ hiểu rằng sức mạnh của chúng ta được nhân lên nhờ sử dụng nó một cách cẩn trọng; nền an ninh của chúng ta được xây dựng từ sự chính nghĩa, từ sự gương mẫu, từ sự khiêm nhường và biết kiềm chế của chúng ta.
Chúng ta là những người gìn giữ di sản này. Tuân theo những nguyên tắc này, một lần nữa chúng ta có thể đương đầu với những nguy cơ mới, đòi hỏi những nỗ lực lớn hơn – thậm chí cả sự hợp tác và hiểu biết sâu sắc hơn giữa các quốc gia.
Chúng ta sẽ bắt đầu chuyển giao có trách nhiệm đất nước Iraq cho người dân Iraq, và củng cố nền hòa bình vất vả mới có được ở Afghanistan.
Cùng với bạn cũ thù xưa, chúng ta sẽ nỗ lực không ngừng nhằm giảm bớt nguy cơ hạt nhân và đảo ngược tiến trình ấm lên của trái đất. Chúng ta sẽ không xin lỗi vì cách sống của chúng ta và không do dự để bảo vệ lối sống này.
Đối với những kẻ muốn đạt được mục tiêu bằng cách kích động khủng bố và giết người vô tội, các người cần biết rằng ý chí của chúng tôi mạnh hơn và không thể bẻ gãy; các người không thể tồn tại lâu hơn chúng tôi, và chúng tôi sẽ đánh bại các người.
Chúng ta biết rằng di sản đa dạng của chúng ta chính là thế mạnh, không phải là điểm yếu. Chúng ta là một quốc gia của người Thiên Chúa Giáo và người Hồi giáo, người Do Thái giáo và người Ấn Độ giáo, và của cả những người không tôn giáo.
Chúng ta được hình thành từ mọi ngôn ngữ và văn hóa, hội tụ về từ mọi nơi trên trái đất; và vì đã từng nếm trải sự đau xót của nội chiến và phân biệt màu da, và vươn dậy từ thời kỳ đen tối đó để trở nên mạnh mẽ hơn, đoàn kết hơn.
Chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng rồi sẽ đến ngày hận thù xưa cũng nguôi ngoai, những chia cắt giữa các sắc tộc sẽ được giải quyết, rằng khi thế giới trở nên nhỏ bé hơn, lòng nhân hậu sẽ ngự trị và Hoa Kỳ sẽ đóng vai trò mở ra một kỷ nguyên mới của hoà bình.
Một sinh viên đại học khóc khi theo dõi bài phát biểu của Tổng thống Obama qua truyền hình.
Một sinh viên đại học khóc khi theo dõi bài phát biểu của Tổng thống Obama qua truyền hình.

Với thế giới Hồi giáo, chúng ta tìm hướng đi mới, dựa trên lợi ích chung và sự tôn trọng lẫn nhau.
Với các nhà lãnh đạo trên thế giới đang muốn gieo rắc xung đột hay đổ lỗi cho phương Tây về những xấu xa trong xã hội của họ: quý vị cần hiểu rằng người dân sẽ đánh giá dựa trên những gì quý vị xây dựng chứ không phải những gì quý vị phá huỷ.
Với những người bám lấy quyền lực nhờ tham nhũng, dối trá và bịt miệng những quan điểm đối lập, hãy biết rằng quý vị đang đi ngược lại lịch sử; nhưng chúng tôi sẽ chìa bàn tay nếu quý vị sẵn sàng từ bỏ nắm đấm.
Với người dân của các với các quốc gia nghèo khó, chúng tôi cam kết sẽ sánh vai cùng các bạn để giúp đồng ruộng xanh tươi, để dòng nước sạch được tuôn trào, để nuôi dưỡng những cơ thể đói khát và bồi đắp những tâm hồn thiếu thốn.
Với những quốc gia được hưởng sự đầy đủ như chúng ta, chúng ta nói với họ rằng chúng ta không thể tiếp tục thờ ơ với những nỗi thống khổ phía bên ngoài lãnh thổ, cũng không thể tiếp tục sử dụng tài nguyên thế giới mà không quan tâm tới những tác động của nó.
Thế giới đã thay đổi và chúng ta phải thay đổi theo.

Khi chúng ta cân nhắc con đường đi phía trước, chúng ta tưởng nhớ với lòng biết ơn trân trọng trước những người Mỹ dũng cảm, mà chính lúc này đây, đang tuần tra trên các sa mạc hay dãy núi xa xôi.
Họ nói với chúng ta điều gì đó, giống như những anh hùng ngã xuống ở Arlington đã thì thầm suốt chiều dài lịch sử.
Chúng ta vinh danh họ không chỉ vì họ là những người bảo vệ nền tự do của chúng ta, mà còn vì họ hiện thân cho tinh thần phục vụ; sẵn sàng tìm ý nghĩa trong những điều lớn lao hơn chính bản thân họ.
Và chính trong khoảnh khắc này - một khoảnh khắc sẽ định hình cả một thế hệ - chính tinh thần đó phải hiện hữu trong tất cả chúng ta.
Vì cho dù chính phủ có thể làm gì và phải làm gì, đất nước này suy cho cùng phải dựa vào niềm tin và quyết tâm dân tộc Mỹ.
Đó là lòng hảo tâm đùm bọc người xa lạ khi những con đê bị vỡ, là sự vị tha của những công nhân thà làm bớt giờ chứ không để bạn mình mất việc, chính những điều đó đưa chúng ta ra khỏi thời kỳ đen tối nhất.
Chính sự dũng cảm của người lính cứu hoả khi băng qua cầu thang đầy khói, cũng như tấm lòng của một bậc cha mẹ sẵn sàng dang tay nuôi dưỡng một đứa trẻ, rốt cuộc sẽ quyết định số phận của chúng ta.
Những thách thức chúng ta đối mặt có thể mới. Những công cụ chúng ta dùng để đương đầu với những thách thức đó có thể mới.
Nhưng các giá trị đã tạo dựng nên thành công của chúng ta - trung thực và chăm chỉ, dũng cảm và công bằng, khoan dung và tò mò, trung thành và ái quốc – là những điều không mới. Những điều đó là có thật.
Chúng đã là động lực âm thầm cho những tiến bộ suốt chiều dài lịch sử của chúng ta. Điều chúng ta cần là phải quay trở lại với những chân lý đó.
Điều chúng ta cần giờ đây là một kỷ nguyên mới của trách nhiệm – một sự giác ngộ của từng người Mỹ rằng chúng ta có những nghĩa vụ với chính bản thân, với đất nước, và với cả thế giới.
Đó là những nghĩa vụ chúng ta không phải miễn cưỡng chấp nhận mà thậm chí còn nắm lấy một cách vững vàng và vui vẻ với nhận thức rằng, không có điều gì làm tinh thần thỏa mãn và định hình nhân cách của chúng ta bằng sự cống hiến trọn vẹn cho sự nghiệp gian khó.
Đó là giá trị và cam kết của quyền công dân.
Đó là nguồn gốc của sự tự tin của nước Mỹ - một sự nhận thức rằng Thượng đế trông cậy vào chúng ta để tạo dựng một vận mệnh chưa định hình.
Đó là ý nghĩa của tự do và tín điều của chúng ta – rằng vì sao nam, nữ và trẻ em thuộc mọi chủng tộc và tín ngưỡng có thể cùng nhau tham dự buổi lễ tại quảng trường quốc gia vĩ đại này.
Và vì sao một người mà cha của anh cách đây gần 60 năm có thể không được phép ăn tại một nhà hàng ở địa phương, nay lại được đứng trước mặt quý vị để đọc lời thề thiêng liêng nhất.
Vậy chúng ta hãy đánh dấu ngày hôm nay bằng cách nhớ lại chúng ta là ai và chúng ta đã đi được đến đâu.
Vào năm đất nước Hoa Kỳ được khai sinh, trong những tháng giá lạnh nhất, một nhóm nhỏ những người yêu nước chụm lại bên nhau, cạnh đống lửa trại gần tàn trên bờ sông băng giá.
Thủ đô đã bị bỏ hoang. Kẻ thù đang tiến tới. Tuyết loang lổ vết máu. Vào thời điểm khi kết quả cuộc cách mạng gần như rơi vào hồ nghi, người khai sinh ra đất nước đã ra lệnh đọc những lời kêu gọi nhân dân sau đây:
“Hãy nói cho thế giới tương lai... rằng trong cái giá lạnh của mùa đông, khi chỉ còn hy vọng và nghị lực... rằng thành phố này và đất nước này, lo lắng trước mối nguy hiểm chung, đã tiến lên để đương đầu.”
Nước Mỹ, trước những mối nguy hiểm chung, trong chính mùa đông gian khó này, hãy cùng nhau nhớ những lời bất tử đó. Với hy vọng và nghị lực, chúng ta hãy một lần nữa can đảm vượt qua dòng nước băng giá và hứng chịu bất kỳ cơn bão nào sẽ đến.
Hãy để con cháu chúng ta kể lại rằng khi gặp thử thách, chúng ta đã không dừng bước, rằng chúng ta không quay đầu hay ngập ngừng.
Với đôi mắt luôn hướng về phía chân trời và ân phước mà Thượng Đế ban tặng, chúng ta đã mang theo món quà tự do và giao lại nguyên vẹn cho những thế hệ mai sau.

Saturday, January 23, 2016

Chưa Tu Đã Thành Phật / Phạm Tín An Ninh

Tôi đến thăm Cali vào những ngày mưa, mưa tầm tã. Đài phát thanh Little Saigon, trong chương trình dự báo thời tiết, cho biết cả tiểu bang Cali đang bị ảnh hưởng một cơn bão nhiệt đới. Nằm nhà người bạn cùng đơn vị xưa ở thành phố Garden Grove, trong khu Little Saigon, cả ngày hai thằng thi nhau kể chuyện chiến trường, chuyện bạn bè, tù tội, làm cho những cơn mưa như càng dài ra thêm. 

Anh bạn rủ tôi ra Hội Trường Nhật Báo Viễn Đông tham dự buổi ra mắt sách của một nhà văn nữ. Anh tỏ ra am tường về mọi thứ chuyện, bảo ở hải ngoại thời buổi này văn chương chữ nghĩa rẻ như bèo, mà nhà văn nhà thơ thì cứ mọc lên như nấm. Đúng là người Việt nam nào cũng có đầy thơ văn trong bụng. Nhưng nhà văn hôm nay là người quen, một cô bạn học cũ, sau này anh bất ngờ gặp lại khi cô đang làm phóng viên chiến trường, nên tới để cho cô ấy vui. 

Chúng tôi đến trễ, may mà còn mấy chiếc ghế trống phía sau để không phải đứng. Trên sân khấu, một diễn giả, dường như cũng là một nhà văn lão thành có tiếng tăm, đang giới thiệu tác giả và tác phẩm. 

Lại thêm một tác phẩm nữa về chiến tranh! Cuộc chiến chấm dứt đã hơn 30 năm, nhưng bao nhiêu nỗi oan khiên dường như vẫn còn nguyên trong lòng người tha phương, như những vết thương không bao giờ lành được. 

Người MC rất khéo léo, khi muốn tạo một không khí gây nhiều cảm xúc trước khi nhân vật chính, nhà văn nữ, lên trình diện và tâm tình vài lời cùng cử tọa, nên chương trình được nối tiếp bằng tiết mục ngâm thơ. Bài thơ Ta Về của nhà thơ Tô Thùy Yên được diễn ngâm bằng giọng rất truyền cảm của nữ sĩ Bích Loan. Cá nhân tôi cũng rất thích bài thơ Ta Về này. Bài thơ hay mà tác giả lại là người bạn cùng tù mà tôi rất quý, nên lắng tai chú ý nghe. 

Cả hội trường im lặng khi tiếng sáo cất lên cao vút. Anh MC vừa giới thiệu đó là tiếng sáo của Hồ Ngọc, tiếng sáo điêu luyện, nổi tiếng của miền Nam Cali. Lời giới thiệu này quả không cường điệu chút nào. Tiếng sáo trầm bổng, réo rắt, thiết tha, như vừa du hồn tôi vào một cõi hư vô nào đó. Rõ ràng tiếng sáo đã làm cho bài thơ gây cảm xúc tột cùng trong lòng người nghe, mà hầu hết đều từng mang tâm trạng của những kẻ “ta về”.

Tôi đứng lên, nhìn về hướng sân khấu. Hồ Ngọc, người cao lớn, đầu cúi xuống, các ngón tay như đang múa trên cây sáo nhỏ, tôi chỉ nhìn thấy mái tóc hoa râm bồng bềnh. Tôi thích thổi sáo từ nhỏ, khi mê tiếng sáo Nguyễn Đình Nghĩa trong chương trình Tao Đàn của Tô Kiều Ngân trên đài phát thanh Sài gòn, vào những đêm khuya thuở trước. Sau tháng 4/75, qua bao nhiêu vật đổi sao dời, dường như đây là lần đầu tiên tôi được nghe lại một tiếng sáo hay và buồn như thế. Tiết mục ngâm thơ chấm dứt, tiếng vỗ tay như muốn vỡ cả hội trường. 

Tôi cúi mình đi vòng về phía sau sân khấu, tò mò nôn nóng muốn biết Hồ Ngọc và cũng muốn được bắt tay ca ngợi anh một tiếng. Vừa đúng lúc Hồ Ngọc đang cầm chai nước lọc đưa lên miệng, thì cả hai chúng tôi đều nhận ra nhau. Anh chưa kịp uống một hớp nước, kêu tên tôi và ôm chầm lấy tôi. 

Hồ Ngọc, là nghệ danh của Hồ Ngọc Phú Hội, người bạn thân của tôi từ thời thơ ấu. Hai thằng ở cùng làng. Nhà ông bà nội tôi cách nhà Hội chỉ một vạc ruộng, con mương và đặc biệt là những hàng tre cao, mà buổi tối những đàn có trắng thường kéo nhau về ngủ ở đây, gây chút rộn rã cho một vùng không gian tĩnh mịch và tạo những nét chấm phá trên nền xám đen của khung trời sắp tối như một bức tranh thủy mặc. 

Vào mùa đông, những buổi chiều gió mưa tầm tã, tôi thường đứng bên cửa sổ nhà ông bà nội, nhìn ra hàng tre với những cái đọt cao vút theo gió chao qua đảo lại mà thấy tội nghiệp và lo lắng cho những chú cò trên ấy. 

Cha tôi và cha của Hội là hai người bạn cùng trường thời Pháp thuộc. Sau này cả hai ông đều làm thầy giáo. Cha tôi bị Việt Minh bắt đưa ra Liên Khu 5. Hai năm sau ông được thả về với cơn bệnh sốt sét, đành phải nghỉ dạy, nên gởi tôi theo học với cha của Hội, mà trong làng và cả bọn học trò chúng tôi thường gọi ông là thầy giáo Tám. Ông là một vị thầy nổi tiếng dạy giỏi, nhưng rất nghiêm khắc. 

Đám học trò nhỏ của Thầy sau này vào đại học khá nhiều, và một số rất thành công trong nhiều sự nghiệp. Trong lớp hình như đứa nào cũng từng bị đánh đòn hoặc bị phạt ở lại quét sân trường, trồng cây vào những ngày thứ bảy chủ nhật, ngoại trừ tôi. 

Có lần làm sai mấy bài toán tôi suýt bị tát tai, nhưng rồi Thầy kịp dừng tay lại. Có lẽ Thầy ngại làm buồn lòng cha tôi, hơn nữa lúc ấy tôi mồ côi mẹ, nên Tiếng sáo ông cũng động lòng thương. Đứa học trò bị đòn nhiều nhất lại chính là Hội, đứa con trai lớn của Thầy. 

Mặc dù Hội học khá giỏi, nhất là môn toán. Thầy đánh con mình để làm gương. Lúc ấy, tôi nghĩ thầm như thế và thấy rất thương Hội và tội nghiệp cho Hội. Ngược lại với Thầy, mẹ của Hội lại là một người đàn bà phúc hậu, hiền lành và rất cưng chiều con. Những ngày nghỉ, tôi thường đến nhà Hội chơi, nhưng không dám bước vào ngôi nhà trên vì sợ gặpThầy. Bọn tôi thường chơi phía sau vườn, mẹ Hội làm vài thứ bánh mang ra cho hai đứa chúng tôi ăn. 
Có lần hai thằng rủ nhau đi tìm những tổ sáo, mang về nuôi hai con sáo con, giấu nó phía sau hè. Mẹ Hội giúp tìm thức ăn và chăm sóc hai chú sáo. Hội tập cho những con sáo con biết bay và biết nói. Khi hai con sáo lớn lên, nó bay theo chúng tôi, đậu trên vai, theo bọn tôi tới trường, hót líu lo, và bập bẹ vài tiếng: chào anh! chào chị! Cả đám học trò bu quanh, thèm thuồng. Có thằng còn theo năn nỉ, cho quà chúng tôi chỉ để được sờ hay ôm con sáo. Hội còn dạy cho tôi làm bẫy phía sau bờ mương, bên hàng tre, để bắt được mấy con cuốc khi tìm theo tiếng “gọi hè” của nó.

Một lần, mang con cuốc về nhà nội, bất ngờ gặp cha tôi. Ông bảo con cuốc còn được gọi là Đỗ Quyên hay Từ Quy, theo tích xưa là hóa thân của Vua Thục Đế bên Tàu, mất nước nên đã khóc đến chảy máu mắt, chết đi hóa thành con cuốc kêu lên những tiếng khắc khoải não nùng. Nghe cha tôi kể lại chuyện xưa, Hội cảm động quá, bảo tôi đem con cuốc thả lại chỗ cũ, và từ đó không bao giờ chúng tôi bẫy những con cuốc nữa. Từ nhỏ, tôi đã phục Hội có tính nhân từ và nhiều tài, dạy cho tôi nhiều chuyện hay, mặc dù Hội nhỏ hơn tôi đến hai tuổi. Khi hết bậc tiểu học, tôi phải rời quê vào Nha Trang, vì ở đây mới có trường trung học. Nhưng chỉ vài năm sau, chúng tôi lại gặp nhau ở thành phố này. Hội ở trọ nhà một người quen trên đường Âu Cơ, khu Xóm Mới. Thỉnh thoảng vào những ngày cuối tuần, tôi đạp xe đến thăm. Có khi hai thằng rủ nhau đi “cọp” xe lửa về thăm quê và lũ bạn nhỏ ngày xưa. 

Lần đầu tiên tôi gặp Hội ở nhà trọ, đúng vào lúc anh ta đang tập thổi sáo. Hội mang ra khoe tôi cây sáo trúc rất đẹp, được giữ cẩn thận trong một cái hộp bao bằng vải nhung đen, Cây sáo được ông thầy người Huế tặng cho Hội, “một cậu học trò có năng khiếu, sẽ tạo cho chiếc sáo này có một linh hồn”. Ông Thầy bảo như như thế. Mặc dù lúc ấy, tiếng sáo của Hội chưa có gì đặc sắc. Sau khi xong trung học, tôi rời Nha Trang vào Sài gòn học thêm một vài năm, rồi xếp bút nghiên vào lính. 

Ra trường, được bổ sung về một đơn vị tác chiến lưu động ở Cao Nguyên. Năm tháng sống chết với đồng đội, núi rừng, nên chúng tôi không có dịp gặp nhau. Sau này, trong một lần bị thương, xuất viện được vài ngày phép trước khi ra đơn vị, tôi về thăm quê nội và ghé lại thăm cha mẹ Hội. Lúc này thầy Tám không còn dạy học nữa, mà ở nhà làm chủ, cho thuê các loại nông cơ: máy cày, máy gặt. Thầy đón tiếp niềm nở, tôi không còn thấy sợ như ngày xưa. Thầy cho biết là Hội cũng đã vào lính và đang phục vụ tận dưới Vùng IV đồng bằng sông nước. 

Cả năm cũng chỉ về phép một đôi lần ngắn ngủi. Thấy mẹ Hội bồng một đứa bé gái chừng một, hai tuổi, tôi lấy làm lạ, hỏi bà, và được biết đó là đứa con đầu lòng của Hội. Khuôn mặt đứa bé trông giống ông nội như đúc. Không hiểu tại sao lúc ấy tôi không hỏi gì về vợ của Hội, và tại sao bà nội lại phải nuôi đứa cháu sơ sinh. 

Rồi từ đó cho đến ngày 30/4/75, tôi cũng không gặp lại Hội. Cho mãi hơn tám năm sau, khi tôi trở về từ những trại tù, và chính quyền CS không cho tạm cư cùng với vợ con ở thị trấn Ninh Hòa (quê vợ), bắt buộc phải về “quản chế” nơi sinh quán, tôi mới gặp lại Hội. Hội bị tù ở trại A 30 trong Nam, và được thả về trước tôi một năm. 

Anh ở một mình trong căn nhà tranh nhỏ, vốn là cái kho chứa vật dụng nông nghiệp hư hỏng lâu năm của cha anh, nằm ngay trên vùng đất của ngôi trường mà ngày xưa thầy Tám dạy học. Hội kiếm sống qua ngày bằng việc làm vườn trồng rau và sửa chữa xe đạp cho khách qua đường. Chúng tôi lại trở thành đôi bạn như ngày xưa. Có điều bây giờ gần như cả hai thằng phải sống bên lề xã hội. Cứ vài ngày phải đi làm thủy lợi, sửa chữa các con đường trong xã. Tối đến phải ra trình diện công an trước khi đi ngủ. 

Lúc này, cha tôi đã chết trong một trại tù khác trong Nam, còn thầy Tám, cha của Hội, bị kết tội “phá hoại công cụ sản xuất” khi ông không chịu giao nạp cho chính quyền những chiếc máy nông cơ của ông, và phá tháo ra từng mảnh nhỏ, chôn giấu rải rác khắp trong vườn, nên bị cưỡng bách làm việc đo đạc cho một hợp tác xã nông nghiệp, mà tên chủ nhiệm lại chính là một thằng hoc trò rất dốt của ông ngày xưa, học đâu chỉ tới lớp nhì rồi nghỉ. Trước 75, hắn ta là lính hải thuyền đào ngũ, do tội ăn cắp chất nổ, không dám trở về đơn vị, trốn ngoài một hòn đảo nhỏ, sống bằng nghề làm rẫy và đánh cá, rồi bị móc nối theo giặc. Sau tháng 4/75, nhờ tài nịnh hót, chỉ điểm mà từ một tên du kích, hắn ta trở thành chủ nhiệm HTX có tiếng hống hách và tàn ác nhất huyện. ( Sau này lên đến chức trưởng ban thương nghiệp huyện, bị tù vì tham nhũng và đã chết sau vài năm được thả ra).

Một hôm, vợ chồng tôi đến thăm, bất ngờ gặp vợ và hai đứa con trai rất dễ thương của Hội. Hội cho biêt là vợ con sống ở Nha Trang, chỉ lâu lâu ra thăm một lần. Vợ Hội là một người đàn bà đẹp, có nét đài các, dù trải qua cảnh đời cơ cực, nhưng nhan sắc không mấy tàn phai. Thấy vợ chồng con cái đoàn tụ, hạnh phúc, tôi mừng cho Hội. Chúng tôi cùng làm thịt con gà do vợ Hội mang về, hái rau thơm trồng sẵn sau vườn, ăn một bữa cơm chung “thịnh soạn”. Chỉ hai hôm sau, vợ con Hội lại trở về thành phố. Sau khi đưa vợ con lên xe đò, Hội theo chúng tôi về nhà ông bà nội tôi, nơi tôi đang “tạm trú”. 

Thấy anh không vào nhà ngay, mà đứng nhìn trời buồn bã, vợ tôi đùa: - Mới đưa người đẹp đi mà lại nhớ rồi hay sao đây? Hội cười, nhưng nét buồn vẫn còn nguyên trên mặt. Buổi trưa hôm ấy, ba chúng tôi ngồi uống trà tâm tình dưới gốc cây xoài già, nơi ngày xưa tôi và cô Út thường ngồi đọc truyện cho bà nội tôi nghe. Khi vợ tôi hỏi vì sao mà vợ Hội không ở lại với anh nhiều hơn, Hội buồn bã trả lời: - Bà phải về trông con, vì bà còn một đứa con gái nhỏ ở nhà. Nhưng nó không phải là con của tôi. 

Bất ngờ nghe qua điều này, vợ chồng tôi biết đây là một câu chuyện buồn. Thấy chúng tôi trầm ngâm im lặng, Hội kể cho chúng tôi nghe về cuộc tình đẹp, nhưng trắc trở trong hôn nhân và những biến cố đau buồn của vợ chồng anh. Trước khi vào lính, nhờ trình độ Anh văn khá và lý lịch tốt, Hội được nhận vào làm thông dịch viên cho Cơ quan Mỹ phụ trách Chiến Dịch Phượng Hoàng tại một tỉnh Cao Nguyên. Với công việc này, anh có nhiều dịp gặp gỡ ông Phó ty Cảnh sát, và được ông nhờ anh, cứ ba buổi tối trong tuần, đến nhà dạy kèm cho cô con gái môn Anh văn và toán. Cô bé đang học lớp đệ ngũ. Hội cao lớn, đẹp trai, lại đàn hát hay, nhưng không phải vì thế mà chỉ mới hai tuần cô học trò nhỏ đã “ái mộ” ông thầy. 

Sau này cô bé cho biết cô mê ông thầy chính vì tiếng sáo, “tiếng sáo ru hồn người ta”- lời cô bé nói. Cô bé rất xinh, có cái tên hơi kiếm hiệp “Hà Thị Triệu Minh”. Có thể ngày xưa phụ thân cô thích đọc chuyện chưởng và ái mộ nhân vật Triệu Minh? Dường như khi biết yêu thì các cô con gái “trổ mã”, lớn nhanh hơn và đẹp ra nhiều hơn. 

Chỉ một năm sau, khi lên lớp đệ tứ, Triệu Minh là hoa khôi trong đám nữ sinh trong tỉnh. Những ngày nghỉ học, cô học trò Triệu Minh nói dối mẹ, đi học nhóm, làm báo tường, tập hát với các bạn cùng lớp, nhưng thực ra là hẹn hò và dung dăng dung dẻ với ông gia sư trẻ. Trong thành phố này, góc núi, bờ sông, khu vườn, khe đá nào thơ mộng đều có in dấu chân, nghe lời tình tự, chứng kiến lời thề non hẹn biển của hai người. 

Và tất nhiên ở những nơi ấy cũng còn cả dư âm “tiếng sáo ru hồn người ta” nữa. Khi cuộc tình của hai người đến thời kỳ say đắm nhất, cũng là lúc ông Phó Ty được các thám tử báo cáo tình hình. Có đứa con gái cưng xinh nhất tỉnh, không thể nào ông chịu để làm người tình với một chàng lãng tử, mà lương thông dịch chỉ ba cọc ba đồng. Ông bèn nhốt cô con gái trong nhà, mỗi lần đi học đều có người hộ tống. 

Ông xách súng đi tìm Hội, và bắn tiếng là sẽ không để yên, nếu Hội không chấm dứt với Triệu Minh và rời khỏi Cao Nguyên. Triệu Minh biết rõ tính khí của cha mình, nên nhờ một cô bạn thân tìm Hội, trao cho anh mảnh giấy, bảo Hội phải ra đi ngay và hẹn thề sẽ tìm gặp lại ở một nơi nào đó sau này, không ai biết. 

Mọi liên lạc đều qua trung gian của cô bạn học chí thân này. Nghe lời Triệu Minh, Hội xin chấm dứt ngay hợp đồng làm việc, theo máy bay Mỹ rời khỏi Cao Nguyên và sau đó xin vào trường Thủ Đức, mà trước đây Hội tạm thời được hoãn động viên nhờ Cơ quan DAO can thiệp. Ra trường, Hội xin về phục vụ tại Tiểu Khu An Xuyên, tỉnh cực nam của đất nước và xa cách muôn trùng với Cao Nguyên. Trong suốt thời gian này, hai người vẫn liên lạc nhau, qua cô bạn trung gian. 

Mỗi tuần Hội đều nhận được một lá thư ướt đẫm nước mắt của Triệu Minh. Cuối cùng, Triệu Minh giữ lời thệ ước, sau khi thi đỗ tú tài, vờ vào Sài gòn xin vào đại học, rồi trốn cha mẹ, xuống Cà Mau sống với Hội. Sau khi sinh đứa con gái đầu lòng, Triệu Minh viết thư thú tội với cha mẹ, bảo là mình đã chọn đúng người chồng xứng đáng để yêu thương và sẽ cùng nhau tự lực xây dựng hạnh phúc gia đình, không hề xin mẹ cha bất cứ điều gì, ngoài sự cảm thông và bao dung tha thứ. 

Triệu Minh nghĩ là dù sao ván cũng đã đóng thuyền, hơn nữa mình cũng đã sinh cho cha mẹ một đứa cháu ngoại, chắc chắn ông bà sẽ động lòng thương và chấp nhận cuộc hôn nhân. Nhưng cô đã lầm. Ông bà xuống tận nơi, xỉ vả Hội và Triệu Minh một trận, bắt phải tìm người cho đứa bé sơ sinh và Triệu Minh theo ông bà trở lại Cao Nguyên. Triệu Minh nhanh trí, cầu cứu cô bạn thân đến nhận trách nhiệm bồng đứa con cho bà cô ruột hiếm muộn ở Sài gòn, nhưng kỳ thực là giao cho mẹ của Hội, từ quê vào đóng vai cô của người bạn quý này. 
Đó là lý do vì sao cô con gái đầu lòng của Hội sống ở nhà ông bà nội từ lúc sơ sinh, cho mãi đến sau này. Con bé không muốn về với cha mẹ nữa. Cuộc tình lại một lần nữa chia ly. Triệu Minh bị bắt buộc lên xe về Cao Nguyên cùng cha mẹ. Một thời gian sau, có lẽ vì đau buồn quá, Triệu Minh trải qua một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Gia đình phải đưa vào Sài gòn điều trị, nhưng bệnh tình ngày thêm trầm trọng, Triệu Minh ngày một tàn tạ hơn. Cô đòi được gặp Hội một lần. Lời thỉnh cầu được ba cô chấp nhận, như là ân huệ cuối cùng cho một tử tội. 

Không ngờ sau khi gặp lại Hội, Triệu Minh bỗng khỏe lại. Chẳng hiểu vì động lòng trước mãnh lực của tình yêu hay là lo lắng sự sống còn của cô con gái, ông Phó Ty hứa sẽ cho làm đám cưới sau khi Triệu Minh bình phục. “Câu chuyện thật của tôi mà nghe sao giống như những chuyện tình buồn trong tiểu thuyết!”- lời Hội nói. Lần này, ông bà giữ lời hứa. Nhưng người từ chối lại là ông thầy Tám, cha của Hội. Ông vừa tự ái, vừa phẫn nộ cung cách hành xử của cha mẹ Triệu Minh. Cuối cùng, vì thương con trai mình, và lòng thủy chung của Triệu Minh, ông chấp nhận cuộc hôn nhân, nhưng cả hai ông bà đều không có mặt trong ngày đám cưới. Đại diện họ nhà trai hôm ấy lại chính là cha mẹ của cô bạn quý của Triệu Minh.

Sau đám cưới, cha của Triệu Minh dự định nhờ vào sự quen biết, xin kéo Hội về ngành Cảnh Sát và làm việc với ông. Lúc này ông không còn làm Phó ty mà đã nhận một nhiệm vụ khác và chuyển xuống làm việc ở thành phố Nha Trang. Nhưng Hội nhất quyết khước từ. Hơn nữa, nhờ có trình độ Anh văn và một số kinh nghiệm trong thời gian làm việc trong Chiến Dịch Phượng Hoàng, Hội vừa được chọn theo học một khóa tình báo ở Cây Mai. Sau khi mãn khóa được điều về một cơ quan tình báo ở Quân Đoàn IV, làm việc tại tỉnh lỵ Cần Thơ. Trong một căn nhà nhỏ thuê bên bờ sông thơ mộng, vợ chồng Hội thực sự sống những ngày hạnh phúc. 

Hai đứa con trai khôi ngô lần lượt ra đời ở đó. Cuối năm 74, cha của Triệu Minh lại được chuyển ra Vùng I nhận một chức vụ mới. Ông đi trước một mình, để gia đình vẫn ở lại Nha Trang, ông sẽ thu xếp đi sau. Nhưng chỉ hơn ba tháng sau, ngày 10 tháng 3/75, Ban Mê Thuột mất vào tay giặc, các tỉnh Kontum, Pleiku, có lệnh di tản, tái phối trí chiến thuật. Rồi tướng Ngô Quang Trưởng đau đớn nhận lệnh bỏ cả Vùng 1 trong tức tưởi. Cha của Triệu Minh liên lạc vợ con cho biết ông đang tìm phương tiện di tản, bảo cả nhà chờ ông. Nhưng rồi họ không bao giờ còn gặp lại ông nữa. Ông được ghi nhận đã mất tích. Sau ngày mất nước, Hội đưa vợ và hai con từ Cần Thơ về Nha Trang, tạm sống chung với gia đình vợ. Hội vào tù khi cả nhà được tin cha Triệu Minh đã chết ở bờ biển Thuận An, do mấy anh cảnh sát cộng sự với ông cho biết, nhưng không ai biết xác thân ông bị vùi lấp ở đâu cùng với mấy ngàn người bất hạnh khác. 

Khi tổ chức vươt biển cùng mấy người bạn tù, tôi có báo cho Hội biết, và vì chiếc ghe quá nhỏ, nên Hội chỉ có thể đi một mình, hay nhiều lắm là với một đứa con. Sau nhiều ngày suy nghĩ, cuối cùng Hội đã từ chối. Anh bảo là dù sao, anh cũng không thể bỏ vợ con ở lại được. 

Sau gần một năm ở các trại tị nạn Singapore rồi Bataan/Phi Luật Tân, gia đình tôi được sang định cư ở Na-Uy. Khoảng hai năm sau, tôi bất ngờ nhận lá thư từ đảo Palawan, phía sau trên bì thư, ghi tên người gởi là Hà Thị Triêu Minh. Cái tên dễ nhớ. Nội dung chỉ báo là mẹ con đã vượt biển và đến được Palawan, đang chờ thanh lọc, cần sự giúp đỡ của chúng tôi trong thời gian mẹ con phải sống ở đảo.

Biết chính xác đây là vợ con Hội, tôi băn khoăn không biết vì sao Hội lại không viết thư cho tôi mà lại là vợ. Hay là vì một bất hạnh nào đó mà Hội không đến được đất liền. Trong thư không hề nghe nói tới Hội. Tôi liền ra ngân hàng gởi 300 đô la và viết lá thư ngắn, mừng mẹ con Triệu Minh đến đảo và hỏi có Hội cùng đi không, tại sao không thấy nhắc đến trong thư?

Hơn một tháng sau tôi nhận thư hồi âm. Trong gần hai trang giấy, Triệu Minh kể không biết bao nhiêu tội của Hội. Nào là ngoại tình với vợ của người ta, trở lại với cô bồ cũ, lấy tiền bạc từ mồ hôi nước mắt của vợ con để bài bạc, nhậu nhẹt say sưa cả ngày, không hề có trách nhiệm gì với mấy đứa con, nên ở lại không chịu cùng đi! Tôi khá ngạc nhiên, vì biết tính nết Hội từ thời ấu thơ cho đến hết trung học, và gần gũi Hội cả một năm sau khi hai đứa ở tù về. Cho dù nếu có buồn phiền, hay bất mãn cuộc đời đến đâu, Hội sẽ không làm như thế. Từ nhỏ, Hội là một người được sự giáo dục của cha, một vị thầy giáo nghiêm khắc. Sau này, dù trong hoàn cảnh nào, Hội vẫn luôn trọng danh dự và giữ tư cách của mình. 

Tôi liên lạc với đám bạn thân còn ở Việt Nam. Tất cả đều nói về Hội với những điều ngược lại. Họ còn bảo “nếu có một người không bao giờ đi tu mà thành Phật, thì đó chính là thằng Hội”. Tôi gởi thêm cho Triệu Minh một số tiền nữa, vì nghĩ tới hai đứa con của Hội, nhưng không nhận được hồi âm. Sau này tôi được tin Hội đã sang Mỹ theo diện HO-10, nhưng không ai biết Hội ở đâu. 

Mấy năm sau, vào một mùa hè, vợ chồng tôi sang Florida dự đám cưới con trai của anh bạn chí thân, cùng đơn vị lúc xưa và sau tháng 4/75 lại là bạn cùng tù. Chị vợ của anh là một trong hai cô con gái của ông bà chủ nhà ở một quận lỵ, mà trước kia, lúc còn là hai thằng lính trẻ, chúng tôi đã đóng quân trong vườn nhà. Chúng tôi thân thiết và thương mến nhau còn hơn cả anh em, nên khi được anh chị báo tin làm đám cưới cho con, nhân cơ hội này, muốn họp mặt bạn bè của hai người sau bao nhiêu năm lưu lạc, vợ chồng tôi bay sang Florida ngay. Đích thân anh chị đón chúng tôi ở phi trường. 

Anh em bao nhiêu năm gặp lại nhau, chúng tôi ôm lấy nhau mà nước mắt trào ra lúc nào không biết. Về nhà, khách khứa đã khá đông. Bên phía đàn ông, hầu hết những người bạn cùng đơn vị cũ, còn cánh đàn bà, đa số là bạn học của chị vợ. 

Đang giới thiệu, bắt tay hỏi chào vui vẻ, tôi nghe chị vợ nói với mấy cô bạn: 

- Bây giờ, bọn mày ở nhà chơi, tao ra phi trường đón con nhỏ Triệu Minh. 

Nghe hai tiếng Triệu Minh, tôi và bà xã giật mình nhìn nhau. Cái tên vừa hiếm hoi dễ nhớ, vừa còn lại trong ký ức chúng tôi, với đôi điều khó hiểu. Cả vợ chồng tôi tò mò, nôn nao chờ đợi trong hơn 30 phút. Quả nhiên, người khách đàn bà vừa bước vô nhà chính là Hà Thị Triệu Minh. Tuy bây giờ ốm hơn và nhan sắc có tàn phai. Để chắc chắn, tôi hỏi nhỏ chị bạn: 

- Có phải Triệu Minh này trước có ông già làm lớn bên Cảnh sát? 

- Đúng rồi, dường như nó có chồng ở Nha Trang với ông đó, nhưng thằng chồng nó bồ bịch lôi thôi quá nên nó bỏ lâu rồi! 

Nghe chị nói, tôi có chút bực mình, nhưng chỉ cau mày, không nói. Chị dắt Triệu Minh đến. Cô không nhận ra chúng tôi. Sau khi được chúng tôi giới thiệu về mình, Triệu Minh nắm tay mừng rỡ, nhưng trong đôi mắt vẫn u buồn và có điều gì đó không mấy tự nhiên. Triệu Minh cám ơn chúng tôi đã gởi biếu tiền cho mẹ con cô khi còn ở đảo Palawan. Cô cho biết mẹ con đang định cư ở thành phố Salt Lake City, thuộc tiểu bang Utah, đứa con đầu vừa mới vào đại học. Chúng tôi chúc mừng cô và hỏi tin tức về Hội, Cô khựng lại giây lát rồi cúi xuống, trả lời: 

- Nghĩ tình cha của mấy đứa nhỏ, em bảo lãnh anh ấy về ở với mẹ con em, nhưng cũng với cái tánh trai gái rượu chè, chẳng lo lắng gì cho con, nên em tống ra khỏi nhà. Nghe nói bây giờ đang ở đâu đó dưới Cali! 

Tôi ngỏ ý xin địa chỉ hay là số điện thoại của Hội, nhưng cô ta bảo đã không còn liên lạc từ lâu lắm. Và đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi gặp Triêu Minh. 

Hôm nay, gần hai mươi năm sau, tôi bất ngờ gặp lại Hội. Không ngờ bây giờ tiếng sáo của Hội hay đến mê hồn người như vậy. Buổi ra mắt sách chưa chấm dứt, Hội bảo tôi ra xe để Hội đưa về nhà. Anh em xa cách bao nhiêu năm, giờ gặp lại sẽ có biết bao nhiêu điều để nói. Tôi dắt tay Hội đến giới thiệu với người bạn, và bảo Hội cho anh ta địa chỉ để nhờ anh đến đón tôi trước tám giờ tối, vì Hội cho biết phải đi làm ca đêm. Hội ở trong một garage thuê của một người quen ở thành phố Anaheim. 

Cái garage được sửa sang lại, đủ để một cái giường nhỏ và một cái bàn. Tất cả phần còn lại, là một phòng thu âm nhỏ, với một số máy móc. Hội bảo đây là nơi thu âm tiếng sáo của Hội đệm cho những giọng ngâm, giọng ca của bạn bè văn nghệ. Đặc biệt có nhiều ca sĩ nổi danh từng ra vô cái garage chật hẹp, nghèo hèn này. Thấy trên tường có tấm ảnh của một cô gái phóng lớn. Trông đẹp và quí phái. Mới nhìn, tôi tưởng một cô ca sĩ nào đó, nên hỏi Hội. Anh cười không trả lời mà hỏi lại tôi: 

- Bạn không còn nhớ là ai đó hay sao? 

Thấy tôi chau mày suy nghĩ, Hội bảo: 

- Là Triệu Minh đó, lúc còn con gái, trước khi tụi này làm đám cưới! 

Tôi à lên một tiếng rồi cười trêu Hội: 

- Coi bộ vẫn còn yêu nàng hay sao mà treo ảnh nàng trang trọng thế? 

Hỏi câu ấy, tôi không ngờ vô tình chạm tới vết thương trong lòng Hội. Anh tắt mất nụ cười, buồn bã: 

- Sau khi mình vào tù hơn một năm, thì Triệu Minh có con với tên thiếu tá công an VC ở Nha Trang. Cha mẹ mình biết rõ điều này. Mặc dù Minh cho biết là trong một chuyến đi buôn cà phê, cô ta bị bắt và cả một bọn công an gài bẫy để phải uống thuốc mê cho gã thiếu tá trưởng đồn cưỡng hiếp, vì hắn ta quá mê mệt trước nhan sắc của nàng. Trước hoàn cảnh này, ba mẹ mình dù rất đau lòng nhưng cũng đành phải im lặng, khóc thầm. Những tưởng đến đó cũng đủ làm cho mọi người thấm thía tận cùng đau đớn, nhưng rồi tên thiếu tá công an không từ bỏ dục vọng. Hắn ta càng mê Triệu Minh hơn. Quyết định ly hôn với bà vợ quê mùa còn ngoài Hà Nội, và chiếm đoạt Minh vĩnh viễn cho mình. Hắn ta bỏ một số tiền lớn cho Triệu Minh mở sạp buôn khá lớn ở chợ Đầm. Vừa dùng quyền lực gian manh, vùa tung tiền tham nhũng được, sau một thời gian quỳ mọp dưới chân nàng, hắn ta gần đạt được mục đích. Ba mẹ mình biết được điều này. 

Mẹ mình thì hiền lành chỉ khóc, nhưng Ba mình thì đến thẳng nhà đòi bắt hai thằng cháu nội và dứt khoát từ Minh, không chấp nhận nàng là con dâu nữa. Riêng đứa con gái lớn được cha mẹ mình nuôi từ lúc mới sinh, từ chối về với mẹ mà xin được ở luôn với ông bà nội nó.

Đúng thời điểm bi đát ấy, thì mình được ra tù. Khi được ba mình kể lại mọi điều, lòng mình đau đớn lắm, nhưng dù sao cũng còn mấy đứa con chung, và nhất là trong lòng mình vẫn còn in đậm hình ảnh của Triệu Minh trong những ngày nàng sống chết để được làm vợ mình. Mình xin cha mẹ mình tha thứ cho nàng, nếu từ nay nàng dứt khoát rời bỏ tên công an vô lại.

Tranh luận thật nhiều, cuối cùng vì hai đứa cháu nội, ông đồng ý cho mình gặp lại Triệu Minh, nhưng nàng không được phép đến nhà ông. Chính vì vậy mà ông cho mình ra ở căn nhà kho, mà ngày xưa vợ chồng bạn có đến thăm. 

Tôi nôn nao, ngắt lời Hội: 

- Rồi sau đó Minh có dứt khoát với hắn ta không? 

Hội buồn bã trả lời: 

- Minh nói là không hề yêu hắn ta, ban đầu còn thù ghét hắn, nhưng dần dà từ tội nghiệp rồi đến thương hại khi thấy hắn ta quá si mê mình. Hắn bảo sẵn sàng bỏ đảng, bỏ ngành, bỏ mọi chức tước để chỉ được nàng. Hơn nữa dù sao hắn ta với nàng cũng đã có một đứa con gái. Minh thường bảo cái trợt chân ấy đã đưa cuộc đời nàng đi đến một ngã rẽ quá xa, khó mà đứng lên lại được. Hắn còn đòi được gặp mình để xin mình ký giấy ly dị, giao Minh cho hắn. Hắn bảo đảm sẽ lo cho Minh và cả mấy đứa con của mình được sung sướng. 

- Rồi bạn có gặp hắn ta? 

- Không! Dù cái tì vết quá lớn, nhưng mình không thể để mất Minh. Mình sẵn sàng bỏ qua hết mọi chuyện, làm khai sinh cho đứa con gái riêng của Minh là con ruột của mình, khuyên Minh nên trả tiền bạc tài sản lại cho hắn ta, và trả hắn ta về cho vợ con của hắn, đang khốn khổ ở Hà Nội. Nhưng khi Minh đến gặp hắn để nói lại điều này, hắn trở giọng hăm dọa, bảo là sẽ cho đàn em bắt mình vào tù trở lại, hay sẽ tìm cách thủ tiêu mình, làm Minh càng thêm lo sợ tai ương sẽ ụp xuống trên đầu mình. 

Sau đó lòng mình luôn bất an, không tin là trong hoàn cảnh khó khăn, Triệu Minh có thể dễ dàng trút bỏ mọi sợ hãi và cám dỗ tiền bạc để về sống với mình, bây giờ chỉ còn hai bàn tay trắng, nên mình đi chạy vạy vay mượn bà con bè bạn ít tiền, hùn hạp làm đìa nuôi tôm để vợ chồng cùng làm ăn, sinh sống. Nhưng đúng vào lúc đó, thì Minh và gia đình nàng xảy ra tai họa. Bà vợ Bắc kỳ của tên thiếu tá công an từ ngoài Hà Nội vào, dẫn theo một đám xã hội đen, chuyên đâm thuê chém mướn, đến tận sạp buôn của Minh đập phá, đánh đập Minh tàn nhẫn, lột cả áo quần và cắt hết tóc. Đã vậy còn lôi về nhà mẹ Minh hành hung, và bắt buộc trong vòng một tuần, tất cả mọi người phải biến khỏi thành phố này, đi đến một nơi nào đó thật xa, không ai được biết, nếu không sẽ lãnh tai họa. Triêu Minh bán gấp nhà cửa và tất cả đồ đạc, cùng cả nhà chạy vào nhà bà dì ở Rạch Giá và tìm mối vượt biển sau đó. Hơn một tuần sau, mình dắt đứa con gái lớn vào thăm, ngôi nhà đã đổi chủ, và chẳng biết mẹ con Minh và gia đình nàng đã đi đâu. 

- Như vậy tại sao sau này Triêu Minh lại đối xử tàn tệ và đi nói xấu về bạn? Tôi thắc mắc. 

- Ban đầu chính mình cũng không hiểu. Dần dà mình nghĩ là Triệu Minh tìm mọi cách để làm mình phải xa lánh mẹ con Minh. Có thể từ mặc cảm tội lỗi, nhưng muốn giữ thể diện với bạn bè, và nhất là với các đứa con ngày càng khôn lớn, nên nàng đã đổ hết bao nhiêu tội lỗi lên đầu mình. Khi nàng và gia đình vượt biển đến được đảo Palawan, đúng vào thời kỳ Cao Ủy Tị Nạn LHQ đóng cửa các trại, tất cả đều phải qua thanh lọc. Mẹ con Minh và cả gia đình đều bị từ chối vì chẳng có giấy tờ gì chứng minh là vợ con của sĩ quan VNCH, lúc ấy Minh mới viết lá thư gởi về cầu cứu mình, Cha mẹ mình và tất cả bạn bè ai cũng can ngăn, nhưng mình đã âm thầm làm bản sao Giấy Ra Trại và gởi gấp cho nàng. Nhờ có tấm giấy này của mình mà cả nhà mới được đến Mỹ.

- Vậy tại sao khi bạn đi HO đến Mỹ, lại không ở với mẹ con nàng. Chính cô ta bảo là đã tống bạn ra khỏi nhà? 

Hội cười hiền lành, như chẳng có điều gì phiền muộn: 

- Thực ra cô ấy không hề xô đuổi mình. Lo lắng và chăm sóc mình, nhưng luôn tìm cách lẫn tránh mình. Xa lạ đến lạnh lùng. Nhiều lần mình nghe tiếng nàng khóc. Và không biết ba đứa con, hai đứa của mình và một đứa con riêng của cô ta, bị ảnh hưởng thế nào, nhìn mình như một người xa lạ. Trong nhà không bao giờ nghe được tiếng cười. Mình có cảm giác như địa ngục. Hơn ba tháng, dù với tất cả nhẫn nhịn, chiều chuộng, cuối cùng mình đành phải bất lực ra đi, với hy vọng trả lại niềm vui và không khí gia đình cho mấy mẹ con nàng. Trong ba tháng ấy, chỉ có cậu em của cô ta thường gần gũi tâm sự với mình. 

Chính cậu ta đã kể lại tất cả những gì đã xảy ra. Hôm tiễn mình lên xe về đất Cali này, cậu đã trao lại cho mình một số tiền và lá thư của Triệu Minh nhờ chuyển cho mình. Lá thư chỉ là tấm giấy nhỏ, ghi vỏn vẹn một dòng: “Xin hãy tha thứ cho em, và xem như Triệu Minh đã chết từ lâu rồi, không còn trên trần gian này nữa”. Và đến nay cậu ấy là người duy nhất giữ liên lạc với mình, luôn tỏ ra kính mến mình. 

- Sau này, Hội có dịp nào gặp lại Triêu Minh hay hai đứa con trai của Hội? 

- Có một lần, khi thằng con trai lớn làm đám cưới, mình có nhận được thiệp báo tin và thiệp mời. Mình cũng vui mừng lắm, dù đọc trong thiệp báo tin, không thấy có tên mình, mà chỉ có tên mẹ nó. Mình vội vàng đi mua một bộ đồ veston mới, mượn trước một số lư- ơng, để bay lên mừng con, và cũng có dịp gặp lại Triệu Minh. Nhưng buổi tối trước ngày đi, thằng con lại gọi phôn (ông cậu cho nó số phôn), bảo là mình không nên lên, vì cái thư mời là do cậu nó bảo nó gởi, chứ không có ý kiến của mẹ. Nếu mình muốn đi, thì phải gọi xin phép mẹ nó. Nhưng rồi nó lại hạ giọng: “Con không có chút hy vọng gì là má sẽ OK!”. Cuối cùng đành phải bỏ chiếc vé máy bay. Mình buồn, nhưng không trách Triệu Minh. Rồi mới đây, bất ngờ lại gặp thằng em của nó. Nghe nói cũng tốt nghiệp kỹ sư hàng không và đang làm cho hãng Continental. Nó sắp cưới vợ, nên rủ con vợ tương lai đi chơi một vòng ở Las Vegas, rồi sau đó ghé lại Little Saigon mua một ít nữ trang và vật dụng dành cho ngày cưới. Nó gọi phôn hẹn gặp mình phía trước Phước Lộc Thọ. Mình mừng lắm, quên hết mọi chuyện, chỉ mong gặp lại thằng con ruột thịt, để xem bây giờ mặt mũi nó ra sao. 

Tôi lái xe đến gặp nó và vị hôn thê. Cô dâu chào bắt tay tôi vui vẻ, nhưng thằng con thì nhìn tôi dửng dưng xa lạ. Tôi thoáng buồn nhưng kịp trấn tĩnh, vì nghĩ là từ lúc mới sinh ra cho đến bây giờ, nó có sống với tôi bao lâu đâu. Mời hai đứa đi ăn, nó từ chối, bảo chỉ cần uống nước. Chúng tôi ngồi tạm trong cái quán nhỏ bên trong Phước Lộc Thọ. Nó bảo là tụi nó sẽ làm đám cưới vào hai tuần tới tại Maryland. Trước khi đi cậu nó cho số phôn của tôi và dặn nó nhờ tìm gặp tôi khi ghé lại Little Saigon. Uống nước xong, nó đứng dậy móc bóp cho tôi tờ giấy 100 đô la. Con bồ của nó nói một tràng tiếng Mỹ, tôi hiểu là “tại sao lâu ngày mày gặp lại daddy của mày mà mày chỉ cho có 100!”. Nó móc bóp lấy thêm tờ 50 đưa cho tôi. Tôi ngượng ngùng, định từ chối, nhưng rồi sợ nó buồn, hơn nữa nghĩ tới đứa con gái lớn, là chị ruột của nó, đang sống thiếu thốn ở nhà ông bà nội bên Việt Nam, tôi nhét vào túi áo, nói cám ơn hai đứa. Sau đó tôi bảo nó chờ vài phút, rồi chạy đến tiệm hoa gần đó mua một bó huệ trắng. Quay lại, tôi xúc động nói với hai đứa: “nhà ba ở rất gần đây, chạy xe chỉ chừng bảy, tám phút. Ông nội con vừa mất, hôm nay là 49 ngày. Lúc con còn nhỏ, ông nội rất thương con. Bây giờ hai đứa con có mặt ở đây lại sắp làm đám cưới, ba muốn hai con ghé lại thắp cho ông nội cây nhang. Ở nơi chín suối, chắc ông vui lắm”. Con bồ nhìn nó gật đầu, nhưng tôi rất bất ngờ và hụt hẫng khi nghe nó nói: “Để lần khác, hôm nay con không có nhiểu thì giờ!” 

Kể xong câu chuyện khá dài, Hội vẫn dửng dưng nhìn lên trần nhà như đang tìm kiếm một vật gì, trong lúc lòng tôi đau như dao cắt.

Để cho Hội trầm ngâm một lúc, tôi lên tiếng: 

- Tôi tội nghiệp bạn, nhưng không hiểu được bạn. Tại sao trước một nỗi đau như thế mà nhìn bạn vẫn thấy bạn thản nhiên, có khi còn cười nữa, cứ như không? 

Hội nắm tay tôi, xuống giọng: 

- Mình đã quen rồi. Hơn nữa cả dân tộc đều tan tác bi thương qua cuộc thăng trầm quá lớn ấy, nỗi đau của mỗi một chúng ta đâu còn có nghĩa gì. Tất cả chỉ đáng thương hơn là đáng trách! 

Tôi nhìn Hội, lắc đầu: 

- Nhưng ít nhất, bạn cũng phải giải thích, nói lên sự thực, để mấy đứa con của bạn nó hiểu chứ. Chẳng lẽ cứ để các cháu cứ nghĩ xấu về bạn, thờ ơ, đối xử tệ bạc với cha của nó mãi như vậy hay sao? 

Im lặng một lúc, Hội lên tiếng: 

- Thôi, chuyện đã như vậy rồi. Vả lại dù sao mẹ chúng nó cũng đã chịu đựng bao nhiêu khổ cực đắng cay để nuôi nấng bọn nó từ thuở còn tấm bé, đến bây giờ đã thành đạt, nên người. Đó chẳng phải là điều mà những người cha bất hạnh như bọn mình mong ước hay sao? Tốt nhất là hãy để chúng nó luôn nghĩ tốt và hết lòng kính trọng, yêu thương mẹ nó! 

Nhớ tới lời mấy thằng bạn còn ở quê nhà, tôi buột miệng: 

- Hèn gì đám bạn bè bảo là bạn không hề đi tu mà đã đắc đạo rồi. 

Hội nở một nụ cười, nhưng không trọn, rồi như mới nhớ ra điều gì, anh kể tiếp: 

- Cách nay vài tháng, Triệu Minh có dắt đứa con gái riêng về Việt Nam để gặp cha ruột của nó. Nghe nói hắn ta cũng đã tìm cách móc nối tổ chức vượt biển sau ngày Minh đến đảo Palawan, nhưng bị bắt vào tù, mất hết đảng tịch và bị sa thải khỏi ngành công an. Sau đó làm nhân viên bảo vệ cho một khách sạn nào đó ngoài Hội An, Đà Nẵng, nhưng đang bị bệnh rất nặng. Ung thư phổi thời kỳ cuối. 

- Như vậy Triệu Minh vẫn còn nghĩ đến hắn ta? 

Trầm ngâm một lúc, Hội lên tiếng: 

- Cô ta làm thế cũng phải. Dù gì cũng là tình phụ tử mà. Hơn nữa cũng vì nàng mà hắn ta mới ra nông nỗi. Sau đó cô ta có về quê mình thăm đứa con gái đầu lòng. Từ lúc mới sinh cho đến bây giờ nó vẫn ở nhà ông bà nội. Nối nghiệp ông nội: dạy học, và đã có chồng con. Nó là đứa con duy nhất hiểu rõ chuyện của mình với mẹ nó, nên thường viết thư, gọi điện thoại hỏi han an ủi mình. Mấy lần nó phản đối mẹ nó và có ý định nói hết sự thực cho hai đứa em nó biết, nhưng mẹ nó năn nỉ và chính mình cũng can ngăn. Tôi bảo nó nên hiểu và thương mẹ nó. “Vì một mình phải nuôi dạy các con lớn lên ở quê người, mẹ cần sự kính trọng và vâng lời của các em con, mà đành phải đổ hết tội lên đầu ba. Ba nghĩ làm như vậy, chắc mẹ con cũng đau lòng ghê lắm. Người cần yêu thương và an ủi, chính là mẹ của con, chứ không phải là ba”. 

- Vậy mẹ nó có tâm sự gì với nó về bạn hay không? Tôi tò mò hỏi. 

- Cháu có bảo là mẹ nó cũng ân hận lắm. Bà cũng nhớ tôi và mặc cảm tội lỗi quá lớn, khi ít nhiều gì cũng đã phản bội tôi mà còn phải nói với mọi người và nhất là với các con những điều xấu xa không đúng về tôi. Bà thường nhờ con gái chở bà ra nghĩa trang thắp hương trước mộ cha mẹ tôi và ngồi khóc sụt sùi. Nhiều lần bà có ý định đi tìm tôi, xin tha lỗi và trở lại với nhau, nhất là sau khi các con đã lớn và ra sống riêng, bà cô đơn một mình. Nhưng rồi bà không đủ can đảm, khi nghĩ là tất cả mọi thứ đều đã vượt quá xa giới hạn của nó rồi. Bà bảo; “Chiếc bình cổ đã vỡ tan tành, không thể nào có thể hàn gắn từ những mảnh vụn, mà một số cũng đã mất mát rơi rớt theo thời gian”. Bà có ý định về lại Viêt Nam, sau khi cô con gái út lấy chồng. Sẽ quy y, tu ở một ngôi chùa trên Cao Nguyên. Nơi mà ngày xưa, lúc gặp phong ba trắc trở trong tình yêu với mình, bà đã đến đó để cầu xin và thệ ước. 

Tôi hơi bất ngờ và thoáng một chút ngậm ngùi: 

- Dù sao cũng tội nghiệp! Tất cả cũng chỉ là hệ lụy từ một cuộc chiến phi lý mà đám người thắng trận lại là một lũ bất lương. Tôi nghĩ bạn nên tìm gặp nàng, nói một câu thứ tha cho nhẹ lòng. Không phải nhẹ lòng cho riêng nàng mà cho chính cả bạn nữa. Và nếu được, thì sống lại với nhau, coi như đôi bạn trong tuổi già.

Hội cúi xuống, đôi mắt dường như nhắm lại. Suy nghĩ một lúc rồi hạ giọng: 

- Mình đã nhờ đứa con gái nói với nàng điều ấy. Nhưng nàng chưa muốn gặp mình, chỉ xin cám ơn và khuyên mình hãy cố quên đi tất cả. Nàng bảo: ”Đời là bể khổ. Giờ đã cuối đời thì vướng bận thêm nữa mà làm gì”. Cả đứa con gái của mình cũng đồng tình. Cháu bảo “con thấy như thế vẫn hay hơn, chứ mỗi ngày ba má nhìn thấy nhau, dễ nhớ lại chuyện xưa rồi cũng chỉ buồn khổ hơn thôi!” 

Nghe Hội nhắc tới cô con gái còn ở quê nhà, tôi hỏi: 

- Sao bạn không bảo lãnh gia đình cháu gái lớn sang Mỹ sống với bạn cho vui? 

Hội lắc đầu: 

- Vợ chồng nó không muốn. Dường như nó ngại phải chọn ở với cha hay với mẹ. Vậy cũng hay. Chứ sang đây nó thấy mình cơ cực lại buồn thêm. Còn mình, khi nào rảnh rỗi, chạy đến viện dưỡng lão săn sóc, giúp đỡ cho mấy ông bà cụ đã quá già mà chẳng có con cái chăm nom, mình cũng thấy vui. 

Tôi định nói một câu để khen và an ủi, thì Hội vội xem qua đồng hồ rồi kéo tôi đứng dậy. Đúng lúc cả hai thằng đang đối diện với bức ảnh lớn của Triệu Minh treo trên vách. 

Tôi hỏi lại Hội một câu đã hỏi lúc mới vào nhà: 

- Nghĩa là bạn vẫn còn yêu Triệu Minh? 

- Đúng, mình vẫn thiết tha yêu Triệu Minh, nhưng mà Triệu Minh ngày xưa, cái thời nàng và mình mới yêu nhau, và nhất là vì yêu mình mà dám bỏ tất cả. Cuộc tình đó đẹp quá đi chứ, phải không? Đến bây giờ, nhiều đêm mình vẫn nằm mơ thấy nàng. Chỉ những giấc mơ ấy thôi cũng đủ cho mình thấy hạnh phúc và quên hết mọi biến cố sau này. 

- Bây giờ bạn đã có cô bạn gái nào, và có tính kiếm một cô vợ khác để có nhau trong tuổi già?

- Có chứ, mình đang có cô bạn, Bích Loan vừa ngâm thơ với mình chiều nay đó. Giọng ngâm của cô hay lắm. Trước kia là cô giáo ở Pleiku. Nhưng tụi mình chỉ xem như là bạn cho vui, chứ trong lòng mình không còn có tình yêu, trái tim của mình không còn biết rung động kể từ sau cuộc tình với Triệu Minh. 

Bỗng nhớ tới một điều, tôi hỏi Hội: 

- Và dường như nhờ tình yêu ấy mà tiếng sáo của bạn mới tuyệt vời? 

Hội cười, đưa tay lên vách lựa lấy một cây sao trúc Ñaëc San Phoá Nuùi 2011 Trang 188 đưa lên miệng thổi một đoạn trong bài Love Story. Khi chấm dứt, Hội hỏi tôi: 

- Bạn có còn nhớ ra cây sáo trúc này không? Tôi lắc đầu. Hội chìa cây sáo ra trước mặt tôi: 

- Chính là cây sáo cũ, mà ngày mình còn đi học ở Nha Trang, ông thầy ngưởi Huế đã tặng mình, khi bảo mình là “đứa học trò có năng khiếu sẽ tạo cho chiếc sáo này có một linh hồn”. 

Tôi gật đầu đắc ý, định khen Hội một lời, nhưng dường như Hội đã đọc được ý nghĩ đó, anh xua tay: 

- Không, ông Thầy nói không đúng hẳn. Có thể là mình có chút năng khiếu, nhưng năng khiếu không thể tạo được linh hồn. 

Thấy tôi ngớ ra chưa kịp hiểu, Hội tiếp lời: 

- Chính hình ảnh của Triệu Minh, cùng với tất cả những hạnh phúc, đắng cay ấy đã làm nên linh hồn cho cây sáo! 

Tôi cầm săm soi cây sáo đã khá cũ, đưa lại cho Hội rồi buột miệng: 

- Không ngờ qua biết bao thăng trầm, bạn vẫn còn giữ được cây sáo…mà lại không giữ được Triệu Minh. 

Vừa nói xong, biết mình lỡ lời, định nói một câu xin lỗi thì điện thoại reo. Người bạn báo đã đến chờ phía trước. Tôi đứng lên nắm tay Hội, nhắc lại một kỷ niệm xưa, lúc hai thằng còn nhỏ. Chuyện Hội đã bảo tôi đem thả con cuốc chúng tôi vừa vui mừng bẫy được, sau khi nghe cha tôi bảo con cuốc ấy là hóa thân của Vua Thục Đế, vì mất nước mà khóc đến chảy máu mắt, chết đi hóa thành chim, cất lên những tiếng kêu khắc khoải, não nùng. 

Hội ôm chặt vai tôi: 

- Không ngờ bây giờ bọn mình cũng là hai con quốc quốc. 

Chia tay Hội, mở cửa bước ra ngoài. Đang giữa mùa hè mà sao những ngọn gió làm tôi buốt lạnh. Và dường như trời cũng vừa mới đổ thêm xuống một cơn mưa.

Phạm Tín An Ninh

Friday, January 22, 2016

Đại hội XII Đảng CSVN và Kỳ Vọng của Người Dân

“Trong nhiệm kỳ Khóa XI (2011-2015) Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu “Xây dựng chủ nghĩa xã hội còn lâu dài lắm, đến cuối thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”. Vì thế kỳ vọng Đại hội XII sẽ quyết định chấm dứt việc xây dựng CNXH. Mục tiêu của Đảng là xây dựng CNXH không còn nữa thì Đảng sẽ từ bỏquyền độc tôn lãnh đạo nhà nước và xã hội. Thực hiện hai điều trên là để thay đổi thể chế; không phải giải tán Đảng CSVN mà là chuyển từ chế độ hiện nay sang chế độ cộng hòa. Đại hội Đảng lần này sẽ bầu Tổng thống chớ không phải Tổng bí thư, để tổ chức bầu cử Quốc hội vào tháng 5 tới như đã trù liệu”. (Lê Quế Lâm)
                                                                         ***
Đảng CSVN đã chính thức thông báo Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XII sẽ diễn ra từ ngày 21 đến 28/01/2016. Theo thông lệ, để duy trì sự lãnh đạo liên tục của Đảng, việc chuẩn bị đại hội kéo dài khoảng một năm. Thời gian đó cần thiết để khóa cũ ấn định thành phần lãnh đạo cho khóa mới. Tổng bí thư viết dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương (BCH/TƯ). Thủ tướng viết dự thảo báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm qua (2011-2015) và đề ra phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong 5 năm tới (2016-2020). Sau đó, đảng bộ các cấp trực thuộc họp đại hội, góp ý với các dự thảo báo cáo của trung ương và bầu đại diện tham dự đại hội toàn Đảng để hợp thức hóa vai trò của Tổng Bí thư và thông qua Báo cáo chính trị của Đảng.

Việc chuẩn bị Đại hội Đảng lần này có sự bất thường vì sự trì trệ xuất phát từ sự bất đồng trong nội bộ về nhân sự lãnh đạo tức Tổng bí thư tương lai. Ngày 21/12/2015 Hội nghị Trung ương (HNTƯ) 13 của BCH/TƯ bế mạc mà vẫn chưa ấn định được thành phần lãnh đạo, họ quyết định “Giao cho Bộ chính trị tiếp tục chuẩn bị nhân sự trường hợp đặc biệt là Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư TƯĐ khóa XI quá tuổi, tái cử, để đảm nhận chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, trình HNTƯ 14 xem xét quyết định”. Ngày 11/01/2016 HNTƯ 14 nhóm họp. Ba ngày sau, trong diễn văn bế mạc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, hội nghị “đã tập trung thảo luận, thống nhất cao về chủ trương ký kết, phê duyệt Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP)…”. Hội nghị cũng đã “biểu quyết thông qua nhân sự đề cử bổ sung một số Ủy viên TƯĐ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XI thuộc trường hợp “đặc biệt” tái cử khóa XII và danh sách đề cử các đồng chí ứng cử các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước”.
Sau HNTƯ 14, nhiều người đồn đoán Nguyễn Tấn Dũng đã “hết cửa” trong cuộc chạy đua tranh chức tổng bí thư với Nguyễn Phú Trọng. Hội nghị đã biểu quyết: Nguyễn Phú Trọng -Tổng Bí thư, Trần Đại Quang -Chủ tịch Nước, Nguyễn Xuân Phúc -Thủ tướng và Nguyễn Thị Kim Ngân -Chủ tịch Quốc hội. Như vậy, ba nhân vật trong “tứ trụ” là Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Sinh Hùng sẽ rời khỏi chức vụ sau Đại hội XII…Nhưng dựa vào lời ông NPT mô tả kỳ họp ba ngày vừa qua là “dân chủ, đoàn kết, tập trung”, ông Trọng cũng không nêu ra bất cứ một tên tuổi nào được “đặc biệt tái cử”, người viết suy luận: đến giờ phút chót Bộ Chính trị vẫn chưa nhất trí được ai sẽ là Tổng Bí thư, nên tạm thời hòa hoãn bày tỏ sự đoàn kết nội bộ bằng cách tiếp tục duy trì thành phần cũ. Và HNTƯ 14 đã biểu quyết thông qua quyết định của Bộ Chính trị: duy trì chức danh lãnh đạo của bốn ông Trọng Sang Hùng Dũng để Đại hội XII xem xét và quyết định.

Đại hội XII sẽ thừa kế cái di sản nặng nề của khóa XI để lại. Đó là sự chia rẽ trầm trọng không thể nào hàn gắn được trong giới lãnh đạo chóp bu xuất phát từ sự đối đầu giữa Tổng bí thư Đảng và Thủ tướng Chính phủ vì sự bất đồng về đường lối, chính sách quốc gia. Đây là một sự kiện chính trị lớn chưa bao giờ xảy ra: Chính phủ không còn phục tùng Đảng. Ông Nguyễn Phú Trọng vẫn kiên trì với chủ nghĩa xã hội với Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong khi ông Nguyễn Tấn Dũng chủ trương thay đổi thể chế để giúp VN hợp tác sâu rộng về kinh tế mậu dịch với thế giới giúp đất nước thoát khỏi tình trạng tụt hậu, đồng thời cũng là cách để VN thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc. Thật ra, Khóa XI sắp chấm dứt cũng đã thừa kế những di sản nặng nề của 10 Khóa trước kể từ khi Đảng được thành lập. Khóa XI không giải quyết được nay bàn giao cho Đại hội XII. Đó là sứ mạng quan trọng của Đại hội Đảng lần này.

Đại hội Đảng CSVN I hay Đại hội đại biểu lần thứ Nhất của Đảng CS Đông Dương diễn ra ở Ma Cao năm 1935. BCH/TƯ cử ông Hồ Chí Minh làm đại diện Đảng CSĐD tại Quốc tế III. Đại hội Đảng lần thứ II ở Tuyên Quang năm 1951 đã quyết định tách Đảng CSĐD để thành lập ở mỗi nước Đông Dương, các Đảng Mác-Lênin riêng. Ở VN Đại hội thành lập Đảng Lao động Việt Nam và đưa Đảng ra hoạt động công khai. Trong Đại hội này, tư tưởng Mao Trạch Đông được ghi vào điều lệ của Đảng. Nhờ đó, Trung Cộng tích cực ủng hộ CSVN trong kháng chiến chống Pháp. Đại hội Đảng lần thứ III (1960) đề ra hai nhiệm vụ chiến lược: “củng cố miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”. Từ đó, cả LX lẫn TQ đều tận tình ủng hộ CSVN đẩy lùi ảnh hưởng của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) đề ra mục tiêu “đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Tên nước đổi thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gia nhập khối Comecon, ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô. TC coi những hành động này là thái độ phản bội của CSVN nên mở cuộc tấn công dạy cho CSVN một bài học khi Hà Nội đưa quân sang Campuchia lật đổ chế độ Pol Pot thân Bắc Kinh. Từ đó Hiến pháp 1980 của VN lên án bọn bành trướng Bắc Kinh là kẻ thù của dân tộc. Vì thế để bảo vệ đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại hội Đảng lần thứ V (1982) đề ra mục tiêu “Gắn bó chặt chẽ và hợp tác toàn diện với Liên Xô là nguyên tắc. là chiến lược, đồng thời là tình cảm cách mạng”.
Sau khi TBT Lê Duẩn qua đời (10/7/1986) Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đã thú nhận “Trong những năm qua việc nhìn nhận, đánh giá tình hình cụ thể về các mặt kinh tế - xã hội của đất nước đã có nhiều thiếu sót. Do vậy, đã dẫn đến nhiều sai lầm "trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế". Vì thế Đại hội VI đã đề ra “đường lối đổi mới. Trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế”. Đến cuối thập niên 1980, LX và khối CS Đông Âu bước vào giai đoạn thoái trào, CSVN quay về hợp tác với Trung Cộng qua Thỏa ước Thành Đô (9/1990) Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) đề ra “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, xây dựng nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa theo khuôn mẫu của Đặng Tiểu Bình.

Trong thời điểm này, Võ Văn Kiệt làm thủ tướng, ông vận động Mỹ bãi bỏ cấm vận, sau đó tiến tới bình thường hóa bang giao với VN (7/1995). Trước đó VN đã gia nhập khối ASEAN và hợp tác giao thương với Cộng đồng Âu Châu (EU). Từ giữa năm 1995 VN chuẩn bị tổ chức Đại hội lần thứ VIII, ông Võ Văn Kiệt được coi là nhân vật sáng giá nhất trong vai trò tổng bí thư. Phó thủ tướng Phan Văn Khải lúc đó nhận xét: Ông Kiệt làm tổng bí thư, VN đổi mới nhanh lắm vì ông Kiệt chán ngán chủ nghĩa xã hội đến tận cổ. Nhưng con đường tiến của ông Kiệt bị chận lại vì ông Đỗ Mười lúc bấy giờ đã ngấp nghé 80 tuổi vẫn còn muốn tiếp tục làm Tổng bí thư. Nhóm cán bộ bảo thủ giáo điều quyết định giữ nguyên vị trí của bộ ba lãnh tụ TBT Đỗ Mười 79 tuổi, Chủ tịch nước Lê Đức Anh 76 tuổi và Thủ tướng Võ Văn Kiệt 74 tuổi trong Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996. Đến cuối năm sau (1997), nhóm bảo thủ thân TQ đưa ra lý do các ông Mười, Anh, Kiệt đều tuổi cao và áp lực họ về hưu để làm cố vấn cho BCH/TƯĐ. Thượng tướng Lê Khả Phiêu được bầu làm Tổng Bí thư. Từ đó, mối quan hệ VN/TQ ngày càng chặt chẽ thêm với phương châm 16 chữ và 4 tốt. Hai hiệp ước về lãnh thổ trên bộ và vịnh Bắc Bộ được ký với TQ năm 1999 và 2000. Hậu quả là Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan cùng nhiều vùng đất khác cũng như hơn 10 ngàn cây số vuông ở vịnh Bắc Bộ mất về tay TQ so với các hiệp ước mà thực dân Pháp đã ký với triều đình nhà Thanh hồi cuối thế kỷ 19.

Ngày nay, với việc duy trì vai trò lãnh đạo của “tứ trụ” hoặc  2 cột trụ NPT và NTD từ khóa XI sang khóa XII, có thể nhóm bảo thủ thân TQ muốn tái diễn trò chính trị hồi năm 1996, lần này là ngăn chận không cho Nguyễn Tấn Dũng làm tổng bí thư. Nhóm “tứ trụ” lãnh đạo nửa nhiệm kỳ, đến giữa năm 2018 họ sẽ bị áp lực phải từ nhiệm vì quá tuổi qui định. Khóa XII sẽ kết thúc vào năm 2020. Đó là thời điểm VN sáp nhập vào TQ theo cam kết Hội nghị Thành Đô. Tờ Hoàn Cầu Thời Báo –cơ quan ngôn luận bán chính thức của TC đã công khai phổ biến các điều khoản trong thỏa thuận ký kết bởi cấp lãnh đạo tối cao hai nước. Theo đó “Việt Nam bày tỏ mong muốn sẳn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương…Phía Trung Quốc đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”. 

Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) chủ trương tiếp tục hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong giai đoạn này ông Nguyễn Tấn Dũng làm Phó Thủ tướng thường trực. Rút kinh nghiệm từ  thất bại của ông Kiệt, dù xuất thân từ Mặt trận GPMN song Phó TT Nguyễn Tấn Dũng tỏ ra “bảo hoàng hơn vua” trong việc xây dựng tổ quốc XHCN, nên được lòng hai “thái thượng hoàng” Đỗ Mười và Lê Đức Anh. Đến Đại hội Đảng lần thứ X (2006) ông Dũng làm thủ tướng, được sự ủng hộ mạnh mẽ của thế lực “tư bản đỏ”. Thế lực này nổi lên nhờ nghị quyết của Đại hội X cho phép đảng viên được làm kinh tế tư nhân kể cả kinh tế tư bản tư nhân. 

Đại hội Đảng lần thứ XI (2011) quyết định tiếp tục xây dựng CNXH nhưng theo “đặc trưng mớidựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”. Dựa vào đó TT Nguyễn Tấn Dũng đề xuất Bộ CT thành lập các Tổng công ty, các Tập đoàn kinh tế nhà nước hoạt động đa ngành, đa lãnh vực; bổ nhiệm đảng viên cao cấp giữ các chức vụ lãnh đạo trong các cơ sở quốc doanh này. Thế lực của TT Nguyễn Tấn Dũng càng vững mạnh thêm khiến nhóm bảo thủ trong Bộ CT tìm cách hạ bệ Dũng. Họ nêu lý do để kỷ luật Dũng vì “một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, điển hình là Vinashin, Vinalines hoạt động kém hiệu quả, có nhiều sai phạm, gây tổn thất lớn, với hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt và ảnh hưởng lớn đến uy tín vai trò kinh tế nhà nước”. Để phản bác, ông Dũng quy trách nhiệm cho tập thể Bộ CT vì đó là chủ trương lớn của Đảng. Do đó Bộ CT và Ban Bí thư “xin nhận lỗi và đề nghị BCH/TƯ có hình thức kỷ luật về trách nhiệm chính trị đối với tập thể Bộ CT và một đồng chí trong Bộ CT”. BCH/TƯ quyết định không kỷ luật cả hai, và cũng “xin nhận lỗi trước toàn Đảng vì trách nhiệm của mình trong việc để xảy ra và chưa ngăn chặn được những khuyết điểm, yếu kém trong thời gian qua” (Trích thông báo của HNTƯ6 tháng 10/2012).

Không thuyết phục được HNTƯ 6 kỷ luật TT Nguyễn Tấn Dũng, uy tín của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xuống thấp. Tập thể Bộ CT, Ban Bí thư và BCH/TƯ đều nhận lỗi trước toàn Đảng. Trong Đảng chức vụ Tổng Bí thư là cao cấp nhất, đáng lẽ ông NPT cũng phải nhận lỗi và xin chịu kỷ luật. Dư luận thường đề cập đến “đồng chí X” ám chỉ TT Dũng, nhưng nhân vật đó phải là đồng chí Tổng bí thư, chớ không phải đồng chí thủ tướng. Từ đó, tên tuổi của TT Nguyễn Tấn Dũng ngày càng nổi bật nhờ khôn khéo, biết biến khuyết điểm và trách nhiệm của mình thành khuyết điểm và trách nhiệm của Đảng.

Năm 2014 TQ đưa giàn khoan HD 891 vào hải phận VN, Dũng là người duy nhất trong bộ máy lãnh đạo Đảng lên tiếng phản kháng quyết liệt nhất. Trong khi đó, tờ Hoàn Cầu Thời Báo của TQ lại biện minh: Hoàng Sa và Trường Sa là của VN nhưng Công hàm năm 1958 của TT Phạm Văn Đồng đã thừa nhận thuộc chủ quyền của TQ. Tờ báo còn đề cập số tiền 870 tỷ Mỹ kim mà CSVN nợ của TQ trong hai cuộc kháng chiến. Việc này làm hoen ố thanh danh của Đảng, nhưng uy tín Dũng lại lên cao. Trong HNTƯ 10 hồi đầu tháng Giêng 2015 chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XII, ông được BCH/TƯ bỏ phiếu tín nhiệm cao cao nhất.

Trước triển vọng Nguyễn Tấn Dũng trở thành Tổng bí thư trong Đại hội XII, các phần tử chống Dũng phải tìm cách hạ đối thủ của mình. Họ tung tin NTD sẽ là Tổng bí thư và ông ta sẽ giải tán Đảng, chuyển đổi thể chế từ độc tài cộng sản sang độc tài cá nhân gia đình trị. Một số cán bộ lão thành, cán bộ nghỉ hưu đã gởi thư lên Tổng bí thư và BCH/TƯ cáo buộc NTD có nhiều khuyết điểm không xứng đáng làm tổng bí thư. Mối ưu tư lo lắng của các đảng viên lão thành về việc Đảng CS bị giải tán là thường tình, chính đáng. Họ sợ mất sổ hưu, cho thấy họ chẳng giàu có gì, chỉ có những đảng viên đầy thủ đoạn biết luồn lọt chớp thời cơ mới có được tài sản khổng lồ. Suốt cuộc đời của họ gắn liền với hai cuộc kháng chiến do Đảng CS lãnh đạo, anh em con cháu họ đã trở thành liệt sĩ được bằng khen của Đảng treo đầy nhà…Nếu Đảng CS bị giải tán là điều đau buồn, uất hận nên họ lên tiếng chống NTD, tuy nhiên những lập luận họ đưa ra lại tạo sự tranh luận sôi nổi.     

Việc ông Dũng có sui gia là cựu quân nhân VNCH theo Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh, một giảng viên đã nghỉ hưu ở Sài Gòn đã nói với BBC là điều rất tốt, là dấu hiệu tốt cho sự hòa giải. Bà nói “Tôi là người không ủng hộ chính sách lý lịch một chút nào vì tôi đã từng là nạn nhân của nó, con em của bên thua cuộc đã bị ảnh hưởng rất nhiều”. Bà chỉ thắc mắc: Thủ tướng VN có sui gia như vậy là sự thật xảy ra từ nhiều năm rồi. Nếu điều đó rất có hại cho an ninh quốc gia hay chế độ thì ông Dũng đã và đang ở vị trí quan trọng, tại vị hơn 10 năm rồi, tại sao lâu nay không đặt vấn đề? Có phải vì hiện nay muốn ngăn cản ông Dũng?

Nhà báo Huy Đức nhận xét “Chủ nghĩa lý lịch là một chính sách vô nhân đạo mà hàng triệu đảng viên khác đang bị ràng buộc, ngay cả các cháu học sinh vẫn bị lý lịch cản trở khi thi vào một số ngành”. Vì thế ông “Đánh giá cao việc Thủ tướng đã vì hạnh phúc của con gái, ủng hộ một cuộc hôn nhân mà biết chắc sẽ gây phiền phức đến ông. Nhưng tôi còn đánh giá cao hơn, ông Dũng -với tư cách là một người quyền lực nhất trong đảng tuy về danh nghĩa không phải là người cao nhất lúc đó- đấu tranh để Đảng sửa đổi những quy định lỗi thời về lý lịch”.  

Về việc gia đình Nguyễn Tấn Dũng giàu có, tài sản khổng lồ là vì Đảng đã dành cho cán bộ đảng viên quá nhiều đặc quyền đặc lợi, nay Đảng lại cho phép họ được làm kinh tế tư bản tư nhân. Vì thế không riêng gì Nguyễn Tấn Dũng mà hầu như gia đình của những đảng viên có chức có quyền đều trở thành đại gia, đại phú. Còn việc ông Dũng có mưu đồ làm tổng bí thư cũng là lẽ thường của những người làm chính trị. Không riêng gì thủ tướng mà có lẽ các vị trong “tứ trụ” và các ủy viên Bộ CT đều ngấp nghé ngôi vị này? Nhưng có ai dám đòi thay đổi thể chế để có lợi cho dân cho nước?
Về độc tài cá nhân, ông Nguyễn An Dân -một nhà tư vấn về pháp lý đang sinh sống tại Sài Gòn chia sẻ ý kiến này với BBC: “Những người dân chủ hay quần chúng có chính kiến hãy nhớ rằng độc tài cá nhân là con của độc tài tập thể. Nếu sợ đứa con độc tài cá nhân ra đời mà chúng ta “vô tình ủng hộ” cho bà mẹ độc tài tập thể thì e rằng chúng ta sai lầm trong hướng đi của mình”.

Nói gì thì nói, giờ đây vận mạng dân tộc đang chờ sự quyết định của 1510 đại biểu tham dự Đại hội Đại biểu Toàn Đảng lần thứ XII sẽ khai diễn trong hai ngày tới đây. Đặc biệt lần này, Bộ Công an đã có kế hoạch ra quân với quyết tâm bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn cho đại hội”. Cuộc xuất quân thực tập đã diễn ra ngày 9/01/2016 tại khu vực sân vận động Ba Đình Hà Nội với lực lượng hùng hậu gần 5200 binh lính gồm cảnh sát đặc nhiệm và cơ động, bộ đội đặc công, một bộ phận của Sư đoàn Phòng không Không quân, chiến xa bọc thép chống đạn, xe tác chiến điện tử…

Trước đó, đã có những đồn đoán sẽ có đảo chánh bằng quân sự trong thời gian diễn ra Đại hội XII. Một đại hội máu sẽ xảy ra là một điều không thể tránh khỏi. Nay với việc điều động quân tại thủ đô trong thời điểm cuộc tranh giành quyền lực “một mất một còn” giữa nhóm canh tân và bảo thủ đã đến hồi quyết liệt, khiến người viết liên tưởng đến cuộc đảo chánh Gorbachev ngày 19/8/1991. CSVN xuất phát từ Liên Xô và sự kết liễu của nó cũng sẽ giống như LX. Tuy nhiên người viết mong rằng vai trò của Đảng CSVN sẽ được giải quyết theo kiểu VN. Trong những ngày sắp tới, trước hơn 1500 đại biểu tham dự Đại hội XII, TBT Nguyễn Phú Trọng hoặc TT Nguyễn Tấn Dũng sẽ đại diện BCH/TƯ Khóa XI báo cáo các thành quả của Đảng trong nhiệm kỳ 2011-2015 với vài nét nổi bật như: 

-Luật Biển VN được Quốc hội thông qua ngày 21/6/2012 khẳng định chủ quyền của VN trên hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Luật Trưng cầu Ý dân được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2015. Ngoài ra VN còn ký các Hiệp định FTA (Thương mại tự do) với Đại Hàn, với EU (Công đồng Âu Châu) và TPP. Ngày 31/5/2013, hội nghị An ninh châu Á diễn ra tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La (Shangri-La Dialogue). Ban tổ chức mời thủ tướng VN làm diễn giả chính, đọc diễn văn khai mạc. Trong bài diễn văn tựa đề “Niềm tin chiến lược” TT Nguyễn Tấn Dũng đã phác hoạ triển vọng tươi sáng của khu vực Á Châu/Thái Bình Dương hòa bình, ổn định và phát triển dựa vào khối ASEAN và sự hợp tác của HK và TQ.

Bên cạnh các thành tựu trên, VN còn gặp nhiều khó khăn trong mối bang giao với TQ. Bắc Kinh không chấp nhận Luật Biển của VN, gây hấn bằng cách đưa giàn khoan HD 981 vào hải phận VN ở Hoàng Sa năm 2014 và mới đây ở Vịnh Bắc Bộ. Về việc xây dựng CNXH, một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước được coi là chủ trương lớn của Đảng, như đã trình bày ở trên bị đánh giá là hoạt động kém hiệu quả, có nhiều sai phạm, gây tổn thất lớn, với hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt và ảnh hưởng lớn đến uy tín vai trò kinh tế nhà nước”. Vì thế, toàn thể Bộ CT, Ban Bí thư và BCH/TƯ đã xin nhận lỗi trước toàn Đảng. Nạn tham nhũng ngày càng phát triển, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ví von, nhận xét tham nhũng như bầy sâu và lên tiếng báo động: “Không phải một con sâu, mà một bầy sâu. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là ‘chết’ đất nước này”.

Trên đây là thực trạng đất nước đã đưa đến việc tranh chấp về đường lối, chính sách quốc gia trong thượng tầng nội bộ của Đảng. Các đối thủ đã tung ra những nét xấu xa của nhau để hạ thủ nhau được lan truyền sâu rộng trong thời đại tin học. Nhờ đó người dân hiểu được “thế nước” nhưng “lòng dân” thể hiện như thế nào? Qua đài BBC, ông Nguyễn An Dân ở Sài Gòn đã phát biểu: “Dù nhiều người nói “quần chúng ngoài đảng” có nói gì thì cũng không ảnh hưởng vào đảng thì tôi e rằng không phải. Khi mạng xã hội chưa phát triển, nên đảng ít bị dư luận soi mói do dễ bưng bít thông tin. Nay, dù ít dù nhiều, với tác dụng của mạng xã hội hiện nay, cũng gây tác dụng phần nào đó vào quyết định của đảng. Nếu không có tác dụng thì vì sao có nhiều thông tin lọt lộ ra để dùng “quần chúng bên ngoài” gây sức ép cho nhau lên các phe phái bên trong đảng?”. Như vậy, hai phe đối nghịch đã lợi dụng lòng dân để gây sức ép tấn công nhau.

Trong kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa 13, ông Lê Như Tiến Đại biểu Quảng Trị có nói đến thời điểm “hoàng hôn của nhiệm kỳ”các quan chức nhà nước chạy đua nước rút để thực hiện những chuyến tàu vét cuối cùng trước khi hạ cánh. Sau đó Quốc hội nhất trí thông qua Luật Trưng Cầu Ý Dân, theo người viết thì việc Quốc hội tôn trọng ý dân là phương cách giúp các đảng viên cộng sản hạ cánh an toàn trong buổi hoàng hôn, ngày tàn của chế độ. Người viết kỳ vọng trong Đại hội Đảng lần này, Đảng sẽ quyết định chấm dứt việc xây dựng CNXH vì Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: Xây dựng chủ nghĩa xã hội còn lâu dài lắm. Đến cuối thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở VN hay chưa”. Mục tiêu của Đảng là xây dựng CNXH không còn nữa thì Đảng sẽ từ bỏ quyền độc tôn lãnh đạo nhà nước và xã hội.

Thực hiện hai mục tiêu trên là để thay đổi thể chế, không phải giải tán Đảng CSVN mà chuyển từ chế độ hiện hành sang chế độ cộng hòa, dân chủ. Nguyên thủ là tổng thống sẽ tổ chức bầu cử Quốc hội, thảo ra Hiến pháp xây dựng chế độ mới, đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập. Người viết kỳ vọng đó sẽ là quyết định của Đại hội Đại biểu Toàn Đảng CSVN lần thứ XII. Lịch sử sẽ ghi công Đại hội này đã giúp Đất nước hồi sinh, mở ra thời kỳ phát triển huy hoàng của Dân tộc. Tiếp sau Đại hội XII là Tết Bính Thân 2016 mở đầu Mùa Xuân của Dân tộc, đất nước bước vào kỷ nguyên mới Dân Chủ Tự Do Độc Lập Phú Cường.                                   

Lê Quế Lâm