Trước 1975, nhà tôi lưu trữ những ấn phẩm tràn ngập hình Cô mà ba tôi
mua trước lúc tôi được sanh ra. Những năm 70, tôi được cùng những ông
anh họ đủ các binh chủng của VNCH đến
Đêm Màu Hồng nghe Cô hát. Biết là hay, nhưng vẫn chưa cảm nhận được
Tiếng Hát chạm thấu tâm can bằng giai đoạn được nghe Cô hát sau
1975. (cũng có thể vì sách báo bị tịch thu, gia đình tù tội vì chứa loại
ấn phẩm bị vu là "đồi trụy" này). Hãy nghe Thái Thanh phát biểu về Ca
khúc Bà mẹ Gio Linh:
"Lần nào hát Bà mẹ Gio Linh tôi cũng khóc hết.
Không chỉ thời xưa mà cả bây giờ nữa. Có những hình ảnh không thể nào
phai nhạt đi được. Chỉ có một số người cùng thế hệ Thái Thanh, hoặc lớn
hơn, nhỏ hơn vài tuổi, có thể hiểu được thảm cảnh chiến tranh. Còn những
người trẻ sau này chỉ biết đến chiến tranh qua sách vở, qua những lời
kể lại của cha mẹ nên sự xúc động không như ngày xưa. Ngày xưa hát mà
khóc bên nhau suốt thời gian chiến tranh chống Pháp."
(khi thi vào trường
Sân Khấu, tôi đã diễn một khúc dựa theo ca khúc này mà tôi đã ghi lại
trong cuốn Ký Sự Người Đàn Bà Bị Chồng Bỏ)
Những năm sau này, ông xã
tôi thích nghe tiếng hát Ý Lan, con gái của cô, riêng tôi, trên đường
thiên lý đi dọc nước Mỹ, nếu được chọn nghe, tôi thích hơn được nghe
tiếng của Cô- người Ca Nhân mà tôi được trùng ngày sanh với (August 05).
Mỗi người thường chọn một bài Cô hát, như chọn vẽ một góc tâm hồn
mình. Cho tôi xin nghe lại bài HƯƠNG CA VÔ TẬN (TRẦM TỬ THIÊNG)
https://www.youtube.com/watch?v=_h0qcnkP_6k
Thursday, March 19, 2020
Sunday, March 15, 2020
Mê Cung - Đào Văn Bình
Trong tập truyện Mê Cung - tác phẩm mới của Đào Văn Bình được Trọng Đạt
giới thiệu : Xóm Chài BÌnh Hưng (Đoản khúc ngợi ca biển)
Đây là một ký sự của Văn Bình, anh kể lại khoảng thời gian sau khi ra trường năm 1966, về thực tập tại một vùng biển Phan Thiết. Các đoản thiên của Tập truyện chỉ là giả tưởng thì đây chính là những cảm nghĩ, suy tư của chàng về một xóm chài nghèo bên bờ đại dương. Tác giả không ưa thích biển vì nó u buồn, đơn điệu, tiếng sóng vỗ rì rào không ngừng luôn gợi cho ta những nỗi buồn xa vắng:
Văn Bình ghi nhận:
“Nếu biển rộng mênh mông thì tình của mẹ cũng vô bờ bến. Nếu biển ru ta bằng tiếng sóng vỗ rì rào buồn muôn thuở thì mẹ cũng vỗ về giấc ngủ của ta bằng giọng à ơi tha thiết”
Biển Thương Chánh nhỏ và buồn, một bãi biển nghèo nàn mộc mạc, những hàng thông, phi lao buông tiếng thở rì rào. Quang cảnh thật vắng vẻ quạnh hiu, tình cảm của tác giả trước bãi biển nhỏ và buồn khiến cho anh thấy cô đơn và rồi mâu thuẫn thay. Sống tại nơi mà anh cảm thấy tù túng ao ước một nơi xa hoang vắng và bây giờ nó thúc dục anh trở lại cái nơi mà mình đã sống đã quen, nay lại nhớ các bạn thân yêu ở Sài Gòn quây quần bên gánh phở rong .
Văn Bình được giám đốc hãng đồ hộp Intraco cho chàng ở một căn phòng nhỏ ở trên gác, có giường và cái bàn nhỏ, một nơi riêng tư không phải nằm chung giường với các anh em trong gia đình như trước. Tự nhiên anh lại trở thành nghệ sĩ thích đứng bên song cửa nhìn biển khơi, ngắm những cánh buồm lô nhô xa tít, đưa mắt nhìn những chiếc thuyền quay vào bến cá.
Chiều qua đêm tới, những bước chân nhẹ nhàng theo tiếng gió đưa, tiếng sóng vỗ rì rào từ xa vọng lại, ánh đèn của những con thuyền câu mực về đêm như choàng chiếc vương miện sáng rực như sao sa, giống như một thành phố nổi xuất hiện ban đêm rồi biền mất khi bình minh ló rạng. Ban chiều những đoàn thuyền nối đuôi nhau ra biển mang theo những chiếc đèn măng sông sáng, đàn mực tìm tới nơi có ánh sáng để làm mồi cho dân chài, biển đã lột xác thành mỹ nhân.
Thành phố về đêm thanh tịnh và êm đềm, con đường Bình Hưng chạy ra biển đang nằm ép mình dưới ánh đèn vàng hiu hắt, đám thanh niên ra chợ cá khi choạng vạng tối, trai cũng như gái ăn mặc đẹp la cà ăn nhậu, coi hát hay đi dạo phố. Rồi những lão ngư ông trông giống như những bóng mờ trong đêm tối làm bạn với chai rượu đế để đánh dấu một ngày đã qua, cuộc đời của họ giống như con đường cô đơn dưới ngọn đèn vàng hiu hắt. Văn Bình đứng trên căn gác nhìn đường như muốn thở than trước cảnh hoang vu tịch mịch.
Tiếng ồn ào máy chạy, tiếng người gọi nhau khiến chàng tỉnh giấc, tiếng dao băm trên thớt vang động khiến anh tưởng như một ngày làm cỗ lớn. Đó là sinh hoạt về đêm của hãng đồ hộp, từng gánh cá được quẩy vào, hôm nay cá về lúc khuya, hàng trăm người đàn bà, con gái sống bằng nghề chặt đầu cá để kịp đưa vô phòng lạnh. Chỉ cần năm nhát dao: chặt đầu, moi bụng, đánh vẩy hai mặt, chặt đuôi thế là xong. Tại đây có cả một em bé mới tám tuổi, Văn Bình tự nhiên chạnh lòng xót thương cho em bé hãy còn quá nhỏ phải lao đầu vào cuộc mưu sinh đêm hôm khuya khoắt trong khi hàng triệu em bé khác đang say sưa giấc ngủ bên nệm ấm, chăn êm, bên vòng tay trìu mến của mẹ hiền
Hai mươi năm sống ở Sài Gòn chàng đã chứng kiến những trẻ em bươi đống rác tìm kiếm ve chai, dép nhựa… tác giả lại thấy lòng mình xe lại bởi lý do đơn giản, trong khi mọi người ao ước sự giầu sang hạnh phúc mà không làm gì để thay đổi thực trạng ấy. Bất công xã hội thì ai cũng ghét nhưng mọi người đều thích những bất công có lợi cho mình.
Cuộc sống ở bến chài Bình Hưng bừng lên nhưng nó âm thầm với những người đang mơ màng giấc điệp, nó cũng ẩn chứa sự cay đắng, hy vọng, hồn nhiên, yêu đời. Biển khơi giờ đây chan hòa trong ánh trăng, những giải mây trắng nhẹ nhàng lững lờ bay đã che khuất mảnh trăng lưỡi liềm. Biển và đêm không chết nhưng nó cũng không ngủ mà như vỗ về giải cát đang nằm uốn lượn và ru ngủ cái thành phố nhỏ đang im lìm trong giấc điệp bằng bản tình ca buồn ra riết:
“Gió ơi, em lạnh cho lòng ta ngây ngất,
Biển ơi! hãy hát lên đi…”
Văn Bình trở về căn gác nhỏ hưởng làn gió mát qua song cửa rồi mơ màng tới bóng dáng của Sài Gòn với bạn bè thân yêu với nỗi nhớ nhung bất tận.
Tác giả kết luận
“Tôi nhìn lên trời, ngắm nhìn mảnh trăng vô định. Bây giờ trái tim tôi bỏ ngỏ….Tiếng băm trên thớt vẫn vang đều một nhịp… nhưng căn gác nhỏ bé của tôi trông sao hoang vắng…. bóng dáng của Sài Gòn, của các bạn bè thân yêu chạy qua trong đáy mắt với chút nhớ nhung … đã ru tôi vào giấc ngủ chập chờn”
Một ký sự nhẹ nhàng, giản dị nhưng cũng diễn tả phong phú cuộc sống lam lũ của một xóm chài nghèo.
Đây là một tuyển tập truyện ngắn hoàn toàn hư cấu nhưng mang tính tư tưởng và triết lý. Nói “hư cấu” nhưng đều dựa vào những sự kiện có thật trong cuộc sống vì không một đạo học, tư tưởng, triết lý hay thơ, truyện nào mà không liên quan đến cuộc sống. Tuyển tập bao gồm những chủ đề như: Tự ái của con người, diễn dịch ý chỉ của thần linh theo ý muốn của giáo sĩ, ảo tưởng về sự thành thật, nỗi buồn của Thần Chết, ảo tưởng của con người về một thế giới toàn là tu sĩ, thân phận của đàn ông khoảng nửa thế kỷ sau, cuộc sống ở Thiên Đàng ra sao. Và sau hết là một số chuyện ma để mua vui cho đời.
Tuyển tập này mất ít ra mười lăm năm mới hoàn tất. Nguyên do là vì tác giả quá tham lam, dành nhiều thì giờ cho các đề tài bình luận chính trị và đôi khi bí đề tài. Bí đề tài không có nghĩa là không có đề tài. Chuyện đời thì đầy rẫy, nhưng không tìm ra tư tưởng hay triết lý cho đề tài đó. Rất mong tuyển tập này không phụ lòng mong đợi của độc giả.
Book Summary From Author
This book is a collection of short stories, all of which are imaginary, contemplative and philosophical. Though imaginary, all the stories are based partly on real-life stories. Actually, all religions, all thought systems, and all philosophies must be related to life; so do poetry and fictional writings. This book covers several topics such as human pride, the divine will as explained by priests, the illusion of truthfulness, the sorrows of God of death, the human illusion about a world for priests only, the sadness of male humans in their second-half lives, the way of life in heaven... And lastly, some ghost stories for fun.
It took the author fifteen years to finish this book. The reason is that I was repeatedly busy for writing political essays, and sometimes I had writer's block, in which I intended to write a short story but I found its topic did not have any thoughtful or philosophical meaning. I wish this collection of short stories would satisfy so many readers.
Đây là một ký sự của Văn Bình, anh kể lại khoảng thời gian sau khi ra trường năm 1966, về thực tập tại một vùng biển Phan Thiết. Các đoản thiên của Tập truyện chỉ là giả tưởng thì đây chính là những cảm nghĩ, suy tư của chàng về một xóm chài nghèo bên bờ đại dương. Tác giả không ưa thích biển vì nó u buồn, đơn điệu, tiếng sóng vỗ rì rào không ngừng luôn gợi cho ta những nỗi buồn xa vắng:
Văn Bình ghi nhận:
“Nếu biển rộng mênh mông thì tình của mẹ cũng vô bờ bến. Nếu biển ru ta bằng tiếng sóng vỗ rì rào buồn muôn thuở thì mẹ cũng vỗ về giấc ngủ của ta bằng giọng à ơi tha thiết”
Biển Thương Chánh nhỏ và buồn, một bãi biển nghèo nàn mộc mạc, những hàng thông, phi lao buông tiếng thở rì rào. Quang cảnh thật vắng vẻ quạnh hiu, tình cảm của tác giả trước bãi biển nhỏ và buồn khiến cho anh thấy cô đơn và rồi mâu thuẫn thay. Sống tại nơi mà anh cảm thấy tù túng ao ước một nơi xa hoang vắng và bây giờ nó thúc dục anh trở lại cái nơi mà mình đã sống đã quen, nay lại nhớ các bạn thân yêu ở Sài Gòn quây quần bên gánh phở rong .
Văn Bình được giám đốc hãng đồ hộp Intraco cho chàng ở một căn phòng nhỏ ở trên gác, có giường và cái bàn nhỏ, một nơi riêng tư không phải nằm chung giường với các anh em trong gia đình như trước. Tự nhiên anh lại trở thành nghệ sĩ thích đứng bên song cửa nhìn biển khơi, ngắm những cánh buồm lô nhô xa tít, đưa mắt nhìn những chiếc thuyền quay vào bến cá.
Chiều qua đêm tới, những bước chân nhẹ nhàng theo tiếng gió đưa, tiếng sóng vỗ rì rào từ xa vọng lại, ánh đèn của những con thuyền câu mực về đêm như choàng chiếc vương miện sáng rực như sao sa, giống như một thành phố nổi xuất hiện ban đêm rồi biền mất khi bình minh ló rạng. Ban chiều những đoàn thuyền nối đuôi nhau ra biển mang theo những chiếc đèn măng sông sáng, đàn mực tìm tới nơi có ánh sáng để làm mồi cho dân chài, biển đã lột xác thành mỹ nhân.
Thành phố về đêm thanh tịnh và êm đềm, con đường Bình Hưng chạy ra biển đang nằm ép mình dưới ánh đèn vàng hiu hắt, đám thanh niên ra chợ cá khi choạng vạng tối, trai cũng như gái ăn mặc đẹp la cà ăn nhậu, coi hát hay đi dạo phố. Rồi những lão ngư ông trông giống như những bóng mờ trong đêm tối làm bạn với chai rượu đế để đánh dấu một ngày đã qua, cuộc đời của họ giống như con đường cô đơn dưới ngọn đèn vàng hiu hắt. Văn Bình đứng trên căn gác nhìn đường như muốn thở than trước cảnh hoang vu tịch mịch.
Tiếng ồn ào máy chạy, tiếng người gọi nhau khiến chàng tỉnh giấc, tiếng dao băm trên thớt vang động khiến anh tưởng như một ngày làm cỗ lớn. Đó là sinh hoạt về đêm của hãng đồ hộp, từng gánh cá được quẩy vào, hôm nay cá về lúc khuya, hàng trăm người đàn bà, con gái sống bằng nghề chặt đầu cá để kịp đưa vô phòng lạnh. Chỉ cần năm nhát dao: chặt đầu, moi bụng, đánh vẩy hai mặt, chặt đuôi thế là xong. Tại đây có cả một em bé mới tám tuổi, Văn Bình tự nhiên chạnh lòng xót thương cho em bé hãy còn quá nhỏ phải lao đầu vào cuộc mưu sinh đêm hôm khuya khoắt trong khi hàng triệu em bé khác đang say sưa giấc ngủ bên nệm ấm, chăn êm, bên vòng tay trìu mến của mẹ hiền
Hai mươi năm sống ở Sài Gòn chàng đã chứng kiến những trẻ em bươi đống rác tìm kiếm ve chai, dép nhựa… tác giả lại thấy lòng mình xe lại bởi lý do đơn giản, trong khi mọi người ao ước sự giầu sang hạnh phúc mà không làm gì để thay đổi thực trạng ấy. Bất công xã hội thì ai cũng ghét nhưng mọi người đều thích những bất công có lợi cho mình.
Cuộc sống ở bến chài Bình Hưng bừng lên nhưng nó âm thầm với những người đang mơ màng giấc điệp, nó cũng ẩn chứa sự cay đắng, hy vọng, hồn nhiên, yêu đời. Biển khơi giờ đây chan hòa trong ánh trăng, những giải mây trắng nhẹ nhàng lững lờ bay đã che khuất mảnh trăng lưỡi liềm. Biển và đêm không chết nhưng nó cũng không ngủ mà như vỗ về giải cát đang nằm uốn lượn và ru ngủ cái thành phố nhỏ đang im lìm trong giấc điệp bằng bản tình ca buồn ra riết:
“Gió ơi, em lạnh cho lòng ta ngây ngất,
Biển ơi! hãy hát lên đi…”
Văn Bình trở về căn gác nhỏ hưởng làn gió mát qua song cửa rồi mơ màng tới bóng dáng của Sài Gòn với bạn bè thân yêu với nỗi nhớ nhung bất tận.
Tác giả kết luận
“Tôi nhìn lên trời, ngắm nhìn mảnh trăng vô định. Bây giờ trái tim tôi bỏ ngỏ….Tiếng băm trên thớt vẫn vang đều một nhịp… nhưng căn gác nhỏ bé của tôi trông sao hoang vắng…. bóng dáng của Sài Gòn, của các bạn bè thân yêu chạy qua trong đáy mắt với chút nhớ nhung … đã ru tôi vào giấc ngủ chập chờn”
Một ký sự nhẹ nhàng, giản dị nhưng cũng diễn tả phong phú cuộc sống lam lũ của một xóm chài nghèo.
Đây là một tuyển tập truyện ngắn hoàn toàn hư cấu nhưng mang tính tư tưởng và triết lý. Nói “hư cấu” nhưng đều dựa vào những sự kiện có thật trong cuộc sống vì không một đạo học, tư tưởng, triết lý hay thơ, truyện nào mà không liên quan đến cuộc sống. Tuyển tập bao gồm những chủ đề như: Tự ái của con người, diễn dịch ý chỉ của thần linh theo ý muốn của giáo sĩ, ảo tưởng về sự thành thật, nỗi buồn của Thần Chết, ảo tưởng của con người về một thế giới toàn là tu sĩ, thân phận của đàn ông khoảng nửa thế kỷ sau, cuộc sống ở Thiên Đàng ra sao. Và sau hết là một số chuyện ma để mua vui cho đời.
Tuyển tập này mất ít ra mười lăm năm mới hoàn tất. Nguyên do là vì tác giả quá tham lam, dành nhiều thì giờ cho các đề tài bình luận chính trị và đôi khi bí đề tài. Bí đề tài không có nghĩa là không có đề tài. Chuyện đời thì đầy rẫy, nhưng không tìm ra tư tưởng hay triết lý cho đề tài đó. Rất mong tuyển tập này không phụ lòng mong đợi của độc giả.
Book Summary From Author
This book is a collection of short stories, all of which are imaginary, contemplative and philosophical. Though imaginary, all the stories are based partly on real-life stories. Actually, all religions, all thought systems, and all philosophies must be related to life; so do poetry and fictional writings. This book covers several topics such as human pride, the divine will as explained by priests, the illusion of truthfulness, the sorrows of God of death, the human illusion about a world for priests only, the sadness of male humans in their second-half lives, the way of life in heaven... And lastly, some ghost stories for fun.
It took the author fifteen years to finish this book. The reason is that I was repeatedly busy for writing political essays, and sometimes I had writer's block, in which I intended to write a short story but I found its topic did not have any thoughtful or philosophical meaning. I wish this collection of short stories would satisfy so many readers.
Saturday, March 14, 2020
TRÀ GỪNG: CÁCH PHÒNG VIRUS VŨ HÁN SỚM
Xin chia sẻ một bài viết hữu ích của Dr. ThùyTrang Nguyễn dưới đây.
Dr. ThùyTrang là một chuyên gia virus người Mỹ gốc Việt. BS viết về những gì bạn cần phải làm sớm trong giai đoạn đầu để giữ an toàn trước đại dịch coronavirus.
Thầy Lê Khắc Anh Vũ
=====
(Nguyên bản bài viết tiếng Việt được gửi đi từ đầu tháng 2/2020.)
TRÀ GỪNG:
CÁCH PHÒNG VIRUS VŨ HÁN SỚM
"Vì trà gừng vốn đã tốt sẵn cho sức khỏe rồi, mùa dịch này, các bạn cứ thử đi, không mất gì hết!"
-----------------------
Trong tuần qua, mình thử nghiệm hơn 100 mẫu virus từ TQ gửi sang. Giờ mới hiểu thêm về đặc tính con virus Vũ Hán.
Virus Vũ Hán nhân bản rất chậm so với virus flu - chậm hơn rất nhiều vì Error CorrEction ở Rna-seq data. Điều này giống như một đứa bé sinh ra đã bị "tàn tật" - mình gọi con Vũ Hán là virus tàn tật là vì nó bị "error-correcting processes" trong phần RNA - Hãy tưởng tượng như một người mẹ khó sinh con vì bệnh tật tử cung.
Con Vũ Hán có tật nguyền và tật nguyền này có phải do con người làm ra bị lỗi lập trình, hay do tự nhiên vẫn chưa biết.
Vì bị "tàn tật" error-correcting processes, do đó Vũ Hán nhân bản rất chậm - nếu so với flu virus thì nó nhân bản chỉ có 1/1,000 so với Type B Influenza.
Vì đặc tính nhân bản chậm chạp này nên con Vũ Hán khó có thể mutation - Và với đặc tính chậm chạp này nên Vũ Hán ủ trứng chậm chạp, vì vậy người bị lây nhiễm sẽ không bị nóng sốt cho tới khi phát bệnh từ 15-24 ngày.
Nếu đặt giả dụ TQ chế ra con này và cố tình làm sai chuổi gene RNA của con Virus để nó KHÔNG thể sinh sản nhanh, nhằm lây lan rộng hơn trước khi người bị nhiễm phát bệnh, thì đây là suy nghĩ khá thông minh không phải vừa.
Vì đặc tính hay lập trình bị lỗi nên Vũ Hán sẽ lây rộng trong cộng đồng mà người bị nhiễm khó biết mình đang bị lây nhiễm.
Như mình đã nói trước đây là con Vũ Hán giống hệt con corona OC43 được khám phá từ dơi vào năm 1960. Phiên bản con OC43 được lập trình lại thành con Vũ Hán nhưng bị lỗi phần RNA nên nó nhân bản rất chậm chạp.
Nếu một người khỏe mạnh có kháng thể tốt thì kháng thể T-Cell của mình dễ dàng làm thịt con Vũ Hán trước khi nó đủ thì giờ nhân bản.
Vấn đề khó ở chỗ là kháng thể con người chúng ta chưa đủ nhạy bén để biết con Vũ Hán đã xâm nhập vào cơ thể mình vì kháng thể con người chưa quen nhận dạng con virus này.
Mình tìm ra đúng cách giúp kháng thể mình sớm nhận mặt con Vũ Hán, là chúng ta nên uống trà gừng tươi pha đường mỗi ngày trong lúc này - vì gừng kích thích hệ hô hấp tiết ra protein interferon-beta. Và vì interferon-beta xuất hiện làm cho con Vũ Hán bực bội gây phản ứng - khi Vũ Hán phản ứng interferon- beta thì lúc đó Kháng Thể T-Cell biết rõ địch đang nằm ở đâu để tìm giết ngay nó.
["Doses of 300 micrograms per mililiter of fresh ginger stimulated the respiratory cells to secrete an anti-viral protein called interferon-beta."
" Cứ 300 microgram hợp chất trên mỗi ml nước gừng tươi sẽ kích thích các tế bào hô hấp tiết ra một loại protein chống virut gọi là interferon-beta".]
Mình đã thử nghiệm rồi và mong quý anh chị hãy nghe theo là trong thời kỳ phức tạp lây nhiễm hãy uống nước gừng tươi mỗi ngày 1 ly (không gây hại mà còn tốt cho hệ hô hấp).
Như nói rõ là con Vũ hán bị "tàn tật" error-correcting processes", do đó Vũ Hán nhân bản rất chậm và khi nó vào người mình thì Kháng Thể vẫn chưa nhận ra nó nên cơ thể chúng ta rất cần interferon-beta để chọc giận cho nó lộ mặt giúp kháng thể T-cell biết mà giết nó.
Nhờ thử nghiệm mà biết được đặc tính này, thông báo cho người VN biết trước - các khoa học gia khác có thể tìm ra vấn đề này muộn hơn mình là chắc chắn..
Dr. ThùyTrang Nguyễn
Monday, March 9, 2020
Khánh Hà - Dạ Khúc Cho Tình Nhân - Lê Uyên Phương
Ngày em thắp sao trời
Chờ trăng gió lên khơi
Mà mưa bão tơi bời
Một ngày mưa bão không rời
Trên đôi vai thanh xuân
Ướp hôn nồng bên gối đắm say
Ánh sao trời theo gió rụng rơi... đầy
Cùng rót bao nhiêu ngày hoang
Cùng đếm bao nhiêu mộng tàn
Ru người yêu dấu trong vùng trời đêm
Vừa hoa nở tươi môi
Tình nhân đã xa xôi
Ðời ngăn cách nhau hoài
Một lần thôi đã không thôi
Yêu nhau trong lo âu
Biết bao lần tha thiết nhớ mong
Lá hoa rừng mau xóa đường quay về
Làm ánh sao đêm lẻ loi
Màu tối gương bên đèn soi
Ân tình sâu vẫn trong đời thủy chung
ĐK:
Ðời mãi mãi mãi cách xa
Dòng nước mắt nóng tiễn đưa
Xin cho lần cuối
Tình ấy đắm đuối thiết tha
Vì qua bao nhiêu điêu linh
Xót xa
đắng cay
trong đời...
Màn đêm mở huyệt sâu
Mộng đầu xin dài lâu
Một vì sao lạ rơi,
nghe hồn tê tái
trên dòng hương khói bay
***
Ái ân ơi đừng phụ lòng ta
Nhớ thương sâu xin gởi người xa
Khóc nhau trong cuộc đời
Giấc mơ xưa khăn phủ vành sô
Có yêu nhau ngọt ngào tìm nhau
Chết bên nhau thật là hồn nhiên!
Monday, January 6, 2020
"Tỵ Nạn tại CANADA qua cửa ngỏ USA"
Mới nhận được từ Canada , bài viết chi tiết về vụ "Ty nạn tại Canada qua cửa ngỏ Hoa Kỳ."
Đường
Roxham là một con đường nhỏ, một ngõ cụt. Nó chấm dứt khi chỉ còn vài
tấc nữa là đến đường biên giới Mỹ-Canada. Nó thậm chí còn không có cả
một làn phân tuyến. Mặc dù là một con đường ở một vùng nông thôn ít
người
về hướng Bắc của tiểu bang New York, Roxham lại trở thành trung tâm của
một hiện tượng di dân bất thường: Người ta đến Mỹ qua đường du lịch để
rồi từ đó đào thoát sang Canada.
Có
khoảng 50.000 người đã sử dụng đường Roxham để đến Canada trong vòng 3
năm vừa qua. Mặc dù chỉ là một trong số hàng chục con đường chạy thẳng
về biên giới ở quận-hạt Clinton, nhưng đường Roxham lại là nơi có đến
hơn
90% lượng người di dân bất hợp pháp chọn làm nơi khởi điểm để băng vào
Canada kể từ năm 2016, so với toàn bộ những điểm khác trên toàn tuyến
biên giới dài 4.000 dặm, từ Washington cho đến Maine.
Trong
một cuộc viếng thăm, tờ báo Washington Examiner đã được giới hữu trách
biên giới của Hoa Kỳ cho biết rằng những người vượt biên giới KHÔNG PHẢI
LÀ NGƯỜI MỸ. Người ta đến đây, thường là cả gia đình, từ nhiều nơi trên
toàn thế giới. Họ đến Mỹ bằng máy bay với chiếu khán du lịch, sau khi
đáp xuống một phi trường quốc tế nào đó trong khu vực (New York và vùng
xung quanh có nhiều phi trường quốc tế), họ sẽ đón xe bus hoặc taxi để
đến đường Roxham, rồi đi bộ băng qua biên giới,
vì biết trước rất rõ là họ sẽ được chấp thuận quy chế tị nạn tại Canada
nếu đi vào quốc gia này một cách bất hợp pháp và khai rằng mình là
người tị nạn.
(* Với vị trí địa lý đặc biệt của Canada, di dân gần như là không thể nào đột nhập bất hợp pháp theo mọi hướng, ngoại trừ từ Mỹ)
Các
di dân đang nuôi hy vọng nhận được quy chế tị nạn từ Canada, sử dụng
con đường Roxham, đang dựa vào một Thỏa Ước Di Dân của Canada có từ năm
2004. Thỏa Ước này quy định, nếu một người tị nạn không đến Canada bằng
các
cửa ngõ chính thức (phi trường, hải cảng) mà lại đến bằng cửa hậu (biên
giới với Hoa Kỳ), thì họ sẽ được nhận vào ngay lập tức.
Thỏa
Ước Quốc Gia An Toàn Thứ Ba (Safe Third Country), được vận động ký kết
giữa Mỹ và Canada vào năm 2004 quy định rằng người tị nạn phải điền đơn
xin quy chế ngay tại quốc gia đầu tiên mà họ đặt chân đến. Bởi vì tỉ lệ
chấp thuận tị nạn tại Mỹ đã tụt giảm quá nhiều, cho nên những người
vượt biên giới ở đường Roxham đã không nộp đơn xin tị nạn Canada từ Mỹ,
mà thay vào đó, họ sẽ vượt sang Canada bằng cửa hậu, dựa vào các quy
định trong Thỏa Ước của Canada (nếu không vào bằng
cửa chính thức thì sẽ được nhận ngay). Thủ tục đối với "người tị nạn"
vượt biên giới bất hợp pháp vào Canada chỉ là bắt giữ họ rồi thả ngay,
cho phép ở lại Canada để chờ hồ sơ được giải quyết.
Mực
độ giao thông tại đường Roxham tăng vụt kế từ năm 2016, theo thông số
của Cảnh Sát Kỵ Binh Hoàng Gia Canada, cơ quan ngang tầm với Tuần Biên
Hoa Kỳ.
Theo
Norm Lague, nhân viên đảm trách tuần biên của Trạm Tuần Biên Champlain
thuộc tiểu bang New York thì "vùng biên giới hướng về phía Bắc luôn có
các hoạt động xuyên biên giới nhưng hiện giờ thì mọi thứ đều gia tăng và
tập trung vào chỉ con đường này"
Lúc
đầu, Tuần Biên thường cho nhân viên của mình thẩm vấn các khách bộ hành
trên con đường này, phòng hờ chuyện họ là người nhập cư vào Hoa Kỳ trái
phép, nhưng rồi các nhân viên Tuần Biên nhận ra rằng những khách bộ
hành
trên con đường này đều là những du khách đến Mỹ bằng đường hàng không,
một cách hợp pháp, mới ngay trong ngày.
Lague
cho biết: "Hầu hết những người mà chúng tôi thẩm vấn đều có chiếu khán
du lịch và họ đến Mỹ bằng máy bay". Các di dân này khai rằng họ biết
được đường Roxham là nơi có thể băng ngang biên giới, nhờ đọc trên
Facebook
hoặc các nơi khác trên internet.
Họ
thuê xe chở đến đường Roxham, xuống xe và đi bộ đến cuối con đường,
băng xuống một con mương cạn chừng 3 thước rồi leo trở lên bờ mương, vậy
là đã qua tới đất Canada. Thường là họ "vượt biên" với một cái vali
loại lớn.
Du lịch mà.
Các
vụ vượt biên trái phép nở rộ trong năm 2017 với hơn 18.000 người vào
Canada bất hợp pháp chỉ riêng ở khu vực đường Roxham. Trung bình mỗi
ngày có khoảng 150 người. Thỉnh thoảng lên tới 400 người mỗi ngày. Lague
nói
rằng ông phải đối phó bằng cách tái tập trung lại nhân viên của mình và
bắt đầu xuôi Nam, để kiểm tra giấy tờ những kẻ đang Bắc tiến.
Mức
gia tăng đột biến những người vượt biên giới bắt đầu không lâu sau sau
khi Sắc lệnh Hành pháp số 13769 của Tổng Thống Trump ban hành. Sắc lệnh
này ngăn chặn sự dịch chuyển ra vào nước Mỹ của những người bị tình nghi
là có sự ủng hộ hoặc dính líu đến các phần tử khủng bố gốc Hồi giáo từ 7
quốc gia: Iran, Iraq, Libya, Somalia, Sudan, Syria và Yemen. Sắc lệnh
này từng được gán ghép là một sắc lệnh "Cấm người Hồi giáo" và cũng từng
là nguyên nhân dẫn đến chuyện ông Thủ Tướng
Canada, Justin Trudeau, viết trên Twitter một thông điệp chào đón người
Hồi giáo đến với đất nước của ông.
Có
lẽ ông Thủ Tướng đẹp trai của Canada đã quá tự tin vào vị trí địa lý
độc địa của nước mình, có lẽ ông đã cho rằng không ai có thể đến được
Canada một cách dễ dàng (và cũng có lẽ là) ông đã không chịu đọc kỹ các
điều
khoản trong Thỏa Ước Quốc gia An toàn Thứ Ba mà chính nước của ông đã
ký kết, nên ông không nhìn thấy được cái lỗ hổng trong Luật của xứ mình:
"Một người tị nạn không đến Canada bằng các cửa ngõ chính thức (phi
trường, hải cảng) mà lại đến bằng cửa hậu (biên
giới với Hoa Kỳ), thì họ sẽ được nhận vào ngay lập tức". Để rồi giờ
đây, sau khi đã phải bỏ tiền để nuôi 50.000 vị khách không mời mà đến,
ông đã âm thầm cử một chuyên viên chọc cười gốc Việt, đăng đàn vu khống
ông Trump đã hành xử như một bạo chúa, đến độ
50.000 người Mỹ đã phải gồng gánh vượt biên sang tị nạn ở xứ ông chăng?
Lần
tới, ông nên tìm một người có đủ trình độ và kiến thức tối thiểu của
một học sinh tiểu học, để có thể phân biệt sự khác nhau giữa "Người Mỹ"
và những người di dân bất hợp pháp đến Hoa Kỳ bằng chiếu khán du lịch.
Những
vị khách không mời mà tới đó, vốn là những người đã hồ hởi đón nhận
thông điệp "Chào mừng bạn đến với Canada" do chính ông đăng tải trên
Twitter, thưa ông Thủ Tướng và ông thợ chọt cà lét Nguyễn Ngọc Ngạn.
Cảnh
sát Kỵ binh Hoàng Gia Canada đã phải dựng lên những dãy lều màu trắng
để cung cấp chỗ ở tạm cho hàng trăm người mỗi ngày. Số lượng lều không
đủ so với số lượng người đang cần được gom giữ, nuôi ăn và chờ được
phỏng
vấn trước khi họ được chuyển sang cho một cơ quan di trú khác nằm sâu
bên trong nội địa
Đến
mùa xuân năm 2018, với số lượng vượt biên giới vẫn cao ngang với năm
2017, Canada đã phải dựng lên một văn phòng vệ tinh ngay giữa rừng để có
thể tạm dung số di dân. Cảnh sát liên bang cũng phải tích trữ từ thực
phẩm
trẻ em cho đến tả lót và thậm chí là ghế ngồi trong xe hơi cho trẻ để
có cái mà xài khi di chuyển những di dân này ra khỏi khu rừng.
Số
lượng người vượt biên giới vẫn tiếp tục gia tăng. Taxi chở người tới
đường Roxham cả ngày lẫn đêm. Vào giữa cuối hè và đầu thu, đã có khoảng
13.700 người vượt biên giới chỉ riêng tại địa điểm này. Cơ quan chuyên
trách
về biên giới của Canada (Canadian Border Services Agency) cho biết là
họ không biết phải giải quyết tình trạng bằng cách nào.
"Chúng
tôi sẽ không dự đoán về tương lai. Số người xin quy chế tị nạn tại
Canada dao động theo thời gian và tùy vào nhiều yếu tố. Chúng tôi sẽ
tiếp tục theo dõi tình hình và sự biến đổi ở các quốc gia khác rồi mới
có thể
thông báo về kế hoạch của chúng tôi". Phát ngôn nhân của Cơ Quan Dịch
Vụ Biên Giới Canada, bà Judith Gadbois-St-Cyr cho biết qua điện thư.
* Hình của Washington Examiner:
Di dân bất hợp pháp đến đường Roxham bằng taxi và "gồng gánh" vượt biên giới vào Canada
Sunday, November 17, 2019
Campaign to recall majority of Westminster’s city council advances with submission of signatures
Westminster Mayor Tri Ta.
(Christina House / Los Angeles Times)
By Anh DoStaff Writer
Nov. 14, 2019
10:46 AM
Opponents of the trio believe that “they are corrupt, they work for themselves and not those they represent, and that their unethical actions are crippling the city,” said David Johnson, an organizer of Westminster United, the group initiating the recall effort.
He said group members submitted nearly 10,900 signatures targeting Ta to Westminster’s city clerk on Monday, along with 10,800 signatures against Ho and 10,700 against Nguyen — all of which must be verified by the Orange County Registrar of Voters.
Westminster United was required to collect a minimum of 8,736 signatures, making up 20% of the city’s registered voters.
“We’re ecstatic,” Johnson said. “With recalls, there’s a lot of big talk, but in the U.S. or in California, to get even 50% to show up on election day is a huge challenge. But we well exceeded our signature goal, and we turned it in very early.”
Ho, Nguyen and Ta have accused organizers of fraud and, through attorney Lan Quoc Nguyen and a group called the Committee Against Recall, issued a statement denouncing the effort.
“Instead of building for a truly united Westminster, recall proponents have caused deep political division and disharmony in the city, forcing the potential expenditure of hundreds of thousands of dollars of taxpayers’ money to deal with this recall, funds that could be used for seniors’ social programs or youth activities,” the statement read.
The statement went on to say that the trio of council members has asked the Orange County district attorney’s office for a “thorough investigation into this entire matter,” including what recall opponents referred to as “the high number of complaints from Westminster residents of alleged deception and fraud in the signature gathering process.”
Anh Đổ LA Times
Thursday, November 14, 2019
Thursday, November 7, 2019
Búa rìu dư luận. Giao Chỉ, San Jose.
-1)Tôi viết bài tạp
ghi này vì cuộc chiến Quốc Cộng vẫn còn tiếp diễn. Chiến trường ngay tại hải
ngoại.
-2)Tôi
viết tạp ghi này vì trong nước, Việt Nam theo gương Triều Tiên và Trung Cộng
thành lập đơn vị 47 với 10 ngàn nhân viên mở cuộc chiến tranh trên Mạng để chống
lại các chỉ dấu đấu tranh trong nước và khuynh đảo hải ngoại.
-3)
Tôi viết bài tạp ghi
này vì trong cuộc chiến trên Mạng từ nhiều năm qua, đơn vị 47 cộng sản
với hàng
ngàn dư luận viên đã đóng góp ý kiến trên các đề tài tranh luận tại hải
ngoại.
Hoan hô hưởng ứng các cuộc đánh phá nội bộ chúng ta. Nhiệt liệt chửi bới
phá rối
các chương trình xây dựng. Chỉ dấu cụ thể là những bài trên Mạng đánh
phá Việt
Tân, VNCH, Voice, Cảm ơn Anh, SBTN, Kiện Fomosa thường có hàng trăm dư
luận
viên hết lòng hưởng ứng, khen ngợi với cả lời lẽ dứt khoát nhân danh
đoàn viên
cộng sản. Những bài xây dựng của người Việt hải ngoại trên youtube
thường bị
hàng ngàn lời bình phẩm chửi bới. Các dư luận viên của đơn vị 47 đã làm
cho công
chúng bình thường sợ hãi và sau cùng một bức tường vô cảm đã được kẻ thù
xây
lên giữa cộng động Việt Nam hải ngoại.
-4)Tôi viết bài này
để trình bày kinh nghiệm cụ thể như sau. Những năm gần đây chúng tôi lên chương
trình Chuyện đời thường của Cali Today. Trải qua gần 40 lần nói chuyện có 3 đề
tài đáng lưu ý. Năm 2015 bình luận về phim Terror in Little Saigon tôi phê bình
phim này đầu voi đuôi chuột. Có 32 ngàn khán giả vào coi Youtube nhưng mới chỉ
có 55 lời bình luận. Đa số ý kiến thông thường. 91 người khen và 31 người chê.
Hai năm sau 2017 dường như đơn vị 47 lưu ý đến hải ngoại. Tôi trình bày ý kiến
về phim Vietnam War đã có 263 ngàn khán giả với 1829 bình luận. Đa số dứt khoát
thuộc phe cộng sản toàn chửi bới. Không hề đề cập đến nội dung, Cứ theo giáo điều
cộng sản tấn công diễn giả. Con số khen là 662 và số chê là 386. Qua đến năm
2019 với đề tài về Việt Nam Cộng Hòa đã đạt được 845,580 khán giả và lên đến
con số 3330 bình luận mạt sát. 2780 lời khen và 1,100 tiếng chê. Những lời chửi
bới đông đảo và mãnh liệt đến nỗi phe ta đọc qua rồi hoảng sợ không giám đưa ý
kiến. Chỉ cho điểm tốt. Tuy nhiên thực tình mà nói những lời chửi bới của phe cộng
sản rất nghèo nàn hoàn toàn thiếu sáng tạo. Lời phê phán trở thành mẫu mực là
chửi anh lính già của Ngụy lúc thì đu càng máy bay Mỹ bỏ chạy. Lúc thì tụt quần
bỏ chạy . Tuyệt đối không hề có lý luận nào để chúng ta suy ngẫm. Duy có điều
đáng ghi nhận là những tin tức và quan điểm của chúng tôi giãi bầy trong năm
qua đã có hàng triệu khán thính giả nghe được bên kia đại dương.
Xin kết luận rằng, trong cuộc chiến
tranh chính trị trên Mạng. Khi một đề tài đưa ra tham luận viên cộng sản góp ý
kiến khen chê ra sao, độc giả dễ dàng biết ai là thù, ai là bạn.
Thưa các bằng hữu. Đó là lý do tôi mạnh miệng viết rằng:
Đánh phá Việt Tân, VNCH, Cảm ơn Anh, Asia, SBTN, hay Voice và mới đây là vụ kiện
Formosa đều là Việt Cộng. Hàng ngàn dư luận viên đội mũ sao vàng lên tiếng ủng
hộ các bài đánh phá phe ta công khai và họ chơi biển người. Chúng ta không cần
chụp mũ thiên hạ. Hà Nội bây giờ không đánh du kích nữa.Họ đánh công khai. Đó
là nhận định cá nhân phân trần với công luận. Bây giờ xin trở lại nói chuyện với
anh chị em chúng tôi.
Thân gửi các chiến hữu. Dù anh chị em 20 tuổi hay trên 80 tuổi
như chúng tôi, nếu ra sinh hoạt phất phơ cho phải phép hay nhiệt thành tìm đường
gai góc mà đi, các bạn đều là chiến hữu của tôi. Chiến trường ngay tại Hoa Kỳ,
giữa cộng đồng Việt. Trải quả kinh nghiệm sống trên 40 năm trong công tác xã hội
di dân, con đường làm việc xã hội chắc chắn không đưa đến sự giàu có vinh quang
phú quý. Nếu lang thang làm việc xã hội tại Đông Nam Á thì còn sống là may. Nếu
các bạn làm việc cho cơ quan bất vụ lợi địa phương, tiền lương rất giới hạn và
tiền hưu không hơn tiền già là bao nhiêu. Trường hợp cụ thể là chính chúng tôi
làm cho IRCC và nhà tôi là y tá quốc gia hơn 20 năm làm trưởng phòng tiếp liệu
cho ngân hàng máu Hồng Thập Tự Hoa Kỳ Bay Area. Khi về hưu cũng chỉ vừa đủ sống
trong mobile home. Dù sao chúng tôi cũng không phải là những người đủ can đảm về
nước tìm đường phục quốc. Cũng không đủ gan dạ đi khắp năm châu bốn bể đấu
tranh cho nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam. Cũng không đủ khả năng và tuổi trẻ
để tham dự vào công việc giúp đồng hương bất hạnh trong các trại ty nạn trong
20 năm lịch sử thuyền nhân từ 1975 đến 1995. Tôi cũng không hề biết đến chuyện
“Thùng Nhân” khốn khổ như chuyện 39 người chết bên Anh ngay trong thế kỷ thứ
21. Những câu chuyện về Việt Nam City tại Pháp nơi bến đợi tạm dung của những
người Việt ra đi tìm cuộc sống mới. Họ đi từ 3 miền quê hương đất nước qua Đông
Âu, Tây Âu bằng đủ mọi phương tiện, trải qua đau thương đói khát hãm hiếp, đánh
đập bởi mọi sắc dân để rồi đến khu Việt Nam giữa rừng già Pháp quốc. Tại đây được
nuôi ăn rất hạn chế để nửa đêm bọn buôn người dẫn đến khu xe tải tìm cách bẻ
khóa chui vào đi theo tuyến đường từ Pháp qua Anh Quốc. Cũng như những tay bác
sĩ giang hồ ngày xưa trên các con tàu cứu người vượt biển. Rồi đến những tuổi
trẻ Voice hay những người tình nguyện giúp Formosa, giữa chiến trường đấu tranh
chính trị tại hải ngoại. Giữa cảnh vàng thau hay vàng đỏ lẫn lộn, búa rìu dư luận
là chiến thương bội tinh cho các chiến hữu của tôi. Đã mang
lấy nghiệp vào thân, thì đừng có trách trời gần đất xa.
Chúng ta
đang sống trong lòng cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại. Cuộc đấu tranh không phải
chỉ thấy được ở trong nước với những ngón đòn cô lập và tù đầy. Cuộc đấu tranh
đã thể hiện trên thế giới Mạng trong và ngoài nước. Kẻ thù biết rõ con đường
làm chia rẽ cộng đồng và chúng đã thành công. Dùng búa rìu dư luận làm vũ khí,
khai thác triệt để các tin tức tạo nghi ngờ . Với sự tiếp tay vô tình hay
cố ý của chính phe ta cộng sản đã xây dựng hoàn tất bức tường vô cảm trong cộng
đồng hải ngoại. Các bạn già bốn phương
đã khuyên chúng tôi. Nghỉ đi ông ơi. Dính đến chuyện thiên hạ làm gì. Chúng chửi
cho thêm phiền. Tôi đáp lại rằng. Muộn rồi ông ơi. Tôi luôn luôn công khai bày
tỏ tấm lòng với thế hệ tương lai dấn thân làm lịch sử. Mỗi lần dư luận chửi bới
là lại ghép tên tôi. Nói cho cùng danh sách thế hệ trẻ làm được việc và xây dựng
cho lý tưởng tương lai cũng chẳng có bao nhiêu. Anh chị em rất cô đơn đứng ở đầu
ngọn gió và đang là biểu tượng hy vọng và trông đợi của các phong trào đấu tranh
trong nước. Các bạn cao niên còn sống đến ngày nay, mình biết với nhau rồi. Tội
nặng nhất là tội làm mất nước. Bọn phe ta chửi bậy chẳng qua cũng là đàn em,
toàn luận tội bậy bạ không nói đến tội anh em ta làm cho nước mất nhà tan. Thôi
cho bọn chúng tự do. Chửi nữa đi em. Chúng
tôi sẽ không có hơi sức đâu mà phân trần phải trái với lý lẽ lâu dài. Chỉ cầu
mong cho các chiến hữu của thế hệ tương lai chân cứng đá mềm, chí ta ta biết,
lòng ta ta hay. Dù cây ngay không chết đứng, nhưng bức tường vô cảm đã được kẻ
thù dựng xong giữa lòng cộng đồng hải ngoại. Phía bên này bức tường cuộc chiến
chia rẽ hỗn loạn. Phía bên kia anh em chùm chăn ngủ kỹ. Xem như tình hình hiện nay, kiện Formosa bên
Đài Loan hay kiện Hà Nội ra tòa án quốc tế cũng chỉ là những
tiếng vang khẩn thiết của hải ngoại. Làm sao bảo đảm thành công. Đưa người vượt
biên từ Thái qua bên kia bờ đại dương. Biết đến bao giờ cho hết. Nhạc hội Cảm
ơn anh, biết lúc nào là kỳ cuối cùng. Nhưng anh em đã đi mãi trên con đường gai
góc lựa chọn cho cuộc đời. Hãy dấn bước đi tới. Đừng dừng chân và đừng quay lại.
Búa rìu dư luận khốn nạn sẽ không làm quẩn chân anh chị em. Hãy đi cho trọn đường
trần. Kiếp sau sẽ chẳng làm người. Làm cây thông đứng giữa trời mà reo. Biết
đâu bác cháu mình lại gặp nhau ở rừng thông tự do dưới mây trời Đà Lạt.--
Giao
Chi San Jose. giaochi12@gmail.com
(408) 316 8393
Wednesday, November 6, 2019
Suy Tư Về Quá Khứ - Nguyễn Văn Trần
Năm 1952, ông Nguyễn Tôn Hoàn đã liên kết với một số đoàn thể như Cao
Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên và một cố nhân vật chính trị quốc gia như các
ông Nguyễn Xuân Chử, Lê Toàn, Ngô Đình Nhu thành lập Phong Trào Đoàn Kết
Hòa Bình.
Phong Trào này một mặt đòi Pháp phải trả độc lập cho Việt Nam, một mặt đòi Quốc Trưởng Bảo Đại phải dân chủ hóa chế độ để đi đến một chánh phủ đoàn kết quốc gia chống lại cộng sản.
Với hiệp định Geneva 1954 cắt đôi đất nước, ông Ngô Đình Diệm được đưa về nước làm Thủ Tướng, ông Ngô Đình Nhu thấy cơ hội tốt đến với gia đình ông nên đã không giữ lời cam kết với các đoàn thể và nhân vật khác trong PTĐKHB là phải dân chủ hóa chế độ và thực hiện sự đoàn kết giữa người quốc gia.
Đại Việt QDĐ đã đứng lên chống lại xu hướng độc tài của gia đình họ Ngô. Ông Nguyễn Tôn Hoàn đã xuất ngoại để mở cuộc vận động ngoại giao. Trong khi đó, xứ bộ Trung Việt tổ chức chiến khu Ba Lòng, còn xứ bộ Nam Việt thì hợp tác với anh em Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức một chiến khu ở Châu Đốc. Nhưng các chiến khu này đều đã bị tan vỡ trước sự tấn công của Quân Đội Quốc Gia. Ông Hà Thúc Ký xứ trưởng Trung Việt bị bắt cầm tù, một số anh em trong xứ bộ Nam Việt phải trốn sang Căm-bu-chia và Lào. Riêng anh Hùng Nguyên ( Ng. Ngọc Huy ) được gởi sang Pháp để phụ giúp anh Nguyễn Tôn Hoàn trong cuộc hoạt động bên ngoài nước. Các anh em còn lại trong nước đều lặn vào bí mật để hoạt động. Các anh em quân nhân thuộc xứ bộ Nam Việt đã tham dự cuộc đảo chánh bất thành năm 1960 và đã đóng một vai tuồng tích cực trong cuộc đảo chánh lật đỏ chánh quyền Ngô Đình Diệm vào tháng 11 năm 1963.
* * * "Theo Linh mục Trần văn Kiệm ở Nữu-Ước, sống bên cạnh ông Ngô Đình Diệm suốt thời gian ông Diệm ở Mỹ, cho tới năm 1953, người Mỹ mới bắt đầu biết ông Diệm nhờ sự giới thiệu của Hồng Y Spellman. Khi ông Diệm về nước, ở Miền Nam chẳng có mấy người biết ông Diệm vì ông Diệm chỉ làm quan trong Triều đình ở Huế, chưa bao giờ đứng bên cạnh quần chúng và cùng quần chúng tranh đấu chống thực dân Pháp. Mà ông Diệm làm sao chống thực dân khi Giám mục Ngô Đình Thục kể công với Pháp là phụ thân đã suốt đời phục vụ Pháp, dẹp phiến loạn Phan Đình Phùng:
“ …với tư cách của một Giám mục, của một người An-nam, và với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ-an và Hà-tĩnh …” (Thư của Giám mục Ngô Đình Thục gởi Toàn Quyền Decoux, 21 – 08 – 1944) ."
"Ngày nay, tất cả đều đã già, rất tiếc chưa thấy có vị nào nói lên tiếng nói của lương tâm! Vẫn còn tiếng nói suy tôn! Thật tội nghiệp."
Ông Ngô Đình Diệm: Chí Sĩ Và Tổng Thống
Nguyễn Văn Trần /DCV
Năm nay, 2011, Cộng đồng Người Việt nam Hải ngoại có nhiều nơi tổ chức lễ tưởng niệm Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu. Các năm trước, ở Âu châu , chỉ có Paris tổ chức lễ tưởng niệm vì nhờ có Cựu Bộ trưởng Trương Công Cừu (người có thành tích từ giã TT Diệm, đi thụt lùi làm bể chậu kiểng – nhiều người biết chuyện kể lại ), và tiếp theo, Cựu Bộ trưởng Huỳnh Hữu Nghĩa, (người duy nhứt thân cận Cố vần Ngô Đình Nhu nhờ tài tiêm thuốc phiện cho ông Cố vấn – chính ông khoe một cách hãnh diện với nhiều người quen biết, nhứt là ông NVT, người giúp chở ông đi khám bịnh). Những người này đã lần lượt ra đi nên ở Paris, từ mấy năm nay, không còn người thân cận với gia đình Ngô Đình đứng ra tổ chức lễ. Tuy nhiên, ở giáo xứ Paris, tới ngày 1-11, vẫn có lễ cầu hồn cho người quá cố.
Đặc biệt năm nay, Giáo sư Hồ Nam Trân, quê Quảng Bình (dạy Hóa học tại Đại Học Thụy sĩ) dựng tượng Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm trong vườn nhà ở Thụy sĩ, cạnh Hòn non bộ, và tổ chức lễ tưởng niệm với lối ba bốn mươi người từ nhiều nơi tới tham dự vào buổi trưa. Ông Diệm và tượng trong vườn nhà ông Hồ Nam Trân ở Thụy Sĩ
Hằng năm, trước và sau tháng 11, nhiều phát biểu về Cựu Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu dưới những cái nhìn khác nhau, có khi mâu thuẫn nhau gay gắt tuy sự việc đã xảy ra từ nửa thế kỷ qua.
Hôm nay, nhơn dịp cuối năm, rảnh rang để nhắc lại chuyện xưa, chúng tôi nhắc lại vài chuyện về Cựu Tổng thống Ngô Đình Diệm với ý chí làm Tổng thống, chín năm cai trị Miền nam, không với lòng riêng tư thương ghét. Và cũng không nhằm phản bác những ý kiến suy tôn vì trong những người suy tôn, có khá nhiều những bạn vong niên mà chúng tôi hằng kính trọng.
Ai bao năm từng lê gót …
Việc trao quyền cai trị Việt nam từ Cựu Hoàng Bảo Đại qua ông Ngô Đình Diệm là điều dễ dàng vì áp lực chánh trị của Huê kỳ ở Sài Gòn lúc bấy giờ khá mạnh . Cưụ Hoàng Bảo Đại đã thấy quyền lực quốc gia ngày càng rời khỏi tay ông theo đà Pháp bị mất ảnh hưởng. Nhiều lần, Cựu Hoàng muốn về Sài Gòn nhưng mỗi lần như thế, ông đều bị ngăn cản, có khi ông bị ngăn cản ngay tại phi trường Orly của Paris.
Tình hình việt nam đã biến chuyển sâu xa theo chìêu hướng mới. Sau khi Điện Biên Phủ thất thủ tháng 6/54, TT Eisenhower lên tiếng cảnh giác hiểm họa cộng sản nhuộm đỏ Á châu bằng thuyết ”Domino”. Vatican thấy ngăn chặn Hà Nội với sự ủng hộ hùng mạnh của khối cộng sản quốc tế không có ai bằng Huê kỳ. Ở ngay tại chỗ, Hồng Y Francis Spellman vận động cho ông Kennedy, người công giáo, đắc cử Tổng thống Mỹ và ủng hộ ông Ngô Đình Diệm về cầm quyền ở Việt Nam để giữ Việt Nam không rơi vào tay cộng sản. Hồng Y Spellman chọn ông Ngô Đình Diệm vì ông Diệm là người công giáo, mê say quyền lực và chống cộng quyết liệt để trả thù nhà. Vatican lo sợ mất Việt Nam vào tay cộng sản là mất đi bao nhiêu công lao truyền giáo từ thời Alexandre de Rhode. Hồng y Mỹ Spellman, người đở đầu và vận động cho ông Diệm tại Mỹ
Ông Ngô Đình Diệm được Hồng Y Spellman chọn cầm quyền ở Việt Nam còn vì một lý do tình cảm sâu xa. Năm 1948, nhân dịp ghé qua Sài gòn trên đường về Mỹ, Hồng Y Spellman được Giám mục người Pháp Cassaigne cùng với Giám mục Ngô Đình Thục đón tiếp niềm nở. Năm 1951, đang ở New York, Lm Trần Văn Kiệm, được điện tín từ Âu châu ra đón Tổng giám mục Ngô Đình Thục và em là Ngô ĐìnhDiệm taị phi trường Idlewild (phi trường Kennedy bây giờ).. Sau đó Hồng Y Spellman gởi ông Diệm ngụ taị nhà dòng các linh mục Maryknoll, New Jersey. Tuy đuợc Hồng Y Spellman bảo trợ, ông Diệm chỉ được Lm Trần văn Kiệm thăm viếng, đài thọ mọi chi phí cá nhơn, từ việc di chuyển, kể cả thuê khách sạn cho ông tiếp khách vì biết ông rất thanh bạch.
Cho đến tháng 6/1953, ông từ giã Hoa Kỳ qua Pháp gặp Cựu Hoàng Bảo Đại nhận lãnh chức vụ Thủ tướng và về Việt Nam lập Chánh phủ thay thế Chánh phủ Bữu Lộc. Ngoài ra, ông Diệm còn là con nuôi của Hồng Y Spellmancùng với hai Linh mục Trần văn Kiệm và Nguyễn Đức Quý.
Lúc bấy giờ, nhiều người Mỹ cho rằng nếu không có Hồng Y Spellman nhiệt tình ủng hộ ông Ngô Đình Diệm thì đã không có chánh phủ Miền nam Việt Nam (John Cooney, The American Pope; The Life and Times of Francis Cardinal Spellman,Times Book, New York 1984).
Về phía Pháp, Tướng Paul Ély, có tiếng là thân Mỹ, sau khi ông Diệm về Sài Gòn, hợp tác với Tướng Lawton Collins của Mỹ yểm trợ ông Diệm tại chức và cả về vật chất. Sự yểm trợ quân sự của Pháp chấm dứt tháng 6/1955. Vậy mà dư luận ở Việt Nam lúc bấy giờ không ngớt công kích “thực dân cấu kết với cộng sản ” chống lại Chánh phủ Quốc gia Việt Nam. Sự công kích này kéo dài dẫn tới cắt đứt bang giao giữa Sài gòn và Paris (Bernard Fall, Les Deux Vietnam, Payot, Paris, 1967, tg.295).
Riêng Cựu Hoàng Bảo Đại chẳng những đề cử ông Diệm làm Thủ tướng với toàn quyền, tức cả về quân sự, điều mà xưa nay Cựu Hoàng chưa từng làm, ông còn chấp thuận yêu cầu của ông Diệm được quyền sử dụng ba Tiểu đoàn ưu tú của Ngự Lâm Quân để thanh toán lực lượng võ trang của “Giáo phái”. Báo chí cũng không ngớt công kích Cựu Hoàng dung túng Giáo phái để có tiền bạc tiêu xài hoang phí và dựa vào đó giữ chiếc ghế Quốc trưởng. Ông chấp thuận lời yêu cầu của ông Diệm bị các công sự viên của ông phản đối, ông giải thích bằng mấy dòng ngắn tự tay viết gởi cho một vị phụ tá: “Tôi không muốn sau này người ta nói Bảo Đại đã chọn quyền lợi riêng tư trước quyền lợi đất nước” (Bernard Fall, sđd, tg 294) .
Tổng thống bằng suy tôn
Các lực lượng võ trang của Giáo phái Miền Nam chống Tây và cộng sản từ 1945, giữ được Miền Đông và Miền Tây yên ổn, nay bị ông Diệm thanh toán bằng giải pháp quân sự thay vì hòa giải như đã thỏa thuận (Cụ Trần văn Ân kể). Ông Ngô Đình Diệm bắt đầu chuẩn bị thế cầm quyền tương lai, tổ chức như một phong trào quần chúng chống Cựu Hoàng Bảo Đại. Ngày 30 – 04 – 1955, một “Ủy Ban Cách mạng” được thành lập tập họp đông đảo Đại biểu của 18 đảng phái và nhiều phe nhóm nhỏ họp Đại hội. Trong số Đại biểu, nổi bật hai TướngCao Đài, Nguyễn Thành Phương và Trình Minh Thế, đưọc chuộc với giá khá đắt, hai cựu cán bộ cộng sản của Mặt trận Việt minh, hai nguời thuộc phe Đệ tam và Đệ tứ và hai người Bắc Quốc gia cực đoan (Le Monde, 4/5/1955, Bernard Fall trich dẫn, sđd, tg 295 – trong 2 ngươi Bắc quốc gia cực đoan, có lẽ 1 người là ông Nguyễn Bảo Toàn, chú thích riêng của NVT). Nhiệm vụ của Ủy Ban rất rõ ràng chỉ nhằm thuyết phục Đại hội truất phế Cựu Hoàng Bảo Đại, đưa ông Ngô Đình Diệm lên thay thế và đuổi Tây rút hết về xứ.
Năm 1945, Hồ Chí Minh yêu cầu Bảo Đại thoái vị với nghi lễ để chấm dứt thật sự chế độ Nhà Nguyễn. Nay ông Ngô Đình Diệm cũng muốn Cựu Hoàng bị truất phế với đầy đủ tính chánh thống, nên ở Huế ông Ngô Đình Cẩn, em của ông Diệm, triệu tập cánh Hoàng thân tuyên bố bất tín nhiệm Cựu hoàng trong vai trò Quốc trưởng ngày 15/06/1955 và đồng thời tuyên bố ông Ngô Đình Diệm mới là người “Thề tranh đấu cho tự do”. Giờ chót có nhắc lại lời hứa giử ngôi Hoàng tử Bảo Long để duy trì nguyên tắc quân chủ nhưng bị bác bỏ mặc dầu đó là lời hứa của Ông Diệm với Bảo Đại trước Thánh giá (G.. NguyễnCao Đức, JJRS 65,Impératrice Nam Phương, Internet).
Con đường dẫn Việt Nam tới một Chánh thể Cộng Hòa như vậy đã được vạch rõ.
Ngày 7/7/1955 kỷ niệm một năm ông Ngô Đình Diệm chấp chánh, Chánh phủ loan báo sẽ tổ chức cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23/10 để toàn dân quyết định số phận Việt nam theo chế độ Quân chủ hay chế độ Cộng hòa.
Trong lúc động viên dân chúng Miền nam tham gia bỏ phiếu trưng cầu dân ý, Cựu Hoàng chẳng những không được có tiếng nói với cử tri mà còn bị bộ máy thông tin tuyên truyền của Chánh phủ cực lực “đấu tố”. Ông Donald Lancaster, Cố vấn Chánh trị của Tòa Đại sứ Anh ở Sài Gòn, phải lên tiếng phê phán “Cuộc vận động trưng cầu dân ý diển ra quá coi thường những nguyên tắc lương thiện và dân chủ đến nỗi Việt Minh còn phải lấy làm khó chịu khi theo dõi ” (Donald Lancaster, Giải phóng Đông Dương Pháp, Oxford University Press, 1961, tg 398). Việt Minh thấy bị “khó chịu” phải chăng vì ông Diệm đã áp dụng rập khuôn phương pháp tuyên truyền áp đảo đối phương của họ để đạt được kết quả như họ?
Kết quả trưng cầu dân ý dĩ nhiên đã biết trước :ông Ngô Đình Diệm nhận được gần như trọn vẹn số phiếu của cử tri, 98,2%, Cựu Hoàng chỉ có 1,1% số phiếu. Miền Nam Việt Nam trở thành Việt Nam Cộng Hòa.
Năm 1946, Chánh phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa của ông Hồ Chí Minh tổ chức bầu cử Quốc Hội đầu tiên và ông Hồ chí Minh thắng cử Dân biểu với 98% số phiếu. Cố vần Mỹ, trước khi bỏ phiếu, nghĩ ông Diệm có được 60% số phiếu bầu đã quá đủ để chánh thức xác định tư cách cai trị Miền Nam nhưng ông Diệm không đồng ý, mà muốn phải được 98%. Trong các cuộc bầu cử, kết quả trên 90% thường chỉ có ở chế độ độc tài mà thôi.
Một Chánh phủ được 60 % dân chúng tín nhiệm là Chánh phủ bình thường, Dân chủ vì được bầu hợp pháp, lương thiện. Còn Chánh phủ được bầu với 90% cử tri phải là Chánh phủ “Cách mạng”! Huy động bộ máy chính quyền để bôi nhọ đối thủ, và bằng gian lận trong thủ tục bầu cử, ông Diệm đã truất phế Bảo Đại và suy tôn mình lên làm Tổng Thống Đệ nhứt Cọng hoà với … 98,2% số phiếu !!!
Nhưng trong quan hệ quốc tế, Chánh phủ có đắc cử với 100% số phiếu cũng không phải là một trở ngại và bị LHQ tẩy chay vì ngay trong tổ chức quốc tế này, có không ít chánh phủ thành viên đắc cử nhờ gian lận không thua Chánh phủ Ngô Đình Diệm. Chỉ có điều, khi nhận lãnh trách nhiệm, ông Ngô ĐìnhDiệm luôn luôn hô hào là người giữ “tiết trực tâm hư” và lấy quốc hiệu là cây trúc! Cái khó là mình phản bội chính con tim của mình. Thế mà con người ta vẫn làm được!
Hoàn thành nhiệm vụ công cụ, “Ủy Ban Cách mạng” được giải tán ngày 15/01/56. Một số lớn thành viên lần lượt bị “vắng mặt”. Một số ít thoát ra được ngoại quốc và tố cáo những bí ẩn của biến cố trong năm 55-56 (Le Monde, 17/01/56 ).
Chánh phủ tổ chức Quốc Hội Lập hiến với 123 vị Dân biểu của 5 “đảng phái” và vài người độc lập. Dĩ nhiên không thể có Dân biểu thật sự đối lập. Ở những đơn vị di cư, các linh mục hướng dẫn cử tri đi bầu và giới thiệu ứng cử viên với cử tri. Sau 75, ở Việt Nam, Việt cộng bắt chước cách hướng dẫn bầu cử này áp dụng thành chánh sách “đảng cử, dân bầu” rất thành công. Bà Ngô Đình Nhu đắc cử trong trường hợp này.
Nhắc lại để nhớ một số ứng cử viên Đại Việt, đắc cử, nhưng sau đó bị loại với lý do “gian lận bầu cử”. Năm 1959, Bác sĩ Phan Quang Đán đắc cử tại Sài Gòn với 35 000 phiều hơn ứng cử viên của Chánh phủ, bị an ninh võ trang kè theo sát ngăn cản không cho ông tới Quốc Hội tham dự lễ khai mạc. Sau đó, ông bị loại và bị truy tố về tội “gian lận bầu cử”.
Giáo sư Nguyễn văn Tương, nguyên Tổng Thư ký Quốc Hội, có nhận xét về Quốc Hội thời Đệ I Cộng Hòa: “Ra phiên họp khoáng đại, Dân biểu ta chia làm hai khối: khối đa số và khối thiểu số, như tiêu biểu cho chế độ lưỡng đảng của Anh quốc. Nhưng đó chỉ là trò ảo thuật của cấp lãnh đạo, vì ở cấp cao còn có vai trò của Đảng Cần lao Nhân vị hoạt động trong vòng bí mật. Người ngoại cuộc nói Quốc Hội lúc ấy là một cửa sổ giả, nghĩa là khi xây nhà, thì cũng phải có cửa cái, cửa sổ cho đủ bộ dễ coi, mặc dầu có những cái không cần thiết. Thay vì chú tâm trang bị cho nước nhà những bộ luật mới thống nhứt và tiến bộ, Quốc Hội chuyên ra các Quyết nghị ủng hộ Ngô Tổng thống …” ( Nguyễn Văn Tương,Nước Non Xa, Huê kỳ, 2000,tg 113) .
Nếu so sánh cách bầu Quốc Hội các khóa 1946, 1960 và 1965 của Miền Bắc với cách bầu Quốc Hội của Chánh phủ Ngô Đình Diệm ở Miền Nam các năm 1956, 1959 và 1963, chúng ta sẽ thấy hiện rõ đặc tính đồng dạng và thuần nhứt.
Về truờng hợp ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống thì cũng không gì khác hơn ý nghĩa của đảng cộng sản dựng lên để cầm quyền “đảng cộng sản nắm quyền vì có vai trò lịch sử lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tây, chống Mỹ”, còn ông Ngô Đình Diệm có “công kết thúc chế độ quân chủ lâu đời, khai sanh ra nền Cộng Hòa”.. Nên sau Hiến Ước Tạm thời 26-10-1955 truất phế Cựu Hoàng Bảo Đại, lẽ ra Chánh phủ đã phải tổ chức tổng tuyển cử chọn vị lãnh đạo nền Cộng Hòa mới, Hiến Pháp 26/10/1956 lại ngang nhiên suy tôn ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống.
Ngày 15/10/1961, TT Ngô Đình Diệm bằng Sắc luật 209TP, tuyên bố tình trạng khẩn trương trên toàn lãnh thổ, điều này đã không tránh khỏi dẫn Việt Nam Cộng Hòa trở thành một thứ chế độ “độc tài hiến định”.
“Bao công lao hồn sông núi ghi muôn đời”
Tới tháng 12 năm 1960, Chánh phủ Sài Gòn giữ được 216,4 triêu mỹ kim. Người Mỹ cho rằng viện trợ Mỹ quá thặng dư và về phía Chánh phủ Sài Gòn không sử dụng đúng mức viện trợ Mỹ vì các Kế hoặch phát triển, từ Kế hoặch ngũ niên đầu tiên, không có kế hoặch nào hoàn tất. Khối lượng trữ kim lớn như vậy là điều bất thường cho một nước còn kém mở mang, chỉ thuận lợi cho tham nhũng và âm mưu chánh trị đen tối. Tờ Observer ở Luân-đôn có một bài chỉ trích Huê kỳ tại sao để cho Chánh phủ Sài Gòn dành một trữ kim lớn như vậy bằng viện trợ phát triển mà không chịu dùng tiền đó xây trường học, bịnh viện đáp ứng cho nhu cầu học hỏi và sức khỏe khẩn trương của dân chúng? Đại sứ Ngô Đình Luyện, em út của TT Diệm, trả lời ngay trên cùng tờ báo ấy “Chánh phủ của tôi dành ngoại tệ thay vì dùng để mở thêm trường học và bịnh viện. Phải chăng chánh sách của bất kỳ Chánh phủ nào cũng đều lo bảo vệ nền độc lập tiền tệ bằng chính những phương tiện của mình?” (Observer, 8 và 22 – 62, Bernard Fall, trích dẫn, sđd,tg 351) .
Theo Giáo sư Nguyễn Hữu Châu, Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng rồi Phủ Tổng thống cho tới năm 1958 (cũng là chồng cũ của bà Lệ Chi, chị ruột bà Nhu), trong những buổi nói chuyện nhắc lại chuyện xưa tại nhà riêng ở đường Faisanderie, Paris XVI, cho biết Chánh phủ Ngô Đình Diệm giữ tiền riêng là do ý của ông Ngô Đình Nhu để làm quĩ đen nuôi và phát triển lực lượng an ninh nhằm củng cố chế độ. Vì nhiều lần phản đối việc này mà ông Châu đã phải bỏ trốn qua Miên, rồi qua Paris tỵ nạn chánh trị.
Về mặt kinh tế xã hội, tuy không sử dụng đúng mức viện trợ Mỹ cho các Kế hoặch Phát triển, Chánh phủ Ngô Đình Diệm cũng đạt được nhiều thành quả khả quan hơn so với Hà Nội về mặt xây dựng vật chất hạ tầng. Theo những số liệu do Phái bộ Viện trợ Mỹ ở Sài Gòn công bố, vào những năm đầu khi ông Ngô Đình Diệm mới về, tình hình ở Miền Nam hoàn toàn an ninh vì Miền Bắc chưa đứng dậy được sau những nỗ lực chiến tranh kéo dài và nhứt là đất nước tang hoang do hậu quả cải cách ruộng đất, cán bộ gài lại bám trụ trong Nam tìm lại được đời sống an bình, chưa nghĩ tới cầm súng lại. Trong số bám trụ, có nhiều người đi đánh Tây chỉ vì lòng yêu nước thuần túy. Nay đất nước thanh bình, họ an phận hưởng hạnh phúc gia đình. Đó là những năm từ 57 tới 60. Trong thời gian này, Chánh phủ xây đưọc 47 000 m2 Rạp Chiếu bóng và vũ trường, 6500 m2 Bịnh viện, 3500 m2 Nhà máy xay lúa, 56 000 m2 Nhà thờ và Chùa, 86 000 m2 Trường học, nhưng cũng được thêm 425 000 m2 Biệt thự và nhà ở đắt tiền (USOM, số 4, tg 105, do B.Fall trích dẫn, sđd, tg 361)
Những cái chết dưới thời TT. Ngô Đình Diệm
Theo Linh mục Trần văn Kiệm ở Nữu-Ước, sống bên cạnh ông Ngô Đình Diệm suốt thời gian ông Diệm ở Mỹ, cho tới năm 1953, người Mỹ mới bắt đầu biết ông Diệm nhờ sự giới thiệu của Hồng Y Spellman. Khi ông Diệm về nước, ở Miền Nam chẳng có mấy người biết ông Diệm vì ông Diệm chỉ làm quan trong Triều đình ở Huế, chưa bao giờ đứng bên cạnh quần chúng và cùng quần chúng tranh đấu chống thực dân Pháp. Mà ông Diệm làm sao chống thực dân khi Giám mục Ngô Đình Thục kể công với Pháp là phụ thân đã suốt đời phục vụ Pháp, dẹp phiến loạn Phan Đình Phùng:
“ …với tư cách của một Giám mục, của một người An-nam, và với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ-an và Hà-tĩnh …” (Thư của Giám mục Ngô Đình Thục gởi Toàn Quyền Decoux, 21 – 08 – 1944) . Thư của Giám mục Ngô Đình Thục gửi Toàn quyền Decoux có đoạn: "...là một giám mục, là một người An Nam, và là một thành viên của một gia đình có cha phục vụ cho Pháp ngay từ khi Pháp đến xứ An Nam, và nhiều lần xả thân liều mạng cho nước Pháp, như trung úy Nguyễn Thân, để chống lại các phiến quân Phan Đình Phùng ở Nghệ An và Hà Tĩnh") (… comme évêque, comme annamite, et comme membre d’une famille dont le père a servi la France dès sa première venue en Annam et a exposé maintes fois sa vie pour elle dans les expéditions memées, comme lieutenant de Nguyễn Thân, contre les rebelles commandés par Phan Đình Phùng à Nghệ An et Hà Tịnh. )
Nhưng những người tranh đấu, đảng phái trong Nam, đã nhiệt tình đón tiếp ông Diệm và hợp tác với ông tổ chức Chánh quyền mới. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, những người từng hợp tác, giúp đỡ ông đều lần lượt bị biến mất, đi ra nước ngoài, vào tù hoặc bị ám sát, … như các ông Nguyễn Bảo Toàn, Nhị Lang, Hồ Hán Sơn, Trần Văn Ân, Nguyễn Long, NguyễnPhan Châu, Vũ Tam Anh… và 18 vị của nhóm Caravelle, …chỉ vì phê phán hoặc đề nghị cải thiện đường lối cai trị một cách hoàn toàn ôn hòa .
Đặc biệt ông Nguyễn Bảo Toàn là một nhà ái quốc đã từng bôn ba tranh đấu thời thực dân Pháp, tuy ông không phải là người địa phương (ông là người Bắc), cũng không phải tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo nhưng đã được Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ tín nhiệm làm Tổng Bí Thơ đầu tiên của Dân Xã Đảng.
Khi Bảo Đại từ Cannes gởi liên tiếp hai công điện ngày 28-4 và 30-4-1955 để triệu hồi Ngô Đình Diệm, ông Diệm không tuân hành nhờ sự ủng hộ của Hội nghị các Chánh đảng và Nhân sĩ miền Nam ngày 30-4-1955 do Nguyễn Bảo Toàn chủ tọa, đưa đến Quyết định truất phế Cựu Hoàng Bảo Đại, giải tán Chánh phủ do Cựu Hoàng bổ nhiệm, ủy nhiệm ông Ngô Đình Diệm thành lập Chánh phủ Cách mạng, tổ chức bầu cử Quốc Hội, …Chế độ Cộng Hòa ra đời,ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống, phần lớn là do Hội nghị này ủng hộ ông Diệm và do Nguyễn Bảo Toàn chủ tọa. Nhưng sau đó chẳng bao lâu, Mật vụ của ông Ngô Đình Nhu bắt cóc ông Nguyễn Bảo Toàn, bỏ vào bao bố cột với trụ xi-măng, liệng xuống sông Nhà Bè thủ tiêu.
Cùng bị thủ tiêu bằng cách này, có ông Nguyễn Phan Châu, tức Tạ Chí Diệp, người từng ủng hộ ông Diệm trong những ngày đầu tiên về nước lập Chánh phủ. Còn ông Vũ Tam Anh, người lúc bấy giờ chỉ có những hoạt động với một nhóm bạn tại tư gia ở đường Cao Thắng, gần Chùa Tam Tông Miếu, trao đổi quan điểm, phê phán đường lối Chánh phủ, hoàn toàn không có hành động bạo động,cũng bị Mật vụ bắt cóc và thủ tiêu mất tích. Hai ông Tạ Chí Diệp và Nguyễn Bảo Toàn (Photo CourtesyVirtualArchivist.wordp ress.com)
Cũng tại khúc sông Nhà Bè này, vào khoảng tháng 10 năm 1962, các thủ hạ thân tín của ông Ngô Đình Nhu như Đại tá Đào Quang Hiển (bị mù, còn sống tại vùng Hoa-thạnh-đốn?), cũng đã lập lại việc thủ tiêu tàn ác tương tự. Bốn tín đồ chức sắc cao cấp Phật Giáo Hòa Hảo được phái lên Sài Gòn để tham dự một phiên họp. Phái đoàn cùng đi chung trong một xe Ford Vedette số NBI-010 của Đức Ông Huỳnh Công Bộ và đã bị mất tích. Bà dân biểu Hòa Hảo Long Xuyên lúc bấy giờ là Nguyễn Kim Anh đã đến gặp Ngô Đình Nhu để nhờ điều tra tông tích các cán bộ Hòa Hảo mất tích, không đến Sài Gòn họp. Ông Ngô Đình Nhu đã ỡm ờ hứa sẽ chỉ thị cho điều tra sự việc. Bà Kim Anh sau đó đã đến gặp cấp Chỉ huy Tổng Nha Cảnh Sát ở đường Nguyễn Trãi. Nơi đây cũng cho biết là việc điều tra chưa đưa đến kết quả nào. Khi ra về, đứng chờ xe trước cửa Tổng Nha, tình cờ bà chợt nhận dạng ra chiếc xe Vedette của phái đoàn Hòa Hảo đã dùng, đang chở nhân viên cảnh sát ra cổng, có lẽ là để đi ăn trưa! Việc phát giác này về sau đã đưa đến phiên xử trước tòa án Đại hình Sài Gòn các tay sát nhân, sau khi chế độ Đệ I Công Hòa sụp đổ. Các thủ phạm này thú nhận đã thi hành chỉ thị của ông Ngô Đình Nhu. Khưu Văn Hai và các bị can đã khai là Đào Quang Hiển đã ra lịnh cho họ thủ tiêu các cán bộ Hòa Hảo. Họ đã siết cổ, cột xác vào trụ xi măng và quăng giữa sông Nhà Bè. Đại tá Tổng Giám đốc Cảnh sát Nguyễn Văn Y đã vào tù trong vụ án này (Bs Trần Nguơn Phiêu thuật theo nhơn chứng, Bà Nguyễn Kim Anh trong Lê QuangVinh, Loạn Tướng hay Anh Hùng, trên Net)..
Mục tiêu kế tiếp là Tướng Lê QuangVinh, tự Ba Cụt của Lực lượng võ trang Phật Giáo Hòa Hảo. Ông Diệm phải triêu hồi ông Nguyễn Ngọc Thơ đang làm Đại sứ ở Nhựt về nhờ ông Huỳnh Kim Hoành là cậu của Tướng Ba Cụt chiêu dụ Tướng Ba Cụt ra về với Chánh phủ Quốc gia. Nhưng khi ra về, Tướng ba Cụt bị bắt và đưa ra Tòa Đại hình ở Cần Thơ xét xử về tội tống tiền và giết người mà chính ông không hề nhúng tay vào.. Thủ phạm không có, nhưng Tướng Ba Cụt vẫn bị kết án tối đa ở phiên Tòa ngày 11-06-1956 tại Cần thơ.
Tướng Ba Cụt chống án. Ngày 16-06-1956, Chánh phủ cho triêu tập phiên Tòa Đại Hình để xử Tướng Ba Cụt. Tổng thống Ngô Đình Diệm ký Dụ số 33 ngày 14-06-1956 để Tòa được tổ chức ngoài Sài Gòn.. Bản văn chưa kịp đăng lên Công Báo, ông Tổng trưởng Tư Pháp đã sửa đổi thành phần Tòa án nên bị Ls Vương Quang Nhường tuyên bố phiên Tòa bất hợp pháp. Nhưng phiên Tòa vẫn tiến hành và xử y án tử hình cho Tướng Ba Cụt.
Bảy ngày sau, ngày 03-07-1956, Tòa án Quân sự Đặc biệt họp xử tiếp Ba Cụt với tư cách Trung tá trừ bị. Bản án tử hình của Tòa án Quân sự sẽ được thi hành ngay. Ba phiên Tòa liên tiếp nhóm trong vòng chỉ có 23 ngày, dồn dập, gấp rút tuyên hai án tử hình cho một tội nhân, bất chấp những lời phản kháng của các luật sư, đã nói lên chủ tâm của chánh quyền Ngô Đình Diệm muốn giết Ba Cụt càng nhanh càng tốt. Giết thiếu lương thiện. Vụ xử án Tướng Hòa Hảo Lê Quang Vinh vừa “thiếu lương thiện” vừa “trái với đạo lý Việt Nam”
Tổng thống là người sau cùng có thẩm quyền khoan hồng tha chết cho người bị kết án tử hình. Nhưng đơn xin của Tướng Ba Cụt bị Tổng thống Ngô Đình Diệm bác bằng sắc lịnh số 98 –Tp ngày 08-07-1956. Tướng Ba Cụt là Trung tá trừ bị nên xin được xử bắn nhưng cũng bị ông Tổng thống Diệm từ chối. Sau khi bị chặt đầu, thi thể của Tướng ba Cụt không được trao trả cho thân nhơn chôn cất, mà hình như còn bị chặt ra làm nhiều khúc và đem vứt đi ở nhiều nơi để dân Miền Tây gốc Phật Giáo Hòa Hảo không thể làm lễ tưởng niệm Tướng Ba Cụt.. Một việc làm trái với Đạo lý Việt Nam.
Chí sĩ
Lúc làm Tổng thống, ông Diệm có nói một câu rất thời danh để phát tâm cương quyết chết sống trong sứ mạng “Thề tranh đấu cho tự do” là “Tôi tiến, tiến theo tôi. Tôi lui, giết tôi. Ai giết tôi, hãy trả thù cho tôi”.
Sau khi ông Diêm bị giết trong cuộc đảo chánh ngày 01-11-1963, không thấy những người thân cận với chế độ, có ai có phản ứng để bênh vực chủ và chánh nghĩa của chế độ. Chúng tôi không có ý muốn họ trả thù cho chủ như lời của ông Diệm trong câu nói kia. Trái lại, lần lượt, họ về theo với những người đã đảo chánh làm thiệt mạng chủ của họ.
Ngày nay, những người này đều sanh sống ở các nước Âu Mỹ, tức các nước Dân chủ Tự do. Hơn nữa, trước kia, họ cũng đã từng du học ở các nước này hay theo học chương trình khai phóng nhân bản tại Việt Nam. Tôi tự hỏi nếu tại quốc gia nơi họ đang sanh sống, chánh phủ lên nắm chánh quyền và cai trị như ông Ngô Đình Diệm đã làm ở Việt Nam không biết họ sẽ phản ứng như thế nào? Họ phản đối hay thỏa thuận như đã làm trước kia? Điều thấy rõ là họ đang chống cộng sản Hà Nội quyết liệt vì cộng sản độc tài, cai trị bằng công an chớ không bằng luật pháp, Quốc Hội bù nhìn đảng cử, dân bầu, bắt bỏ tù, tra tấn dã man những người biểu tình ôn hòa vì lòng yêu nước chân chánh, …
Họ nhận thấy vai trò của ông Ngô Đình Nhu có ổn không? Cố vấn của Tổng thống mà hành xử đủ các quyền sanh sát. Ông Ngô Đình Cẩn, Cố vấn Miền Trung, có riêng lực lượng an ninh võ trang với rộng quyền hành pháp và tư pháp. Còn Bà Ngô Đình Nhu, chỉ là Dân biểu, có quyền tham dự Hội đồng Quốc gia và có tiếng nói đầy trọng lượng. Ba hiện tượng này, liệu họ có thể chấp nhận xảy ra ở nước nơi họ đang cư ngụ được không?
Ngày nay, tất cả đều đã già, rất tiếc chưa thấy có vị nào nói lên tiếng nói của lương tâm! Vẫn còn tiếng nói suy tôn! Thật tội nghiệp.
Tưởng niệm là Đạo nghĩa truyền thống Việt Nam. Những người được ơn sủng của Chế độ Tổng thống Diệm có bổn phận tri ơn. Không tưởng niệm, không tri ơn mới là người xấu. Nhưng nếu chọn cách tri ơn, tưởng niệm như trong phạm vi riêng tư, tới ngày 01-11, cùng nhau hát “Ngô Tổng thống muôn năm, Ngô Tổng thống muôn năm” thì chắc chắn quí vị đó sẽ được nhiều người tỏ lòng kính trọng.
Cái chết bi thảm của hai ông Tổng thống và Cố vấn – dù sao vẫn còn có phước hơn Tướng Ba Cụt, ông Nguyễn Bảo Toàn, ông Nguyễn Phan Châu, và nhiều nạn nhơn khác nữa, vì còn xác chết để chôn cất, có mồ mả – do thủ hạ gây ra có đáng lấy làm bài học về lòng Bác ái Thiên Chúa giáo và thuyết nhơn quả của Phật giáo không?
Nguyễn văn Trần
Phong Trào này một mặt đòi Pháp phải trả độc lập cho Việt Nam, một mặt đòi Quốc Trưởng Bảo Đại phải dân chủ hóa chế độ để đi đến một chánh phủ đoàn kết quốc gia chống lại cộng sản.
Với hiệp định Geneva 1954 cắt đôi đất nước, ông Ngô Đình Diệm được đưa về nước làm Thủ Tướng, ông Ngô Đình Nhu thấy cơ hội tốt đến với gia đình ông nên đã không giữ lời cam kết với các đoàn thể và nhân vật khác trong PTĐKHB là phải dân chủ hóa chế độ và thực hiện sự đoàn kết giữa người quốc gia.
Đại Việt QDĐ đã đứng lên chống lại xu hướng độc tài của gia đình họ Ngô. Ông Nguyễn Tôn Hoàn đã xuất ngoại để mở cuộc vận động ngoại giao. Trong khi đó, xứ bộ Trung Việt tổ chức chiến khu Ba Lòng, còn xứ bộ Nam Việt thì hợp tác với anh em Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức một chiến khu ở Châu Đốc. Nhưng các chiến khu này đều đã bị tan vỡ trước sự tấn công của Quân Đội Quốc Gia. Ông Hà Thúc Ký xứ trưởng Trung Việt bị bắt cầm tù, một số anh em trong xứ bộ Nam Việt phải trốn sang Căm-bu-chia và Lào. Riêng anh Hùng Nguyên ( Ng. Ngọc Huy ) được gởi sang Pháp để phụ giúp anh Nguyễn Tôn Hoàn trong cuộc hoạt động bên ngoài nước. Các anh em còn lại trong nước đều lặn vào bí mật để hoạt động. Các anh em quân nhân thuộc xứ bộ Nam Việt đã tham dự cuộc đảo chánh bất thành năm 1960 và đã đóng một vai tuồng tích cực trong cuộc đảo chánh lật đỏ chánh quyền Ngô Đình Diệm vào tháng 11 năm 1963.
* * * "Theo Linh mục Trần văn Kiệm ở Nữu-Ước, sống bên cạnh ông Ngô Đình Diệm suốt thời gian ông Diệm ở Mỹ, cho tới năm 1953, người Mỹ mới bắt đầu biết ông Diệm nhờ sự giới thiệu của Hồng Y Spellman. Khi ông Diệm về nước, ở Miền Nam chẳng có mấy người biết ông Diệm vì ông Diệm chỉ làm quan trong Triều đình ở Huế, chưa bao giờ đứng bên cạnh quần chúng và cùng quần chúng tranh đấu chống thực dân Pháp. Mà ông Diệm làm sao chống thực dân khi Giám mục Ngô Đình Thục kể công với Pháp là phụ thân đã suốt đời phục vụ Pháp, dẹp phiến loạn Phan Đình Phùng:
“ …với tư cách của một Giám mục, của một người An-nam, và với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ-an và Hà-tĩnh …” (Thư của Giám mục Ngô Đình Thục gởi Toàn Quyền Decoux, 21 – 08 – 1944) ."
"Ngày nay, tất cả đều đã già, rất tiếc chưa thấy có vị nào nói lên tiếng nói của lương tâm! Vẫn còn tiếng nói suy tôn! Thật tội nghiệp."
Ông Ngô Đình Diệm: Chí Sĩ Và Tổng Thống
Nguyễn Văn Trần /DCV
Năm nay, 2011, Cộng đồng Người Việt nam Hải ngoại có nhiều nơi tổ chức lễ tưởng niệm Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu. Các năm trước, ở Âu châu , chỉ có Paris tổ chức lễ tưởng niệm vì nhờ có Cựu Bộ trưởng Trương Công Cừu (người có thành tích từ giã TT Diệm, đi thụt lùi làm bể chậu kiểng – nhiều người biết chuyện kể lại ), và tiếp theo, Cựu Bộ trưởng Huỳnh Hữu Nghĩa, (người duy nhứt thân cận Cố vần Ngô Đình Nhu nhờ tài tiêm thuốc phiện cho ông Cố vấn – chính ông khoe một cách hãnh diện với nhiều người quen biết, nhứt là ông NVT, người giúp chở ông đi khám bịnh). Những người này đã lần lượt ra đi nên ở Paris, từ mấy năm nay, không còn người thân cận với gia đình Ngô Đình đứng ra tổ chức lễ. Tuy nhiên, ở giáo xứ Paris, tới ngày 1-11, vẫn có lễ cầu hồn cho người quá cố.
Đặc biệt năm nay, Giáo sư Hồ Nam Trân, quê Quảng Bình (dạy Hóa học tại Đại Học Thụy sĩ) dựng tượng Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm trong vườn nhà ở Thụy sĩ, cạnh Hòn non bộ, và tổ chức lễ tưởng niệm với lối ba bốn mươi người từ nhiều nơi tới tham dự vào buổi trưa. Ông Diệm và tượng trong vườn nhà ông Hồ Nam Trân ở Thụy Sĩ
Hằng năm, trước và sau tháng 11, nhiều phát biểu về Cựu Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu dưới những cái nhìn khác nhau, có khi mâu thuẫn nhau gay gắt tuy sự việc đã xảy ra từ nửa thế kỷ qua.
Hôm nay, nhơn dịp cuối năm, rảnh rang để nhắc lại chuyện xưa, chúng tôi nhắc lại vài chuyện về Cựu Tổng thống Ngô Đình Diệm với ý chí làm Tổng thống, chín năm cai trị Miền nam, không với lòng riêng tư thương ghét. Và cũng không nhằm phản bác những ý kiến suy tôn vì trong những người suy tôn, có khá nhiều những bạn vong niên mà chúng tôi hằng kính trọng.
Ai bao năm từng lê gót …
Việc trao quyền cai trị Việt nam từ Cựu Hoàng Bảo Đại qua ông Ngô Đình Diệm là điều dễ dàng vì áp lực chánh trị của Huê kỳ ở Sài Gòn lúc bấy giờ khá mạnh . Cưụ Hoàng Bảo Đại đã thấy quyền lực quốc gia ngày càng rời khỏi tay ông theo đà Pháp bị mất ảnh hưởng. Nhiều lần, Cựu Hoàng muốn về Sài Gòn nhưng mỗi lần như thế, ông đều bị ngăn cản, có khi ông bị ngăn cản ngay tại phi trường Orly của Paris.
Tình hình việt nam đã biến chuyển sâu xa theo chìêu hướng mới. Sau khi Điện Biên Phủ thất thủ tháng 6/54, TT Eisenhower lên tiếng cảnh giác hiểm họa cộng sản nhuộm đỏ Á châu bằng thuyết ”Domino”. Vatican thấy ngăn chặn Hà Nội với sự ủng hộ hùng mạnh của khối cộng sản quốc tế không có ai bằng Huê kỳ. Ở ngay tại chỗ, Hồng Y Francis Spellman vận động cho ông Kennedy, người công giáo, đắc cử Tổng thống Mỹ và ủng hộ ông Ngô Đình Diệm về cầm quyền ở Việt Nam để giữ Việt Nam không rơi vào tay cộng sản. Hồng Y Spellman chọn ông Ngô Đình Diệm vì ông Diệm là người công giáo, mê say quyền lực và chống cộng quyết liệt để trả thù nhà. Vatican lo sợ mất Việt Nam vào tay cộng sản là mất đi bao nhiêu công lao truyền giáo từ thời Alexandre de Rhode. Hồng y Mỹ Spellman, người đở đầu và vận động cho ông Diệm tại Mỹ
Ông Ngô Đình Diệm được Hồng Y Spellman chọn cầm quyền ở Việt Nam còn vì một lý do tình cảm sâu xa. Năm 1948, nhân dịp ghé qua Sài gòn trên đường về Mỹ, Hồng Y Spellman được Giám mục người Pháp Cassaigne cùng với Giám mục Ngô Đình Thục đón tiếp niềm nở. Năm 1951, đang ở New York, Lm Trần Văn Kiệm, được điện tín từ Âu châu ra đón Tổng giám mục Ngô Đình Thục và em là Ngô ĐìnhDiệm taị phi trường Idlewild (phi trường Kennedy bây giờ).. Sau đó Hồng Y Spellman gởi ông Diệm ngụ taị nhà dòng các linh mục Maryknoll, New Jersey. Tuy đuợc Hồng Y Spellman bảo trợ, ông Diệm chỉ được Lm Trần văn Kiệm thăm viếng, đài thọ mọi chi phí cá nhơn, từ việc di chuyển, kể cả thuê khách sạn cho ông tiếp khách vì biết ông rất thanh bạch.
Cho đến tháng 6/1953, ông từ giã Hoa Kỳ qua Pháp gặp Cựu Hoàng Bảo Đại nhận lãnh chức vụ Thủ tướng và về Việt Nam lập Chánh phủ thay thế Chánh phủ Bữu Lộc. Ngoài ra, ông Diệm còn là con nuôi của Hồng Y Spellmancùng với hai Linh mục Trần văn Kiệm và Nguyễn Đức Quý.
Lúc bấy giờ, nhiều người Mỹ cho rằng nếu không có Hồng Y Spellman nhiệt tình ủng hộ ông Ngô Đình Diệm thì đã không có chánh phủ Miền nam Việt Nam (John Cooney, The American Pope; The Life and Times of Francis Cardinal Spellman,Times Book, New York 1984).
Về phía Pháp, Tướng Paul Ély, có tiếng là thân Mỹ, sau khi ông Diệm về Sài Gòn, hợp tác với Tướng Lawton Collins của Mỹ yểm trợ ông Diệm tại chức và cả về vật chất. Sự yểm trợ quân sự của Pháp chấm dứt tháng 6/1955. Vậy mà dư luận ở Việt Nam lúc bấy giờ không ngớt công kích “thực dân cấu kết với cộng sản ” chống lại Chánh phủ Quốc gia Việt Nam. Sự công kích này kéo dài dẫn tới cắt đứt bang giao giữa Sài gòn và Paris (Bernard Fall, Les Deux Vietnam, Payot, Paris, 1967, tg.295).
Riêng Cựu Hoàng Bảo Đại chẳng những đề cử ông Diệm làm Thủ tướng với toàn quyền, tức cả về quân sự, điều mà xưa nay Cựu Hoàng chưa từng làm, ông còn chấp thuận yêu cầu của ông Diệm được quyền sử dụng ba Tiểu đoàn ưu tú của Ngự Lâm Quân để thanh toán lực lượng võ trang của “Giáo phái”. Báo chí cũng không ngớt công kích Cựu Hoàng dung túng Giáo phái để có tiền bạc tiêu xài hoang phí và dựa vào đó giữ chiếc ghế Quốc trưởng. Ông chấp thuận lời yêu cầu của ông Diệm bị các công sự viên của ông phản đối, ông giải thích bằng mấy dòng ngắn tự tay viết gởi cho một vị phụ tá: “Tôi không muốn sau này người ta nói Bảo Đại đã chọn quyền lợi riêng tư trước quyền lợi đất nước” (Bernard Fall, sđd, tg 294) .
Tổng thống bằng suy tôn
Các lực lượng võ trang của Giáo phái Miền Nam chống Tây và cộng sản từ 1945, giữ được Miền Đông và Miền Tây yên ổn, nay bị ông Diệm thanh toán bằng giải pháp quân sự thay vì hòa giải như đã thỏa thuận (Cụ Trần văn Ân kể). Ông Ngô Đình Diệm bắt đầu chuẩn bị thế cầm quyền tương lai, tổ chức như một phong trào quần chúng chống Cựu Hoàng Bảo Đại. Ngày 30 – 04 – 1955, một “Ủy Ban Cách mạng” được thành lập tập họp đông đảo Đại biểu của 18 đảng phái và nhiều phe nhóm nhỏ họp Đại hội. Trong số Đại biểu, nổi bật hai TướngCao Đài, Nguyễn Thành Phương và Trình Minh Thế, đưọc chuộc với giá khá đắt, hai cựu cán bộ cộng sản của Mặt trận Việt minh, hai nguời thuộc phe Đệ tam và Đệ tứ và hai người Bắc Quốc gia cực đoan (Le Monde, 4/5/1955, Bernard Fall trich dẫn, sđd, tg 295 – trong 2 ngươi Bắc quốc gia cực đoan, có lẽ 1 người là ông Nguyễn Bảo Toàn, chú thích riêng của NVT). Nhiệm vụ của Ủy Ban rất rõ ràng chỉ nhằm thuyết phục Đại hội truất phế Cựu Hoàng Bảo Đại, đưa ông Ngô Đình Diệm lên thay thế và đuổi Tây rút hết về xứ.
Năm 1945, Hồ Chí Minh yêu cầu Bảo Đại thoái vị với nghi lễ để chấm dứt thật sự chế độ Nhà Nguyễn. Nay ông Ngô Đình Diệm cũng muốn Cựu Hoàng bị truất phế với đầy đủ tính chánh thống, nên ở Huế ông Ngô Đình Cẩn, em của ông Diệm, triệu tập cánh Hoàng thân tuyên bố bất tín nhiệm Cựu hoàng trong vai trò Quốc trưởng ngày 15/06/1955 và đồng thời tuyên bố ông Ngô Đình Diệm mới là người “Thề tranh đấu cho tự do”. Giờ chót có nhắc lại lời hứa giử ngôi Hoàng tử Bảo Long để duy trì nguyên tắc quân chủ nhưng bị bác bỏ mặc dầu đó là lời hứa của Ông Diệm với Bảo Đại trước Thánh giá (G.. NguyễnCao Đức, JJRS 65,Impératrice Nam Phương, Internet).
Con đường dẫn Việt Nam tới một Chánh thể Cộng Hòa như vậy đã được vạch rõ.
Ngày 7/7/1955 kỷ niệm một năm ông Ngô Đình Diệm chấp chánh, Chánh phủ loan báo sẽ tổ chức cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23/10 để toàn dân quyết định số phận Việt nam theo chế độ Quân chủ hay chế độ Cộng hòa.
Trong lúc động viên dân chúng Miền nam tham gia bỏ phiếu trưng cầu dân ý, Cựu Hoàng chẳng những không được có tiếng nói với cử tri mà còn bị bộ máy thông tin tuyên truyền của Chánh phủ cực lực “đấu tố”. Ông Donald Lancaster, Cố vấn Chánh trị của Tòa Đại sứ Anh ở Sài Gòn, phải lên tiếng phê phán “Cuộc vận động trưng cầu dân ý diển ra quá coi thường những nguyên tắc lương thiện và dân chủ đến nỗi Việt Minh còn phải lấy làm khó chịu khi theo dõi ” (Donald Lancaster, Giải phóng Đông Dương Pháp, Oxford University Press, 1961, tg 398). Việt Minh thấy bị “khó chịu” phải chăng vì ông Diệm đã áp dụng rập khuôn phương pháp tuyên truyền áp đảo đối phương của họ để đạt được kết quả như họ?
Kết quả trưng cầu dân ý dĩ nhiên đã biết trước :ông Ngô Đình Diệm nhận được gần như trọn vẹn số phiếu của cử tri, 98,2%, Cựu Hoàng chỉ có 1,1% số phiếu. Miền Nam Việt Nam trở thành Việt Nam Cộng Hòa.
Năm 1946, Chánh phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa của ông Hồ Chí Minh tổ chức bầu cử Quốc Hội đầu tiên và ông Hồ chí Minh thắng cử Dân biểu với 98% số phiếu. Cố vần Mỹ, trước khi bỏ phiếu, nghĩ ông Diệm có được 60% số phiếu bầu đã quá đủ để chánh thức xác định tư cách cai trị Miền Nam nhưng ông Diệm không đồng ý, mà muốn phải được 98%. Trong các cuộc bầu cử, kết quả trên 90% thường chỉ có ở chế độ độc tài mà thôi.
Một Chánh phủ được 60 % dân chúng tín nhiệm là Chánh phủ bình thường, Dân chủ vì được bầu hợp pháp, lương thiện. Còn Chánh phủ được bầu với 90% cử tri phải là Chánh phủ “Cách mạng”! Huy động bộ máy chính quyền để bôi nhọ đối thủ, và bằng gian lận trong thủ tục bầu cử, ông Diệm đã truất phế Bảo Đại và suy tôn mình lên làm Tổng Thống Đệ nhứt Cọng hoà với … 98,2% số phiếu !!!
Nhưng trong quan hệ quốc tế, Chánh phủ có đắc cử với 100% số phiếu cũng không phải là một trở ngại và bị LHQ tẩy chay vì ngay trong tổ chức quốc tế này, có không ít chánh phủ thành viên đắc cử nhờ gian lận không thua Chánh phủ Ngô Đình Diệm. Chỉ có điều, khi nhận lãnh trách nhiệm, ông Ngô ĐìnhDiệm luôn luôn hô hào là người giữ “tiết trực tâm hư” và lấy quốc hiệu là cây trúc! Cái khó là mình phản bội chính con tim của mình. Thế mà con người ta vẫn làm được!
Hoàn thành nhiệm vụ công cụ, “Ủy Ban Cách mạng” được giải tán ngày 15/01/56. Một số lớn thành viên lần lượt bị “vắng mặt”. Một số ít thoát ra được ngoại quốc và tố cáo những bí ẩn của biến cố trong năm 55-56 (Le Monde, 17/01/56 ).
Chánh phủ tổ chức Quốc Hội Lập hiến với 123 vị Dân biểu của 5 “đảng phái” và vài người độc lập. Dĩ nhiên không thể có Dân biểu thật sự đối lập. Ở những đơn vị di cư, các linh mục hướng dẫn cử tri đi bầu và giới thiệu ứng cử viên với cử tri. Sau 75, ở Việt Nam, Việt cộng bắt chước cách hướng dẫn bầu cử này áp dụng thành chánh sách “đảng cử, dân bầu” rất thành công. Bà Ngô Đình Nhu đắc cử trong trường hợp này.
Nhắc lại để nhớ một số ứng cử viên Đại Việt, đắc cử, nhưng sau đó bị loại với lý do “gian lận bầu cử”. Năm 1959, Bác sĩ Phan Quang Đán đắc cử tại Sài Gòn với 35 000 phiều hơn ứng cử viên của Chánh phủ, bị an ninh võ trang kè theo sát ngăn cản không cho ông tới Quốc Hội tham dự lễ khai mạc. Sau đó, ông bị loại và bị truy tố về tội “gian lận bầu cử”.
Giáo sư Nguyễn văn Tương, nguyên Tổng Thư ký Quốc Hội, có nhận xét về Quốc Hội thời Đệ I Cộng Hòa: “Ra phiên họp khoáng đại, Dân biểu ta chia làm hai khối: khối đa số và khối thiểu số, như tiêu biểu cho chế độ lưỡng đảng của Anh quốc. Nhưng đó chỉ là trò ảo thuật của cấp lãnh đạo, vì ở cấp cao còn có vai trò của Đảng Cần lao Nhân vị hoạt động trong vòng bí mật. Người ngoại cuộc nói Quốc Hội lúc ấy là một cửa sổ giả, nghĩa là khi xây nhà, thì cũng phải có cửa cái, cửa sổ cho đủ bộ dễ coi, mặc dầu có những cái không cần thiết. Thay vì chú tâm trang bị cho nước nhà những bộ luật mới thống nhứt và tiến bộ, Quốc Hội chuyên ra các Quyết nghị ủng hộ Ngô Tổng thống …” ( Nguyễn Văn Tương,Nước Non Xa, Huê kỳ, 2000,tg 113) .
Nếu so sánh cách bầu Quốc Hội các khóa 1946, 1960 và 1965 của Miền Bắc với cách bầu Quốc Hội của Chánh phủ Ngô Đình Diệm ở Miền Nam các năm 1956, 1959 và 1963, chúng ta sẽ thấy hiện rõ đặc tính đồng dạng và thuần nhứt.
Về truờng hợp ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống thì cũng không gì khác hơn ý nghĩa của đảng cộng sản dựng lên để cầm quyền “đảng cộng sản nắm quyền vì có vai trò lịch sử lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tây, chống Mỹ”, còn ông Ngô Đình Diệm có “công kết thúc chế độ quân chủ lâu đời, khai sanh ra nền Cộng Hòa”.. Nên sau Hiến Ước Tạm thời 26-10-1955 truất phế Cựu Hoàng Bảo Đại, lẽ ra Chánh phủ đã phải tổ chức tổng tuyển cử chọn vị lãnh đạo nền Cộng Hòa mới, Hiến Pháp 26/10/1956 lại ngang nhiên suy tôn ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống.
Ngày 15/10/1961, TT Ngô Đình Diệm bằng Sắc luật 209TP, tuyên bố tình trạng khẩn trương trên toàn lãnh thổ, điều này đã không tránh khỏi dẫn Việt Nam Cộng Hòa trở thành một thứ chế độ “độc tài hiến định”.
“Bao công lao hồn sông núi ghi muôn đời”
Tới tháng 12 năm 1960, Chánh phủ Sài Gòn giữ được 216,4 triêu mỹ kim. Người Mỹ cho rằng viện trợ Mỹ quá thặng dư và về phía Chánh phủ Sài Gòn không sử dụng đúng mức viện trợ Mỹ vì các Kế hoặch phát triển, từ Kế hoặch ngũ niên đầu tiên, không có kế hoặch nào hoàn tất. Khối lượng trữ kim lớn như vậy là điều bất thường cho một nước còn kém mở mang, chỉ thuận lợi cho tham nhũng và âm mưu chánh trị đen tối. Tờ Observer ở Luân-đôn có một bài chỉ trích Huê kỳ tại sao để cho Chánh phủ Sài Gòn dành một trữ kim lớn như vậy bằng viện trợ phát triển mà không chịu dùng tiền đó xây trường học, bịnh viện đáp ứng cho nhu cầu học hỏi và sức khỏe khẩn trương của dân chúng? Đại sứ Ngô Đình Luyện, em út của TT Diệm, trả lời ngay trên cùng tờ báo ấy “Chánh phủ của tôi dành ngoại tệ thay vì dùng để mở thêm trường học và bịnh viện. Phải chăng chánh sách của bất kỳ Chánh phủ nào cũng đều lo bảo vệ nền độc lập tiền tệ bằng chính những phương tiện của mình?” (Observer, 8 và 22 – 62, Bernard Fall, trích dẫn, sđd,tg 351) .
Theo Giáo sư Nguyễn Hữu Châu, Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng rồi Phủ Tổng thống cho tới năm 1958 (cũng là chồng cũ của bà Lệ Chi, chị ruột bà Nhu), trong những buổi nói chuyện nhắc lại chuyện xưa tại nhà riêng ở đường Faisanderie, Paris XVI, cho biết Chánh phủ Ngô Đình Diệm giữ tiền riêng là do ý của ông Ngô Đình Nhu để làm quĩ đen nuôi và phát triển lực lượng an ninh nhằm củng cố chế độ. Vì nhiều lần phản đối việc này mà ông Châu đã phải bỏ trốn qua Miên, rồi qua Paris tỵ nạn chánh trị.
Về mặt kinh tế xã hội, tuy không sử dụng đúng mức viện trợ Mỹ cho các Kế hoặch Phát triển, Chánh phủ Ngô Đình Diệm cũng đạt được nhiều thành quả khả quan hơn so với Hà Nội về mặt xây dựng vật chất hạ tầng. Theo những số liệu do Phái bộ Viện trợ Mỹ ở Sài Gòn công bố, vào những năm đầu khi ông Ngô Đình Diệm mới về, tình hình ở Miền Nam hoàn toàn an ninh vì Miền Bắc chưa đứng dậy được sau những nỗ lực chiến tranh kéo dài và nhứt là đất nước tang hoang do hậu quả cải cách ruộng đất, cán bộ gài lại bám trụ trong Nam tìm lại được đời sống an bình, chưa nghĩ tới cầm súng lại. Trong số bám trụ, có nhiều người đi đánh Tây chỉ vì lòng yêu nước thuần túy. Nay đất nước thanh bình, họ an phận hưởng hạnh phúc gia đình. Đó là những năm từ 57 tới 60. Trong thời gian này, Chánh phủ xây đưọc 47 000 m2 Rạp Chiếu bóng và vũ trường, 6500 m2 Bịnh viện, 3500 m2 Nhà máy xay lúa, 56 000 m2 Nhà thờ và Chùa, 86 000 m2 Trường học, nhưng cũng được thêm 425 000 m2 Biệt thự và nhà ở đắt tiền (USOM, số 4, tg 105, do B.Fall trích dẫn, sđd, tg 361)
Những cái chết dưới thời TT. Ngô Đình Diệm
Theo Linh mục Trần văn Kiệm ở Nữu-Ước, sống bên cạnh ông Ngô Đình Diệm suốt thời gian ông Diệm ở Mỹ, cho tới năm 1953, người Mỹ mới bắt đầu biết ông Diệm nhờ sự giới thiệu của Hồng Y Spellman. Khi ông Diệm về nước, ở Miền Nam chẳng có mấy người biết ông Diệm vì ông Diệm chỉ làm quan trong Triều đình ở Huế, chưa bao giờ đứng bên cạnh quần chúng và cùng quần chúng tranh đấu chống thực dân Pháp. Mà ông Diệm làm sao chống thực dân khi Giám mục Ngô Đình Thục kể công với Pháp là phụ thân đã suốt đời phục vụ Pháp, dẹp phiến loạn Phan Đình Phùng:
“ …với tư cách của một Giám mục, của một người An-nam, và với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ-an và Hà-tĩnh …” (Thư của Giám mục Ngô Đình Thục gởi Toàn Quyền Decoux, 21 – 08 – 1944) . Thư của Giám mục Ngô Đình Thục gửi Toàn quyền Decoux có đoạn: "...là một giám mục, là một người An Nam, và là một thành viên của một gia đình có cha phục vụ cho Pháp ngay từ khi Pháp đến xứ An Nam, và nhiều lần xả thân liều mạng cho nước Pháp, như trung úy Nguyễn Thân, để chống lại các phiến quân Phan Đình Phùng ở Nghệ An và Hà Tĩnh") (… comme évêque, comme annamite, et comme membre d’une famille dont le père a servi la France dès sa première venue en Annam et a exposé maintes fois sa vie pour elle dans les expéditions memées, comme lieutenant de Nguyễn Thân, contre les rebelles commandés par Phan Đình Phùng à Nghệ An et Hà Tịnh. )
Nhưng những người tranh đấu, đảng phái trong Nam, đã nhiệt tình đón tiếp ông Diệm và hợp tác với ông tổ chức Chánh quyền mới. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, những người từng hợp tác, giúp đỡ ông đều lần lượt bị biến mất, đi ra nước ngoài, vào tù hoặc bị ám sát, … như các ông Nguyễn Bảo Toàn, Nhị Lang, Hồ Hán Sơn, Trần Văn Ân, Nguyễn Long, NguyễnPhan Châu, Vũ Tam Anh… và 18 vị của nhóm Caravelle, …chỉ vì phê phán hoặc đề nghị cải thiện đường lối cai trị một cách hoàn toàn ôn hòa .
Đặc biệt ông Nguyễn Bảo Toàn là một nhà ái quốc đã từng bôn ba tranh đấu thời thực dân Pháp, tuy ông không phải là người địa phương (ông là người Bắc), cũng không phải tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo nhưng đã được Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ tín nhiệm làm Tổng Bí Thơ đầu tiên của Dân Xã Đảng.
Khi Bảo Đại từ Cannes gởi liên tiếp hai công điện ngày 28-4 và 30-4-1955 để triệu hồi Ngô Đình Diệm, ông Diệm không tuân hành nhờ sự ủng hộ của Hội nghị các Chánh đảng và Nhân sĩ miền Nam ngày 30-4-1955 do Nguyễn Bảo Toàn chủ tọa, đưa đến Quyết định truất phế Cựu Hoàng Bảo Đại, giải tán Chánh phủ do Cựu Hoàng bổ nhiệm, ủy nhiệm ông Ngô Đình Diệm thành lập Chánh phủ Cách mạng, tổ chức bầu cử Quốc Hội, …Chế độ Cộng Hòa ra đời,ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống, phần lớn là do Hội nghị này ủng hộ ông Diệm và do Nguyễn Bảo Toàn chủ tọa. Nhưng sau đó chẳng bao lâu, Mật vụ của ông Ngô Đình Nhu bắt cóc ông Nguyễn Bảo Toàn, bỏ vào bao bố cột với trụ xi-măng, liệng xuống sông Nhà Bè thủ tiêu.
Cùng bị thủ tiêu bằng cách này, có ông Nguyễn Phan Châu, tức Tạ Chí Diệp, người từng ủng hộ ông Diệm trong những ngày đầu tiên về nước lập Chánh phủ. Còn ông Vũ Tam Anh, người lúc bấy giờ chỉ có những hoạt động với một nhóm bạn tại tư gia ở đường Cao Thắng, gần Chùa Tam Tông Miếu, trao đổi quan điểm, phê phán đường lối Chánh phủ, hoàn toàn không có hành động bạo động,cũng bị Mật vụ bắt cóc và thủ tiêu mất tích. Hai ông Tạ Chí Diệp và Nguyễn Bảo Toàn (Photo CourtesyVirtualArchivist.wordp ress.com)
Cũng tại khúc sông Nhà Bè này, vào khoảng tháng 10 năm 1962, các thủ hạ thân tín của ông Ngô Đình Nhu như Đại tá Đào Quang Hiển (bị mù, còn sống tại vùng Hoa-thạnh-đốn?), cũng đã lập lại việc thủ tiêu tàn ác tương tự. Bốn tín đồ chức sắc cao cấp Phật Giáo Hòa Hảo được phái lên Sài Gòn để tham dự một phiên họp. Phái đoàn cùng đi chung trong một xe Ford Vedette số NBI-010 của Đức Ông Huỳnh Công Bộ và đã bị mất tích. Bà dân biểu Hòa Hảo Long Xuyên lúc bấy giờ là Nguyễn Kim Anh đã đến gặp Ngô Đình Nhu để nhờ điều tra tông tích các cán bộ Hòa Hảo mất tích, không đến Sài Gòn họp. Ông Ngô Đình Nhu đã ỡm ờ hứa sẽ chỉ thị cho điều tra sự việc. Bà Kim Anh sau đó đã đến gặp cấp Chỉ huy Tổng Nha Cảnh Sát ở đường Nguyễn Trãi. Nơi đây cũng cho biết là việc điều tra chưa đưa đến kết quả nào. Khi ra về, đứng chờ xe trước cửa Tổng Nha, tình cờ bà chợt nhận dạng ra chiếc xe Vedette của phái đoàn Hòa Hảo đã dùng, đang chở nhân viên cảnh sát ra cổng, có lẽ là để đi ăn trưa! Việc phát giác này về sau đã đưa đến phiên xử trước tòa án Đại hình Sài Gòn các tay sát nhân, sau khi chế độ Đệ I Công Hòa sụp đổ. Các thủ phạm này thú nhận đã thi hành chỉ thị của ông Ngô Đình Nhu. Khưu Văn Hai và các bị can đã khai là Đào Quang Hiển đã ra lịnh cho họ thủ tiêu các cán bộ Hòa Hảo. Họ đã siết cổ, cột xác vào trụ xi măng và quăng giữa sông Nhà Bè. Đại tá Tổng Giám đốc Cảnh sát Nguyễn Văn Y đã vào tù trong vụ án này (Bs Trần Nguơn Phiêu thuật theo nhơn chứng, Bà Nguyễn Kim Anh trong Lê QuangVinh, Loạn Tướng hay Anh Hùng, trên Net)..
Mục tiêu kế tiếp là Tướng Lê QuangVinh, tự Ba Cụt của Lực lượng võ trang Phật Giáo Hòa Hảo. Ông Diệm phải triêu hồi ông Nguyễn Ngọc Thơ đang làm Đại sứ ở Nhựt về nhờ ông Huỳnh Kim Hoành là cậu của Tướng Ba Cụt chiêu dụ Tướng Ba Cụt ra về với Chánh phủ Quốc gia. Nhưng khi ra về, Tướng ba Cụt bị bắt và đưa ra Tòa Đại hình ở Cần Thơ xét xử về tội tống tiền và giết người mà chính ông không hề nhúng tay vào.. Thủ phạm không có, nhưng Tướng Ba Cụt vẫn bị kết án tối đa ở phiên Tòa ngày 11-06-1956 tại Cần thơ.
Tướng Ba Cụt chống án. Ngày 16-06-1956, Chánh phủ cho triêu tập phiên Tòa Đại Hình để xử Tướng Ba Cụt. Tổng thống Ngô Đình Diệm ký Dụ số 33 ngày 14-06-1956 để Tòa được tổ chức ngoài Sài Gòn.. Bản văn chưa kịp đăng lên Công Báo, ông Tổng trưởng Tư Pháp đã sửa đổi thành phần Tòa án nên bị Ls Vương Quang Nhường tuyên bố phiên Tòa bất hợp pháp. Nhưng phiên Tòa vẫn tiến hành và xử y án tử hình cho Tướng Ba Cụt.
Bảy ngày sau, ngày 03-07-1956, Tòa án Quân sự Đặc biệt họp xử tiếp Ba Cụt với tư cách Trung tá trừ bị. Bản án tử hình của Tòa án Quân sự sẽ được thi hành ngay. Ba phiên Tòa liên tiếp nhóm trong vòng chỉ có 23 ngày, dồn dập, gấp rút tuyên hai án tử hình cho một tội nhân, bất chấp những lời phản kháng của các luật sư, đã nói lên chủ tâm của chánh quyền Ngô Đình Diệm muốn giết Ba Cụt càng nhanh càng tốt. Giết thiếu lương thiện. Vụ xử án Tướng Hòa Hảo Lê Quang Vinh vừa “thiếu lương thiện” vừa “trái với đạo lý Việt Nam”
Tổng thống là người sau cùng có thẩm quyền khoan hồng tha chết cho người bị kết án tử hình. Nhưng đơn xin của Tướng Ba Cụt bị Tổng thống Ngô Đình Diệm bác bằng sắc lịnh số 98 –Tp ngày 08-07-1956. Tướng Ba Cụt là Trung tá trừ bị nên xin được xử bắn nhưng cũng bị ông Tổng thống Diệm từ chối. Sau khi bị chặt đầu, thi thể của Tướng ba Cụt không được trao trả cho thân nhơn chôn cất, mà hình như còn bị chặt ra làm nhiều khúc và đem vứt đi ở nhiều nơi để dân Miền Tây gốc Phật Giáo Hòa Hảo không thể làm lễ tưởng niệm Tướng Ba Cụt.. Một việc làm trái với Đạo lý Việt Nam.
Chí sĩ
Lúc làm Tổng thống, ông Diệm có nói một câu rất thời danh để phát tâm cương quyết chết sống trong sứ mạng “Thề tranh đấu cho tự do” là “Tôi tiến, tiến theo tôi. Tôi lui, giết tôi. Ai giết tôi, hãy trả thù cho tôi”.
Sau khi ông Diêm bị giết trong cuộc đảo chánh ngày 01-11-1963, không thấy những người thân cận với chế độ, có ai có phản ứng để bênh vực chủ và chánh nghĩa của chế độ. Chúng tôi không có ý muốn họ trả thù cho chủ như lời của ông Diệm trong câu nói kia. Trái lại, lần lượt, họ về theo với những người đã đảo chánh làm thiệt mạng chủ của họ.
Ngày nay, những người này đều sanh sống ở các nước Âu Mỹ, tức các nước Dân chủ Tự do. Hơn nữa, trước kia, họ cũng đã từng du học ở các nước này hay theo học chương trình khai phóng nhân bản tại Việt Nam. Tôi tự hỏi nếu tại quốc gia nơi họ đang sanh sống, chánh phủ lên nắm chánh quyền và cai trị như ông Ngô Đình Diệm đã làm ở Việt Nam không biết họ sẽ phản ứng như thế nào? Họ phản đối hay thỏa thuận như đã làm trước kia? Điều thấy rõ là họ đang chống cộng sản Hà Nội quyết liệt vì cộng sản độc tài, cai trị bằng công an chớ không bằng luật pháp, Quốc Hội bù nhìn đảng cử, dân bầu, bắt bỏ tù, tra tấn dã man những người biểu tình ôn hòa vì lòng yêu nước chân chánh, …
Họ nhận thấy vai trò của ông Ngô Đình Nhu có ổn không? Cố vấn của Tổng thống mà hành xử đủ các quyền sanh sát. Ông Ngô Đình Cẩn, Cố vấn Miền Trung, có riêng lực lượng an ninh võ trang với rộng quyền hành pháp và tư pháp. Còn Bà Ngô Đình Nhu, chỉ là Dân biểu, có quyền tham dự Hội đồng Quốc gia và có tiếng nói đầy trọng lượng. Ba hiện tượng này, liệu họ có thể chấp nhận xảy ra ở nước nơi họ đang cư ngụ được không?
Ngày nay, tất cả đều đã già, rất tiếc chưa thấy có vị nào nói lên tiếng nói của lương tâm! Vẫn còn tiếng nói suy tôn! Thật tội nghiệp.
Tưởng niệm là Đạo nghĩa truyền thống Việt Nam. Những người được ơn sủng của Chế độ Tổng thống Diệm có bổn phận tri ơn. Không tưởng niệm, không tri ơn mới là người xấu. Nhưng nếu chọn cách tri ơn, tưởng niệm như trong phạm vi riêng tư, tới ngày 01-11, cùng nhau hát “Ngô Tổng thống muôn năm, Ngô Tổng thống muôn năm” thì chắc chắn quí vị đó sẽ được nhiều người tỏ lòng kính trọng.
Cái chết bi thảm của hai ông Tổng thống và Cố vấn – dù sao vẫn còn có phước hơn Tướng Ba Cụt, ông Nguyễn Bảo Toàn, ông Nguyễn Phan Châu, và nhiều nạn nhơn khác nữa, vì còn xác chết để chôn cất, có mồ mả – do thủ hạ gây ra có đáng lấy làm bài học về lòng Bác ái Thiên Chúa giáo và thuyết nhơn quả của Phật giáo không?
Nguyễn văn Trần
Monday, October 14, 2019
Thanksgiving (Canada) Thứ Hai 14.10.2019
Thanksgiving (Canada)
Sự khác nhau giữa lễ Tạ Ơn tại Mỹ và Canada

Sự khác nhau giữa lễ Tạ Ơn tại Mỹ và Canada
Lễ Tạ Ơn (ThanksGiving Day) là ngày lễ được tổ chức hàng năm chủ yếu bởi bởi người Mỹ và Canada. Lễ Tạ ơn có ý nghĩa là mừng cho mùa thu hoạch và cảm tạ Chúa Trời ban cho cuộc sống no đủ. Ngày lễ này tại Mỹ và Canada có rất nhiều điểm tương đồng nhưng cũng có những sự khác biệt nhất định.|
|
Lễ Tạ Ơn Tại Canada |
Lễ Tạ ơn Tại Mỹ |
|
Thời điểm |
Thứ 2 của tuần thứ 2 trong tháng 10 |
Ngày thứ 5 của tuần thứ tư tháng 11 |
|
Thời gian nghỉ |
Nghỉ 3 ngày |
Nghỉ 4 ngày |
|
Quy mô |
Không phải ngày lễ quốc gia, chỉ chính thức tại 1 số bang phía bờ Đại Tây Dương |
Cảm ơn Thiên Chúa và sự rộng lượng của người bản địa |
|
Ý nghĩa |
Cảm ơn Chúa vì vụ mùa bội thu |
Là ngày lễ quốc gia và được tổ chức trên tất cả các tiểu bang |
1, Sự khác biệt về thời điểm của ngày lễ
Thanksgiving đã được tổ chức tại Mỹ từ giữa thế kỉ 20 tại nhiều thời điểm khác nhau – tùy thuộc vào các bang khác nhau. Tới 26/12/1941, Tổng thống Franklin D.Roosevelt đã kí sắc lệnh thống nhất ngày lễ Tạ Ơn vào ngày thứ 4 cuối cùng của tháng 11. Cùng với đó là các công dân Mỹ cũng như học sinh quốc tế sẽ được nghỉ 4 ngày.Điều tương tự cũng xảy ra đối với Canada – ngày Thanksgiving không được thống nhất cho tới năm 1957. Theo quy định của Canada, ngày lễ Tạ Ơn sẽ được tổ chức vào ngày thứ 2 của tuần thứ hai trong tháng 10 hàng năm và kéo dài trong 3 ngày. Tuy nhiên, điểm cần chú ý rằng quy định trên chỉ áp dụng cho một số tiểu bang giáp Đại Tây Dương của Canada chứ khôndg phải là 1 ngày lễ quốc gia như Hoa Kỳ.
2, Sự khác biệt trong thực đơn ngày lễ Phục Sinh
Gà Tây là món ăn truyền thống trong ngày lễ Phục Sinh của người Mỹ. Bữa ăn thường lớn – được tính toán cho 5-10 người bao gồm cả gia đình và bạn bè thân thiết. Khoai tây nhồi và nghiền cùng với nước sốt Nam Việt Quất, Ngô ngọt, các loại rau củ và bánh Bí Đỏ là các món thường thấy khác trong này này.Các điểm khác biệt của món ăn trong ngày lễ giữa Mỹ và Canada có thể kể tới:
– Món bánh Bí Đỏ của Canada thường cay hơn bởi có Gừng, Đinh Hương và Quế. Trong khi đó, người Mỹ lại ưa thích vị ngọt hơn và thường cho thêm custard trứng.
– Người Canada thường nướng hoặc nghiền Khoai Tây ngọt trong khi người Mỹ thường cho thêm Bơ, Đường và gia vị để làm thành một món hầm ăn kèm với kẹo dẻo.
– Người Mỹ tại các tiểu bang phía nam thường dùng bánh mì ngô để nhồi, các tiểu bang phía bắc và phía đông thường dùng gạo giống như người Canada.
Theo truyền thống, bữa ăn tối quan trọng nhất của ngày Tạ Ơn được tổ chức vào tối thứ năm tại Mỹ và tại Canada có thể tổ chức vào Chủ Nhật hoặc Thứ 2.
3, Các hoạt động trong kì nghỉ lễ Phục Sinh tại Mỹ và Canada
Mặc dù có sự khác nhau về thời điểm tổ chức nhưng các hoạt động trong ngày này tại Mỹ và Canada lại có nhiều điểm tương đồng.– Du lịch cùng gia đình trong kỳì nghỉ lễ là hoạt động phổ biến tại cả hai nơi. Tại Mỹ, khoảng thời gian 4 ngày nghỉ lễ này được coi là một trong những dịp du lịch nhộn nhịp nhất trong cả năm. Người Canada cũng tận dụng 3 ngày lễ ngắn ngủi của mình để du lịch và thoát khỏi công việc – cuộc sống thường nhật.
– Mua sắm và săn sale trong mùa lễ Tạ Ơn là hoạt động được mong chờ nhất trong năm. Các cửa hàng thường mở cửa từ sớm trong ngày thứ 6 ngay sau lễ Tạ Ơn với hàng dài người xếp hàng đứng chờ để mua được những sản phẩm giám giá. Do chính sách giảm giá mạnh đồng loạt nên mọi người thường cố gắng hoãn kế hoạch mua sắm chờ sự kiện này. Ngày thứ 6 ngay sau lễ Tạ Ơn này thường được gọi là ngày “Black Friday” bởi chỉ số lợi nhuận của các doanh nghiệp bán lẻ thường đổi từ mầu đỏ (lỗ) sang mầu đen (hòa vốn và bắt đầu sinh lợi). Ngày thứ 2 sau lễ Tạ Ơn được gọi là “Cyber Monday” bởi số lượng khổng lồ khách hàng mua hàng online.
– Các buổi diễu hành được tổ chức trên quy mô lớn. Cuộc diễu này nổi tiếng nhất tại Hoa Kỳ có thể kể tới là Macy’s Parade. Tại Canada, các cuộc diễu hành thường có quy mô nhỏ và giới hạn ở mức địa phương. Kitchener-Waterloo Oktoberfest là cuộc diễn hành duy nhất của Canada được lên phát trên truyền hình quốc tế.
—
Lễ Tạ ơn
Bức tranh The First Thanksgiving at Plymouth (Lễ Tạ ơn đầu tiên tại Plymouth) của Jennie A. Brownscombe năm 1914
Ngày và nơi diễn ra lễ Tạ ơn đầu tiên là chủ đề của một cuộc tranh cãi nhỏ. Mặc dù lễ Tạ ơn sớm nhất đã được kiểm chứng diễn ra vào ngày 8 tháng 9 năm 1565 tại khu vực ngày nay là Saint Augustine, Florida,[1][2] nhưng "lễ Tạ ơn đầu tiên" theo truyền thống được coi là đã diễn ra tại khu vực thuộc thuộc địa Plymouth vào năm 1621.
Ngày nay, tại Hoa Kỳ, lễ Tạ ơn được tổ chức vào ngày thứ Năm lần thứ tư của tháng 11 vì thế ngày này có thể không phải là ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11 như nhiều người lầm tưởng (thí dụ năm 2012, tháng 11 có đến 5 ngày thứ năm). Tại Canada, nơi có cuộc thu hoạch sớm hơn, ngày lễ này được tổ chức vào ngày thứ Hai lần thứ hai của tháng 10.
Lịch sử
Lễ Tạ ơn gắn liền với các lễ hội ngày mùa thường được tổ chức ở châu Âu từ xưa.Trong truyền thống Anh, ngày tạ ơn và nghi lễ tôn giáo tạ ơn đặc biệt trở nên quan trọng trong quá trình Cải cách Kháng Cách tại Anh trong thời kỳ trị vì của vua Henry VIII.
Tại Bắc Mỹ, lễ hội này đầu tiên được tổ chức tại Newfoundland bởi Martin Frobisher và nhóm Thám hiểm Frobisher năm 1578, để mừng tạ ơn Chúa đã cho sống sót qua cuộc hành trình dài và nhiều bão tố từ Anh.[3] Một lễ hội khác được tổ chức vào ngày 4 tháng 12 năm 1619 khi 38 người khai hoang từ giáo khu Berkeley xuống thuyền tại Virginia và tạ ơn Thượng đế.[4][5]
Tuy nhiên trước đó, cũng có thông tin về một buổi tiệc Tạ ơn tổ chức bởi Francisco Vásquez de Coronado (cùng với nhóm người da đỏ Teya) ngày 23 tháng 5 năm 1541 tại Texas, để ăn mừng việc họ tìm ra lương thực. Một số người cho rằng đây là cuộc tổ chức Tạ ơn thật sự đầu tiên tại Bắc Mỹ. Một sự kiện tương tự xảy ra một phần tư thế kỷ sau, vào ngày 8 tháng 9 năm 1565 tại St. Augustine, Florida khi Pedro Menéndez de Avilés gặp đất liền; ông và những người trên thuyền đã tổ chức một buổi tiệc với người bản xứ.
Sự tích về ngày lễ tạ ơn
Bức tranh The First Thanksgiving của Jean Leon Gerome Ferris, người da trắng mời người da đỏ cùng ăn
Những người này rời khỏi Anh đến Hà Lan sinh sống nhưng họ sớm nhận ra mình không thể hoà nhập ở nơi này và lo sợ con cháu của họ sẽ bị mất gốc, một số nhóm người rời khỏi Hà Lan để đến Tân Thế giới (Châu Mỹ) sinh sống, và sau này thường được gọi là Người hành hương (Pilgrims). Những người này đi trên một con thuyền tên là Mayflower, họ đặt chân đến Thuộc địa Plymouth thuộc vùng Tân Anh (New England) khi đang mùa đông. Đói và lạnh, một nửa trong số họ không qua nổi mùa đông khắc nghiệt. Đến mùa xuân, họ may mắn gặp được những thổ dân da đỏ tốt bụng và cho họ ít lương thực. Người da đỏ dạy họ những cách sinh tồn ở vùng đất này như cách trồng hoa màu, săn bắt,... Khi người Pilgrims đã có thể tự lo cho bản thân được, họ tổ chức một buổi tiệc để tạ ơn Chúa Trời vì đã cho họ có thể sống đến ngày hôm nay, họ mời những người da đỏ và cùng nhau ăn uống vui vẻ. Từ đó về sau, hằng năm con cháu của người Pilgrims luôn tổ chức lễ tạ ơn để cảm ơn cho những gì tốt đẹp đã đến với cuộc sống.[6]
Theo tài liệu, buổi lễ tạ ơn đầu tiên tại Hoa Kỳ, do người Pilgrims tổ chức, là vào năm 1621 tại Thuộc địa Plymouth, ngày nay thuộc Massachusetts, sau một vụ thu hoạch tốt.
Tổ chức truyền thống
Gà tây nướng lò, một món ăn thường thấy trong ngày Lễ Tạ ơn
Bánh Pumpkin (Pumpkin pie) thường dùng trong mùa Lễ Tạ ơn tại Bắc Mỹ
Tại Hoa Kỳ, người ta thường tưởng nhớ đến một bữa ăn tổ chức trong năm 1621 giữa người da đỏ Wampanoag và nhóm Pilgrim đã di cư tại Massachusetts. Lễ Tạ ơn đã được thực hiện chủ yếu bởi các nhà lãnh đạo tôn giáo tại New England cho đến năm 1682, và sau đó bởi cả hai nhà lãnh đạo chính quyền và tôn giáo cho đến sau Cách mạng Hoa Kỳ. Tổng thống Hoa Kỳ George Washington đã công bố lễ tạ ơn toàn quốc đầu tiên ở Mỹ vào ngày 26 tháng 11 năm 1789, "là một ngày tạ ơn công cộng và cầu nguyện bởi sự công nhận với lòng biết ơn sự gia ân và tín hiệu tốt của Thiên Chúa Toàn Năng".[7][8] Nhiều chi tiết của câu chuyện là truyền thuyết được đặt ra trong những năm 1890 và đầu thế kỷ 20 để tạo một biểu hiện sự đoàn kết quốc gia sau Nội chiến Hoa Kỳ cũng như để đồng hóa các người nhập cư.
Tại Canada, Lễ Tạ ơn là một cuối tuần ba ngày. Trong khi ngày Lễ Tạ ơn nằm vào ngày thứ Hai, người Canada có thể ăn buổi tiệc trong bất cứ ngày nào trong ba ngày cuối tuần đó. Việc này thường dẫn đến việc ăn một buổi tiệc với nhóm người này hôm này, rồi với nhóm khác hôm kia.
Diễn hành Lễ Tạ ơn của Macy's tại New York năm 1979
Trong khi ngày thứ Sáu (còn gọi là Thứ Sáu Đen) sau ngày Lễ Tạ ơn là ngày mua sắm đông nhất trong năm tại Hoa Kỳ, nhiều cửa hàng đã bắt đầu chào đón khách hàng với các món hàng cho mùa lễ ngay sau Halloween.
Bóng bầu dục (American football) thường là một phần quan trọng trong ngày Lễ Tạ ơn tại Hoa Kỳ cũng như tại Canada. Các đội chuyên nghiệp thường đấu nhau trong ngày này để khán giả có thể xem trên truyền hình. Thêm vào đó, nhiều đội banh trung học hay đại học cũng đấu nhau vào cuối tuần đó, thường với các đối thủ lâu năm.
Tại Hoa Kỳ và Canada
Ăn gà tây trong lễ Tạ ơn ở Mỹ
| Hoa Kỳ | Canada | |
|---|---|---|
| 26 tháng 11 năm 2009 | 12 tháng 10 năm 2009 | |
| 25 tháng 11 năm 2010 | 11 tháng 10 năm 2010 | |
| 24 tháng 11 năm 2011 | 10 tháng 10 năm 2011 | |
| 22 tháng 11 năm 2012 | 8 tháng 10 năm 2012 | |
| 28 tháng 11 năm 2013 | 14 tháng 10 năm 2013 | |
| 27 tháng 11 năm 2014 | 13 tháng 10 năm 2014 | |
| 26 tháng 11 năm 2015 | 12 tháng 10 năm 2015 | |
| 24 tháng 11 năm 2016 | 10 tháng 10 năm 2016 | |
| 23 tháng 11 năm 2017 | 9 tháng 10 năm 2017 | |
| 22 tháng 11 năm 2018 | 8 tháng 10 năm 2018 | |
| 28 tháng 11 năm 2019 | 14 tháng 10 năm 2019 | |
| 26 tháng 11 năm 2020 | 12 tháng 10 năm 2020 |
| Thanksgiving | |
|---|---|
Shopping for pumpkins for Thanksgiving in Ottawa's ByWard Market in 1991.
| |
| Observed by | Canada |
| Type | Cultural |
| Significance | A celebration of being thankful for what one has and the bounty of the previous year. |
| Celebrations | Spending time with family, feasting, religious practice |
| Date | Second Monday in October |
| 2018 date | October 8 |
| 2019 date | October 14 |
| 2020 date | October 12 |
| 2021 date | October 11 |
| Frequency | Annual |
| Related to | Thanksgiving in the United States |
Thanksgiving has been officially celebrated as an annual holiday in Canada since November 6, 1879.[2] While the date varied by year and was not fixed, it was commonly the third Monday in October.[2]
On January 31, 1957, the Governor General of Canada Vincent Massey issued a proclamation stating: "A Day of General Thanksgiving to Almighty God for the bountiful harvest with which Canada has been blessed – to be observed on the second Monday in October."[3]
Statutory holiday
Traditional celebration
As a liturgical festival, Thanksgiving corresponds to the British and continental European harvest festival, with churches decorated with cornucopias, pumpkins, corn, wheat sheaves, and other harvest bounty. British and European harvest hymns are sung on the Sunday of Thanksgiving weekend.[citation needed]While the actual Thanksgiving holiday is on a Monday, Canadians may gather for their Thanksgiving feast on any day during the long weekend; however, Sunday is considered the most common. Foods traditionally served at Thanksgiving include roasted turkey, stuffing, mashed potatoes with gravy, sweet potatoes, cranberry sauce, sweet corn, various autumn vegetables (mainly various kinds of squashes but also Brussels sprouts), and pumpkin pie. Baked ham and apple pie are also fairly common, and various regional dishes and desserts may also be served, including salmon, wild game, Jiggs dinner with split-pea pudding, butter tarts, and Nanaimo bars.[11]
In Canadian football, the Canadian Football League has usually held a nationally televised doubleheader, the Thanksgiving Day Classic. It is one of two weeks in which the league plays on Monday afternoons,[12] the other being the Labour Day Classic.
Kitchener-Waterloo Oktoberfest holds a Thanksgiving parade on the holiday; it is broadcast on CTV on tape-delay. The parade consists of floats, civic figures in the region, local performance troupes and marching bands.[13]
Canadian Thanksgiving coincides with the observance in the United States of Columbus Day and the American Indigenous Peoples' Day. As such, American towns with high levels of Canadian tourism will often hold their fall festivals over Thanksgiving/Columbus Day weekend, in part to draw and accommodate Canadian tourists; the Fall Festival of Ellicottville, New York, has been identified as an "annual pilgrimage" for Canadians.[14] Border towns also often experience an uptick in shoppers at grocery stores, as Canadian shoppers take advantage of lower sales taxes and commodity prices in the United States over the long holiday.[15]
History
Canadian troops attend a Thanksgiving Mass in the bombed-out Cambrai Cathedral, France, October 1918.
Years later, French settlers, having crossed the ocean and arrived in Canada with explorer Samuel de Champlain, from 1604, also held feasts of thanks. They formed the Order of Good Cheer and held feasts with their First Nations neighbours, at which food was shared.[citation needed]
After the Seven Years' War ended in 1763, with New France handed over to the British, the citizens of Halifax held a special day of Thanksgiving. Thanksgiving days were observed beginning in 1799 but did not occur every year.[19]
During and after the American Revolution, American refugees who remained loyal to Great Britain moved from the newly independent United States to Canada. They brought the customs and practices of the American Thanksgiving to Canada, such as the turkey, pumpkin, and squash.[20]
Lower Canada and Upper Canada observed Thanksgiving on different dates; for example, in 1816 both celebrated Thanksgiving for the termination of the War of 1812 between France, the U.S. and Great Britain, with Lower Canada marking the day on May 21 and Upper Canada on June 18 (Waterloo Day).[19] In 1838, Lower Canada used Thanksgiving to celebrate the end of the Lower Canada Rebellion.[19] Following the rebellions, the two Canadas were merged into a united Province of Canada, which observed Thanksgiving six times from 1850 to 1865.[19] During this period, Thanksgiving was a solemn, mid-week celebration.[21]
The first Thanksgiving Day after Confederation was observed as a civic holiday on April 5, 1872, to celebrate the recovery of the Prince of Wales (later King Edward VII) from a serious illness.[22]
For many years before it was declared a national holiday in 1879, Thanksgiving was celebrated in either late October or early November. From 1879 onward, Thanksgiving Day has been observed every year, the date initially being a Thursday in November.[23] After World War I, an amendment to the Armistice Day Act established that Armistice Day and Thanksgiving would, starting in 1921, both be celebrated on the Monday of the week in which November 11 occurred.[22] Ten years later, in 1931, the two days became separate holidays, and Armistice Day was renamed Remembrance Day. From 1931 to 1957, the date was set by proclamation, generally falling on the second Monday in October, except for 1935, when it was moved due to a general election.[19][22] In 1957, Parliament fixed Thanksgiving as the second Monday in October.[22] The theme of the Thanksgiving holiday also changed each year to reflect an important event to be thankful for. In its early years it was for an abundant harvest and occasionally for a special anniversary.[19]
Subscribe to:
Posts (Atom)











