Saturday, April 13, 2019

Sihanoukville & Chim Phượng Hoàng Tầu Cộng - Tưởng Năng Tiến

 Sihanoukville: ảnh (tnt) 2019
 
Làm đặc khu phải theo nguyên lý “dọn tổ đón phượng hoàng.”- Uông Chu Lưu – Phó Chủ Tịch Quốc Hội VN

Tôi sinh tại Sài Gòn nhưng lớn lên và trưởng thành ở Đà Lạt, nơi được mệnh danh là Little Paris. Nửa phần đời kế tiếp, cái mảnh đời của kẻ tha phương cầu thực, tôi thường chỉ sống quanh quẩn ở hai thành phố: San Jose và Westminster (California) nơi còn được gọi là Little Saigon. Thỉnh thoảng, tôi có bay sang tiểu bang Florida thăm bà chị (cả) nên cũng có ghé qua Little Havana – đôi bận.
Cứ tưởng thế giới chỉ có vài ba cái “little” nho nhỏ vậy thôi (Petit Paris, Petit Saigon và Petit Havana) nhưng không phải thế. Năm rồi, đi lòng vòng qua Malaysia và Singapore mới biết có Little India ở cả hai quốc gia này. 
Tháng trước, tôi lại vừa có dịp ghé Little Macao. Nói vui vậy thôi, chứ cái tên mới toanh này là do tôi vừa “sáng tác,” chứ thật sự (và nguyên thủy) nó được gọi là Kampong Som hay còn được biết đến rộng rãi hơn là Sihanoukville – Krong Preah Sihanouk. 
Theo ước tính chung thì đến cuối năm 2018 đã có trên 70 sòng bạc ở Sihanoukville. Còn theo tôi (sau nửa ngày chạy xe gắn máy lòng vòng trong thành phố cảng này) chắc dễ phải tới hơn trăm chứ không thể ít hơn, nếu kể luôn mấy cái casino nho nhỏ nữa. Con số này, tất nhiên, sẽ còn tăng đều đều trong những ngày tháng tới. Lý do, được nữ ký giả Hannah Ellis-Petersen giải thích như sau:
“Các chủ sòng bài người Hoa cũng lợi dụng việc chưa có luật lệ về các sòng bạc và sự thiếu vắng của luật chống rửa tiền để thiết lập một vương quốc, nơi chỉ có người nước ngoài được vào – bởi vì cờ bạc vẫn là bất hợp pháp đối với người Căm bốt. "Chinese casino owners have also taken advantage of the nonexistent gambling regulation and lax money-laundering laws to set up an empire that is accessible only to foreigners – because gambling is still illegal for Cambodian locals.” (“No Cambodia left: how Chinese money is changing Sihanoukville.” The Guardian 31 Jul 2018 translated by Bùi Xuân Bách).
Nhà báo Philip Dubow cũng lên tiếng bầy tỏ sự quan ngại: “Mặc dù khá rõ ràng là BRI và hoạt động bất hợp pháp sẽ liên kết với nhau theo cách nào đó, nhưng hầu như chưa có nghiên cứu nào nhằm định lượng hay định tính và xác định quy mô của mối quan hệ này. Although it is fairly self-evident that the BRI and illicit activity are somehow connected, barely any research has been conducted to quantify or qualify the nature and magnitude of these relationships."(Examining Crime and Terrorism Along China’s Belt and Road. The Diplotmat 8 Mar 2019 translated by Phạm Nguyên Trường).
Sáng đầu tiên ở Kampomg Som, tôi choàng thức dậy trong một cái resort bình dân không phải nhờ tiếng chim kêu hay vượn hú gì ráo trọi mà vì tiếng động bất ngờ và ầm ĩ của một cái building đang thi công kế cạnh. Từ đây ra bãi biển Otres (khoảng cách chưa tới hai cây số) tôi đếm được thêm chừng mười cái cao ốc đang xây cất dở dang. Xen cạnh là khoảng chục restaurant và supermarket của người Hoa – đỏ rực bảng hiệu tiếng Tầu – nằm san sát hai bên con đường lỗ chỗ ồ gà, mịt mù bụi bặm, và ngập ngụa rác rưởi. 
Trên trang Trip Advisor, một du khách từ Đài Loan cũng vừa buông đôi lời cay đắng về những bãi biển (vốn nổi tiếng êm đềm và thơ mộng) Otres như sau: 
“If you want to spend your vacation in garbage and construction sites instead of white sand, if you want to smell stinky, burnt and highly polluted air instead of a fresh breeze, if you want to bath in polluted waste water rather than turquoise fresh clean ocean water OR if you actually wanted to travel to China - go to Sihanoukville and its beaches - and get wasted yourself!!”
Tôi không rành tiếng Anh, tiếng Mỹ gì cho lắm nên đoán (loáng thoáng) là tác giả của đoạn văn thượng dẫn có ý mỉa mai rằng chả cần gì phải đến tận Trung Hoa Lục Địa làm chi – cho má nó khi – chỉ cần ghé qua Sihanoukville là cũng nhìn ra ngay bộ mặt của cái nước Tầu.
Ông (hay bà) Trung Hoa Quốc Gia nào đó e có vì “chống cộng cực đoan” mà quá lời chăng?
- Dạ, không đâu!
Những tiệm ăn Tầu mà tôi ghé qua ở Sihahoukville thực đơn hoàn toàn ghi bằng tiếng Trung Cộng, không xen lẫn một dòng chữ của bất cứ thứ ngôn ngữ nào khác cả. Tôi sống sót được sau vài ngày ở đây chỉ là nhờ vào may mắn. May mà còn có mấy bức ảnh in hình tô hoành thánh, đĩa cơm vịt quay, hay heo quay dán sẵn trên tường. Chứ không thì phen này “ngộ” dám chết đói như không, chứ chả phải chuyện đùa! 
Thức ăn không dở nhưng quá mắc, 6 U.S.A dollars cho một đĩa cơm gà Hải Nam nho nhỏ. Tôi “chuyên trị” cơm gà nên biết chắc rằng nó mắc gấp đôi Singapore, gấp ba Bangkok, và gấp bốn so với Phnom Penh hoặc Yangon. Trong khi tiền lương trung bình của một công nhân ở Sihanoukville chỉ cỡ 10 Mỹ Kim mỗi ngày. Bởi vậy, tuy không có bảng cấm nhưng dân Cambodia chả mấy ai “dám” hẻo lánh đến đây.
Người Trung Hoa cũng ở biệt lập trong những khách sạn sang trọng, hay những khu chung cư cao cấp. Ngoài tiệm ăn, họ còn có chợ riêng, và chỉ chia chung với người bản xứ mấy con suối nước đen lừ đừ và lềnh bềnh rác rưởi.
Sihanoukville là cảng nước sâu duy nhất của Cambodia, và được xem là một trọng điểm trên lộ trình (一带 一路 / nhất đới, nhất lộ) mang đầy tham vọng của Tập Cận Bình. Hàng tỉ Mỹ Kim đã đổ vào đây nhưng không một cắc nào đầu tư cho cơ sở hạ tầng, và cũng chả có mấy đồng rơi vãi vào tay người dân địa phương – nếu họ không thuộc giới quan chức có đủ thẩm quyền để nhận tiền (hối lộ) hay không phải là chủ đất có nhà cho thuê. 
Cạnh những công trình kiến trúc “hoành tráng” là mấy mái tôn lụp xụp, và len lách giữa đám xe du lịch đắt tiền (đậu trước những casino tráng lệ) là những đứa bé phải nhặt rác để mưu sinh – thay vì cắp sách đến trường. 
Dù chỉ là thiểu số, khoảng 20/25 phần trăm gì đó, hiện nay người Tầu mới là chủ nhân đích thực của Sihanoukville. Qúi vị tân chủ nhân của thành phố này – xem chừng – không hề muốn giao tiếp thân thiện gì với người dân bản xứ, và cũng chả mảy may quan tâm chi đến môi trường sống xung quanh.. Dường như họ có cái khả năng thiên phú là có thể ăn và ỉa ngay cùng một chỗ. 

Sihanoukville: ảnh (tnt) 2019
Cách ăn ở vô hậu này, tất nhiên, khiến dân Cambodia rất đỗi bất bình. Tuy thế, đám người Trung Cộng ở Sihanoukville vẫn được ông Thủ Tướng Hun Sen dang rộng vòng tay đón chào và ôm ấp. Còn ở Việt Nam thì họ được qúi vị lãnh đạo của xứ sở này mô tả là một loài chim qúi và đang sẵn sàng dọn tổ để “chào đón phượng hoàng,” với niềm tin rằng “một đồng rót vào đặc khu để hút về hàng chục, hàng trăm đồng.” Những người không chia sẻ “niềm tin” này, và biểu tình phản đối, đều đã bị tuyên án và giam giữ.
Trung Tâm Phát Triển Toàn Cầu (Center for Global Development - CGD) đã báo cáo rằng ít nhất là 8 nước có nguy cơ rơi vào khủng hoảng nợ vì các khoản vay liên quan tới dự án BRI – Belt and Road Innitiative. Cùng lúc T..S Trần Đức Anh Sơn (Phó Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Phát triển Kinh Tế - Xã Hội, Đà Nẵng) vừa bị kỷ luật và khai trừ khỏi ĐCSVN vì những lời cảnh báo của ông:“Người dân ở những nơi sẽ trở thành đặc khu này sẽ bị mất đất, sẽ trở thành lưu dân, tha hương ngay trên mảnh đất mà tổ tiên họ đã dày công khai phá… Họ sẽ trở thành những kẻ làm thuê khốn cùng cho ngoại bang bằng những nghề hạ tiện nhất mà ngoại bang không thèm làm, để kiếm sống một cách tủi nhục trên chính quê hương mình.”
Đ... má tụi bay, “chưa thấy quan tài nên chưa đổ lệ” mà. Cứ rước chúng nó vô đi rồi cả nước sẽ khóc bằng tiếng Tầu Cộng luôn!

Saturday, April 6, 2019

BÀ CỬU SANH VÀ HÃNG NƯỚC MẮM HOÀNG HƯƠNG - FB Lê Huân


http://www.baobinhthuan.com.vn/…/tro-lai-chuyen-nuoc-mam-ph…
Chuyện kể về người phụ nữ tài năng, một tay gầy dựng cơ nghiệp nhà chồng, chắp cánh cho thương hiệu nước mắm Hoàng Hương lừng tiếng trên thương trường và góp phần đưa nước mắm Phan Thiết trở nên nổi tiếng khắp cả nước.
Làm dâu
Mùa đông năm Quý Dậu 1933, người dân xóm Gò Tranh thuộc làng Tân Xuân, huyện Hàm Thuận ( nay là phường Xuân An, tp Phan Thiết ) ai cũng mừng và chúc phúc cho ông bà Nguyễn Văn Địch và Lê Thị Thàn vừa gả được cô con gái thứ năm, xinh đẹp, hay lam hay làm của mình cho một gia đình hàm hộ nước mắm có tiếng ở Phan Thiết. Nhiều người tấm tắc khen ông bà Thàn đã chọn được chổ “môn đăng hộ đối” cho con gái, vì ông bà vốn cũng là người khá giả, có ruộng có vườn cho tá điền thuê. Riêng ông Địch còn có nghề thầu cung cấp đá cho Sở Lục lộ tỉnh Bình Thuận để làm đoạn đường số 1 từ thị xã Phan Thiết ra núi Tà Zôn. Ông Địch còn nổi tiếng khắp làng khi đặt tên những người con của mình là tên các loại nhạc cụ như: Đờn, Quyễn, Kèn, Kiễn, Sạng,....
18 tuổi, xa cha mẹ về nhà chồng làm dâu, Năm Quyễn ( Nguyễn Thị Quyễn ) mặc dù trước giờ vốn quen với việc lao động, phụ mẹ lo chuyện ruộng vườn nhưng khi về nhà chồng, một gia đình giàu có, quyền quý đã gặp phải nhiều điều buồn tủi. Mẹ chồng, bà Trần Thị Tỵ, một người phụ nữ từ miền Trung vào Phan Thiết lập nghiệp, bươn chãi, gầy dựng nên thương hiệu nước mắm Hoàng Hương và trở thành người giàu có trong giới hàm hộ thời ấy. Nhưng bà Tỵ cũng nổi tiếng là người kỹ tính. Mặc dù là con dâu trong nhà nhưng với trách nhiệm là con dâu trưởng, bà Tỵ bắt Năm Quyễn phải thức dậy từ đầu canh năm để chuẩn bị cho ngày mới, trước khi những người công nhân đầu tiên đến làm việc, và đi ngủ khi tất cả mọi người trong nhà đều đã ngủ. Bất kỳ một hành động nào của Năm Quyễn đều được bà Tỵ để ý và uốn nắn, nhắc nhở nếu làm không đúng theo ý bà. Nhiều người ác miệng nói cô Năm ham làm dâu nhà giàu làm chi để rồi phải khổ như vậy. Cũng có người tỏ ý khinh thường Năm Quyễn xuất thân là người nhà quê chứ không phải là người trí thức, thành thị như họ. Đã không biết bao nhiêu lần Năm Quyễn về nhà khóc với mẹ và than thở với các em về cuộc sống làm dâu khổ cực của mình. Những lần như thế, được mẹ động viên, an ủi đã làm động lực cho Năm Quyễn cố gắng làm tròn trách nhiệm là con dâu trưởng trong sự hướng dẫn và dìu dắt của mẹ chồng.
Gầy dựng cơ nghiệp nhà chồng.
Từ những năm 1942, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước bắt đầu có nhiều bất ổn, nạn đói xuất hiện từ cuối năm 1944. Lụt lớn, làm vỡ đê ở 9 tỉnh Bắc Bộ, tiếp theo đó là hạn hán kéo dài trên khắp cả nước làm cho hơn một nửa diện tích ruộng đất không thể cày cấy được. Tình hình càng khó khăn thêm khi Nhật đảo chính Pháp vào tháng 3 năm 1945. Bộ máy chính quyền của Pháp nhanh chóng tan rã. Chiến tranh bắt đầu nổ ra triền miên. Tại Phan Thiết, các hoạt động thương mại không còn. Những hàm hộ nước mắm đều phải giảm quy mô sản xuất hoặc đóng cửa vì không có thị trường tiêu thụ. Nước mắm làm ra chỉ bán trong tỉnh với giá rẻ mạt vì không thể chở đi xa. Cũng như các cơ sở khác, hãng nước mắm Hoàng Hương khi ấy chỉ còn 5 thùng cá làm mắm để ăn và bán lẻ.
Năm 1948 bà Trần Thị Tỵ mất. Người con trai trưởng là ông Phan Văn Sanh nhận thừa kế gia sản của mẹ để lại. Khi phong trào kháng chiến chống Pháp bùng nổ, cũng như nhiều thanh niên cấp tiến thời đó, ông Phan Văn Sanh đã tham gia Việt Minh, và đi về vùng kháng chiến ở Quảng Nam trong suốt 9 năm để lại cơ ngơi gần như không còn gì ngoài ngôi nhà tự, mái lều trống hoắc và đàn con thơ 6 đứa cho vợ là bà Năm Quyễn quản lý.
Một mình với đàn con thơ cùng với mái nhà của mẹ chồng, bà Năm Quyễn đã một mình chèo chống gầy dựng lại cơ sở làm ăn. Mặc dù xuất thân từ nông thôn nhưng nhờ những năm tháng cực khổ sống cùng mẹ chồng, học được những bí quyết của nghề làm nước mắm cùng với sự thông minh và cần cù của mình, chỉ một thời gian không lâu sau đó bà Năm Quyễn đã đưa thương hiệu nước mắm Hoàng Hương là một trong những thương hiệu nước mắm Phan Thiết đầu tiên xuất hiện trở lại thị trường sau những năm tháng chiến tranh.
Từ năm 1954, khi tình hình kinh tế miền Nam bắt đầu ổn định trở lại thì cũng là lúc thương hiệu nước mắm Hoàng Hương phát triển mạnh nhất.
Lúc đầu Hoàng Hương muối cá mòi và sản xuất dầu cá mòi. Về sau, ngư trường không còn nhiều cá mòi nữa nên Hoàng Hương chuyển sang muối cá cơm rất giàu hương vị. Nước mắm Hoàng Hương làm đủ chất, cá muối trên 6 tháng nên được người tiêu dùng ưa thích. Thời đó, nước mắm Kiết Thành chiếm lĩnh thị trường Saigon - Chợ Lớn và các tỉnh miền Tây do chế biến nước mắm có vị mặn ít. Còn ở miền Đông, nước mắm Hoàng Hương của bà Năm Quyễn đã thống lĩnh các vùng Tây Ninh, Trảng Bàng, Sông Bé, Bình Long, Bình Phước, .... do nước mắm của hãng Hoàng Hương có vị mặn và độ đạm cao, đựng trong tỉn sành, càng chôn lâu dưới đất ăn càng thơm ngon nên những người nông dân làm rẫy, làm vườn rất thích.
Từ 5 thùng cá sau chiến tranh, đến năm 1956 hãng nước mắm Hoàng Hương đã phát triển lên 15 que, một con số mà chỉ một vài hãng nước mắm ở Phan Thiết đạt được.
Vào mùa cá, bà Năm Quyễn, mà sau này gọi theo tên chồng là bà Cửu Sanh, đã mua và muối cá cả ngày lẫn đêm để giải phóng thuyền chài nhanh kịp ra khơi đánh cá chuyến tiếp. Bà Cửu Sanh nổi tiếng là người sống có tình có nghĩa với dân chài. Những gia đình khó khăn, bệnh tật, ghe thuyền hư hỏng, dân chài tìm đến bà đều được bà giúp đỡ tiền bạc.
Sản xuất muối quy mô lớn.
Để làm ra nước mắm Phan Thiết thơm ngon, ngoài chất lượng cá, kỹ thuật làm chế biến, thì muối biển là nguyên liệu cực kỳ quan trọng. Điều đặc biệt khác với các hãng nước mắm Phan Thiết khác, bà Cửu Sanh đã nghĩ ra việc sản xuất muối tập trung để chủ động nguyên liệu sản xuất, nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản xuất chứ không lệ thuộc vào nguồn cung cấp của diêm dân vốn manh mún, nhỏ lẻ và bấp bênh.
Đồng muối của bà Cửu Sanh thời đó ở khu vực Sở Muối - chùa Vạn Thiện ( nay là khu dân cư mới Hùng Vương, Bắc Xuân An ) lên đến 50 héc ta. Ngoài cung cấp muối cho 15 que sản xuất của mình, bà Cửu Sanh còn cung cấp muối nguyên liệu cho hầu hết các hãng và các cơ sở sản xuất nước mắm của các hàm hộ ở Phan Thiết.
Gia tộc đáng tự hào.
Mặc dù là một hàm hộ nước mắm lớn ở Phan Thiết nhưng bà Cửu Sanh có 4 người anh em ruột tham gia kháng chiến chống Pháp - Mỹ, tập kết ra Bắc và đảm nhận những trọng trách quan trọng trong quân đội nhân dân Việt Nam mà ít ai ngờ tới. Anh ruột của của bà là ông Ba Đờn ( Vũ Thanh Tùng ) là ủy viên Ủy ban hành chánh kháng chiến tỉnh Bình Thuận. Em trai kế là ông Sáu Kèn, tức thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm là tư lệnh binh chủng thiết giáp - pháo binh và phó tư lệnh quân khu Trị Thiên. Người em gái là bà Nguyễn Thị Sạng ( vợ nhạc sĩ Huy Sô ) là ủy viên thường vụ Phụ nữ tỉnh Bình Thuận trong kháng chiến. Người em út Nguyễn Sơn là Phó ban tuyên huấn thành ủy TPHCM.
Người em chồng của bà Cửu Sanh cũng là y tá liệt sĩ, hy sinh trong trận Xóm Mía ở Hàm Thuận.
Vợ chồng ông bà Cửu Sanh có 9 người con đều học hành đổ đạt, trong đó có 3 người con du học ở nước ngoài. Sau năm 1975 các con của bà đều ra nước ngoài sinh sống.
Bà Cữu Sanh mất năm 1979, tức 2 năm sau ngày chồng bà là ông Phan Văn Sanh mất, thọ 64 tuổi. Di sản của ông bà Cửu Sanh được để lại cho con trai trưởng của ông bà là ông Phan Văn Mãi thừa kế và gìn giữ. Hiện nay ngôi nhà ở số 112 Trưng Trắc là ngôi nhà cổ xưa trên 100 năm tuổi đang được người thân của ông Mãi làm nhà phát cơm chay từ thiện. Các con cháu của ông Mãi cũng đang có kế hoạch tôn tạo, phục dựng lại ngôi nhà cổ của tổ tiên.
Vỹ thanh
Cả một đời tần tảo lo cho chồng con, gầy dựng phát triển thương hiệu nước mắm Hoàng Hương nổi tiếng khắp cả nước, đóng góp người và của cho hòa bình của đất nước, cuộc đời và sự nghiệp của bà Cửu Sanh thật đáng để mọi người khâm phục và quý trọng.
Lê Huân
Chú thích ảnh:
1. Bà Nguyễn Thị Quyễn.
2. Con trai trưởng Phan văn Mãi và em trai kế, thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm bên mộ bà Nguyễn thị Quyễn năm 1980
3. Đám tang bà Nguyễn Thị Quyễn năm 1979
4. Bà Nguyễn Thị Quyễn ở ruộng muối Vạn Thiện
5. Ông bà Phan văn Sanh và các con lớn
6.7 Ngôi nhà cổ trên 100 năm tuổi là hãng nước mắm Hoàng Hương.
8.9. Nhãn hiệu nước mắm Hoàng Hương xưa.








“HẢI NGUYỆT”, VUI BUỒN CÙNG TRĂNG BIỂN - Nguyễn Thị Minh Ngọc

Buổi khởi công ở Ðá Ông Ðịa tôi có đốt nhang mong được siêu thoát, những người đi không đến ấy. Mà thật ra thì chúng tôi cũng đã đến nơi đâu? Bến bờ còn xa. Chẳng được như Hàn Mặc Tử chơi giữa mùa trăng, chúng tôi còn đang bơi ngợp giữa biển đời,......bơi cũng là chơi, cũng là quay và cũng là sống. Như Hải Nguyệt thôi, và cái nghề làm nước mắm truyền thống của gia đình, làng mạc cô... Cô gái ấy cũng đang phải bơi, và sống...
Bài đăng tạp chí Điện Ảnh VN số Xuân 1997.Ông Nhàn, nhắc ở đây là nhà quay phim Trần Trung Nhàn, thân phụ của nàng Trần Thị Bích Ngọc. còn ông Luyện là đạo diễn Nguyễn Hữu Luyện, anh của hai anh Nguyễn Hữu Tuấn & Nguyễn Hữu Bảo. Cả hai vị Nhàn và Luyện đều đã mất.
(photo N năm 1971 cạnh sông Mường Mán, PT by nhiếp ảnh gia Ngô Đình Cường)
“HẢI NGUYỆT”, VUI BUỒN CÙNG TRĂNG BIỂN
một 

Khi đặt cho cô gái ấy tên này, tôi có liên tưởng phần nào đến “Chơi giữa mùa trăng” của Hàn Mặc Tử. Nhà thơ ấy đã có những lúc vụt thoáng qua Phan Thiết, nơi tôi đã được sống qua ròng rã tám năm. Lúc chuyển sang phim, anh Ngụy Ngữ biên tập - là người cũng đã có một thời ở Phan Thiết - đã đề nghị chuyển thành “Tên tôi là Hải Nguyệt”... Khi Cục Ðiện Ảnh vào Sàigòn mở trại viết, người đầu tiên gợi ý tôi chuyển thể truyện này lại là đạo diễn Lê văn Duy. Anh nói một câu xanh dờn: “Chuyển thử đi, anh thấy con nhỏ Hải Nguyệt đó giống em!”
Ôi! Tôi chỉ mong mình được giống cô bé ấy thôi. Vì không như nhiều truyện khác của tôi, truyện “Hải Nguyệt” vẽ ra một cô gái không có tình yêu, cô gầy cho được cái nghề truyền thống đã làm vang danh quê hương cô một thời gian, rồi cô bỏ đi. Ðến độ một người đàn ông đã nhắc cô: “Ðàn ông thì sống vì công việc, còn cô, cô vẫn là người nữ nên cô phải có người yêu...”. Khi chuyển sang truyện phim, tôi phải vẽ thêm hai nhân vật cho trọn một cuộc tình tay ba: Phi, bạn trai thuở ấu thời và Nục, người chị em cùng cha khác mẹ với cô.
hai
Ðể kịp giao kịch bản, cuối năm 1995, tôi lên xứ núi viết về trăng biển. Ban ngày tôi đi theo ông Nhàn, ông Luyện đóng loáng thoáng vai Thu Ba trong “Mùa hoa cúc quỳ” và đi ... chơi, đêm chong đèn trong một trại lính hẻo lánh, viết suốt mùa đông lạnh lẽo ở Pleiku. Hơn một năm sau, nghe nói kịch bản đó đã được Nhà Nước đồng ý cấp kinh phí cho quay. Ðạo diễn thì nghe Hãng Giải Phóng lúc tính anh A, lúc tính anh B... Giám Ðốc Thanh Hùng định mời đạo diễn Trần Mỹ Hà làm phim khác. Chẳng ngờ giờ cuối, phim đó trục trặc. Tôi cho là “Hải Nguyệt” quá may mắn khi được là phim truyện nhựa đầu tay của Trần Mỹ Hà. Quen ông đạo diễn này đã được mười lăm năm (dài bằng một kiếp “Tiền Ðường” của Kiều), tôi vẫn nghĩ mình chưa hiểu hết Mỹ Hà và... ngược lại. Nhưng tôi tin khó ai “cảm” Hải Nguyệt bằng Hà. Bởi vì ngoài việc Hà rất mê nghề, hồi làm phim truyện vidéo đã chăm chút như làm phim truyện nhựa rồi, Hà còn nhiều gắn bó với Phan Thiết. Quê nội anh ở đó. Sau 1975, anh từ Ðà Lạt về đó làm một thời gian trước khi về đài. Và hiện tại, người vợ đầu cùng con gái anh đang sống nơi đây. Tôi được sống trong giai đoạn khá kỳ thú ở Phan Thiết từ 1964 đến 1972. Còn Hà thì được lăn lóc ở đó những năm gian nan từ 1975, đến 1979 mới vào Sàigòn mà phim “Hải Nguyệt” thì mấp mé ở hai bờ sinh tử đó...

ba
Tôi có hỏi nhiều người, ít tác giả nào chịu khó đi theo trong lúc kịch bản của mình quay. Tôi đắn đo nhiều những lúc Hà đề nghị tôi đi theo đoàn trong giai đoạn chọn cảnh. Việc bên sân khấu tôi luôn bị ngập tới mũi, lại chuẩn bị đi Pháp. Cuối cùng gần như chuyến đi chọn cảnh nào cũng có mặt tôi. Cứ bỏ hết mọi chuyện mà đi với ý nghĩ dù gì “Hải Nguyệt” cũng là “con” mình. Hơn nữa, tôi vẫn “thèm” kiếm thêm tư liệu để viết một cuốn truyện dài về Phan Thiết...
Bao nhiêu cánh cửa những gia đình “hàm hộ” giàu có nức tiếng ngày xưa nay đóng xập trước mặt chúng tôi. Hoặc cũng cho vào, cho cả đám mê mẩn sẽ đặt máy đặt đèn ở đâu thì trước khi đoàn rời Phan Thiết, họ liệng giấy tới báo cho biết họ tộc đã nhóm họp và không cho phép người ngoài được chạm vào những gian nhà thờ, nhà tự đó cho dù chính quyền địa phương có can thiệp tới đâu. Một vài “đại gia” khác có những hậu duệ dễ chịu thì đạo diễn lại lấn cấn như bị “ép duyên”. Ðành phải cám ơn rồi xin lỗi, chào đi...
bốn
Khi bấm máy rồi, tôi không dám ra thường. Sẵn có việc gì, ví dụ cùng với mấy anh chị cựu học sinh Phan Bội Châu ra tặng học bỗng cho trường và về bàn với tỉnh mở một trường dân lập... thì tạt qua đoàn một chút. Thú thật, thấy anh em vác máy móc, “mồ mã”, “cẩu”, “bum” lên xuống đồi cát cực quá, mình lại mặc cảm có lỗi trong chuyện bày vẽ ra những cảnh phức tạp trong lúc dư biết rằng những đồng bồi dưỡng cho anh em thì rất chi là... bèo bọt. Ðiều mừng lớn là thấy quay phim Phạm Hoàng Nam cũng say phim ngang với Hà, thấy Hồng Ánh chửng chạc, lớn dần ra, thấy các bác Ba Xây, Mạnh Dung, các cô Ba Trà Vinh, Ánh Hoa, Anh Thư đến các cô cậu trẻ như Minh Hiền, Quang Hải, Hoài An, Hùng Phương... đều cao ngất đạo đức nghề nghiệp.
Phim quay được mười ngày thì họa sĩ thiết kế chuyển sang làm phim “Ba mùa” như đã giao ước... với Giám đốc. Rồi “hung tin” bay ra, một chuyện như đùa” là đã xước 2.000 mét phim với nhiều đại cảnh (dường như để giữ vững “truyền thống” “Phi cào xước bất thành... phim nhựa” của hãng, có điều đợt này, “truyền thống” ấy có hơi quá tay với “biển trăng”). Chủ nhiệm thì hốt hoảng nhận ra, dường như trong phim này cảnh nào cũng là cảnh khó, nên dù tỉnh có hứa sẽ phụ thêm chút đỉnh tiền bồi dưỡng cho anh em hậu cần, vẫn chưa thấy lạc quan. Trước ngày rời Phan Thiết còn được nghe in tráng làm một cú “đúp” xước thêm vài chục mét. Lại phải ở thêm để quay lại, với phong cách giữ vững từ đầu như anh em nhận xét “làm kỹ như phim... Tây nhưng vẫn bồi dưỡng khiêm tốn như phim... ta”.

năm
Cuối cùng, nội cảnh của ngôi nhà tự phải quay ở Sàigòn. Ðó là ngôi nhà mà tôi và Hà dự kiến để dành cho phim “Chùa Ðàn” nhưng đành phải nhường cho “Hải Nguyệt”. Trong ngôi nhà cổ hơn 100 năm đó, sừng sửng hình nhà văn hóa lớn Nguyễn Trãi vì đây là một chi thoát được án tru di. Tôi không biết tấm hình sẽ được Tổ-Thiết-kế-không-có-họa-sĩ đó sẽ xử lý thế nào. Lòng nơm nớp lo sau tuần lễ đoàn làm phim quần nát ở đây, không biết tôi còn dám vòng lại nhà này, học tiếp.
Ðêm quay ở quán cà-phê Thiên Hà, mấy anh em bên tổ ánh sáng kêu chị ở lại thức với anh em một đêm cho... biết. Quần chúng càu nhàu vì hẹn chín giờ quay mà đến hơn mười hai giờ mới bấm máy được. Cơ khổ là giá tiền có khá thì đã không phải đợi đến lúc hết khách mới quay. Tôi thừa cơ phỏng vấn Phạm Hoàng Nam, người mới về từ Hawaii. Nam hơi phân vân nói mình có một nguyên tắc không nói về phim đang làm nhưng với “Hải Nguyệt” thôi đành phá lệ. Rồi Nam hào hứng nói ở phim này mình được thay đổi hoàn toàn phong cách, quay một cách khách quan hơn với ánh sáng, bố cục thiên về TĨNH. Với hai phim trước, đạo diễn Lê Hoàng “thả” cho Nam làm gì cũng được, còn ở đây, Nam có cảm giác đạo diễn và quay phim quyện chặt, lẫn vào nhau (Có lẽ vì Hà xuất thân cũng là một người cầm máy cứng, đã đoạt giải quay phim vàng trong một liên hoan). Nam cẩn thận thêm chưa kết luận được cách làm nào hay hơn, nhưng hiện được làm khác mình trước đây thì đang thích lắm. Một hạnh phúc lớn nữa là Hãng Giải Phóng đã dốc ruột ra toàn máy quay và đèn mới “bóc tem”. Lần đầu tiên Nam được xử dụng khung hình 1:1,85 mã rộng theo tiêu chuẩn Mỹ. Ðây cũng là phim cực nhất với Nam vì quay đêm nhiều, đặt đèn có lúc từ sáu giờ sáng đến bảy giờ tối mới xong, lại nhiều động tác máy khó nhật...
sáu
Hồng Ánh thì lớn ra trông thấy rõ. Ánh cũng tự nhận thấy như vậy. Ánh nói hồi đọc kịch bản đã thấy khó nhưng không lường hết cái mênh mông của biển trời và người dân Bình Thuận. Có ra sống trong bầu không khí đó rồi mới thấy mình chỉ mới chạm vào da của nhân vật. Rồi ham và thích quá nên quên cả cực (chỉ cảm giác cực nhất khi nghe “tiêu” 2.000 mét phim). Sau những buổi lăn lóc với cá, mắm và thùng lều, được thấy mình như cá ngấm muối dần dần, chưa rõ thành phẩm sẽ cho ra bao nhiêu độ đạm, chỉ cố gắng sống và đóng vai bằng tất cả lòng thành, muốn hòa nhập vào một góc nào đó cái hồn của một vùng đất ven biển. Và cái vùng đất ấy, Ánh thấy, cũng rất Việt Nam...
Trần Mỹ Hà thì ít nói như bao giờ. Trước khi làm anh đã lường trước những khó khăn nhưng thực tế cho thấy khi toàn thể anh em dốc hết sức ra làm cũng vưọt qua được phần nào nỗi khó đó. Anh cho là mình may mắn vì đã gặp một tập thể hết lòng, chưa biết phim hay dở nhưng tin rằng phim sẽ LẠ. Rồi lại lừng khừng gạt đi, đang làm phim, thật sự không biết nói gì. Mà làm xong rồi sẽ càng không biết nói chi vì tự bộ phim, sẽ nói.
bảy
Có người bạn ở xa về, nghe nói làm phim về vùng biển nước mắm này, muợn kịch bản đọc xong, phán “phim ca ngợi chế độ”. Khi đọc lại truyện thì vớt “trong truyện có vẻ “hư vô chủ nghĩa” hơn”. Nhưng phim là tác phẩm của đạo diễn, tác giả bây giờ chỉ còn là cái cớ. Những phim của Hà bao giờ cũng chuẩn bị nhiều đoạn kết để cái này bất ổn còn có cái khác thay vào. Hôm đi chọn cảnh, bàn một hồi, Hà chọn cái kết lúc Nguyệt mở to mắt nhìn cô chị em cùng cha khác mẹ đang sống hạnh phúc với cậu bạn trai thuở nhỏ, lần đầu tiên trong suốt cả phim, nước mắt cô tình cờ lăn trợt xuống môi, nghe mặn khác mùi biển muối, mới hay mình đã khóc được. Lúc Hồng Ánh mới ra Mũi Né, Hà chụp quay ngay đoạn kết, Ánh cố hết sức mà nước mắt chỉ mới đoanh tròng, không bước nổi khỏi mi. Khi chiếu nháp, tôi lại muốn khóc được trước khuôn mặt không khóc được đó của Hải Nguyệt. Có lẽ vì khác với những khán giả sẽ coi, chúng tôi đã có những ký ức, tâm trạng trộn lộn buồn vui, riêng tôi bỗng nhớ đến bạn bè cũ, cũng có khát vọng sống mạnh mẽ như Hải Nguyệt nhưng không đi được đến nơi. Buổi khởi công ở Ðá Ông Ðịa tôi có đốt nhang mong được siêu thoát, những người đi không đến ấy. Mà thật ra thì chúng tôi cũng đã đến nơi đâu? Bến bờ còn xa. Chẳng được như Hàn Mặc Tử chơi giữa mùa trăng, chúng tôi còn đang bơi ngợp giữa biển đời, và trên kia đang gắt gay, mặt trời rọi xuống chứ chẳng được là trăng. Mà dù có đến hay không, dù có xước thêm vài trăm mét phim nữa, dù đã có những lúc phim phải tiến hành không họa sĩ thiết kế, không cả quay phim thì vẫn cứ phải BƠI. Bởi vì bơi cũng là chơi, cũng là quay và cũng là sống. Như Hải Nguyệt thôi, và cái nghề làm nước mắm truyền thống của gia đình, làng mạc cô... Cô gái ấy cũng đang phải bơi, và sống...

nguyễn thị minh ngọc
7/12/1997

TRĂM NĂM NƯỚC MẮM PHAN THIẾT


Không ai nhớ nước mắm Phan Thiết có từ khi nào, nhưng nhiều người biết Phan Thiết có những thương hiệu nước mắm và những hàm hộ (người sản xuất, kinh doanh nước mắm) nổi tiếng có từ thế kỷ 19 như Bát Xì, Liên Thành, Kiết Thành,… sang đến đầu thế kỷ 20 thì nghề nước mắm phát triển mạnh mẽ với những thương hiệu Hồng Hương, Mậu Xuyên, Hoàng Hương, Hồng Sanh…
Với hình ảnh chiếc ghe bầu và tỉn chứa nước mắm làm bằng sành có quai sách, nước mắm Phan Thiết đã ngược ra Bắc, xuôi vào Nam, có mặt tại Sài Gòn và khắp Nam kỳ lục tỉnh. Một số hàm hộ tại Phan Thiết đã đến Phú Quốc và Nam Vang (Campuchia) nơi có nguồn cá lớn để sản xuất nước mắm cung cấp cho thị trường địa phương. Nhiều hàm hộ nước mắm Phan Thiết cũng được chọn là nhà thầu cung cấp nước mắm cho quân đội viễn chinh Pháp toàn Đông Dương và xuất đi Pháp.
Sau năm 1975, đến cuối thập niên 80, các HTX, công ty quốc doanh sản xuất nước mắm của Phan Thiết vẫn là nhà cung cấp nước mắm lớn cho thị trường cả nước. Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ 21 trở lại đây nghề nước mắm truyền thống Phan Thiết đã mai một. Hầu hết những gia đình hàm hộ nước mắm đã bỏ nghề do không có người làm hoặc con cháu không còn thiết tha với nghề nữa.
Kỹ thuật truyền thống
Nếu chỉ nhìn bên ngoài, ai cũng tưởng làm nước mắm là một công nghệ đơn giản. Sự thật đây là một công việc phức tạp, qua nhiều công đoạn sản xuất khác nhau.
Đối với những hàm hộ sản xuất nước mắm quy mô lớn, dụng cụ quan trọng là những thùng chứa làm bằng gỗ "sao" là thứ gỗ đặc biệt rất bền, chịu nước, không rỉ, gọi chung là thùng trổ. Thùng được chia làm 3 loại khác nhau, có kích thước tùy theo công dụng như thùng chứa nước mắm có dung tích 11.000 - 14.000 lít, thùng muối cá và thùng trổ nhỏ hơn.
Công đoạn đầu tiên trong quy trình là muối cá, nước mắm Phan Thiết ngon ngoài việc do con cá và quy trình sản xuất thì còn một lý do khác la do muối. Muối được sản xuất tại Phan Thiết rất phù hợp để sản xuất nước mắm. Muối được mua từ tháng 2, 3 để dự trữ trước khi vào mùa muối cá cũng là mùa vụ đánh bắt cá ở Bình Thuận từ tháng 6 đến tháng 9 âm lịch.
Theo ông Dương Quang Thiết, chủ hãng nước mắm Hồng Sanh, nguyên chủ tịch nghiệp đoàn hàm hộ nước nắm Phan Thiết trước năm 1975 cho biết: Cá và muối được trộn theo quy trình, cứ 4 rổ cá thì trộn một rổ muối cho đến khi đầy thùng. Sau đó vài giờ thì rút lù (ống xả nhỏ gần đáy thùng) cho nước bổi (nước cá và muối) chảy vào thùng trổ và bổ sung cá và muối vào cho đầy thùng. Làm liên tục 3 ngày như vậy đến ngày thứ 4 rút hết nước bổi thì nén chặt cá xuống, rồi cho muối vào phủ kín bề mặt thùng, nhằm mục đích làm cho cá phía dưới không bị thối, sinh dòi. Sau đó múc nước bổi đổ đã rút ra trước đó đổ vào lại thùng cá và để muối trong khoảng 10 -12 tháng tùy theo loại cá.
Sau 10 - 12 tháng, lúc này cá muối đã chín, thơm, không mùi tanh thì tiến hành rút lù cho chảy ra khoảng 1 thùng trổ (thùng nhỏ). Đem nước này pha thêm muối rồi đổ lại vào thùng muối cá. Cứ rút, thêm muối, đổ lại như vậy nhiều lần cho đến khi nước cá có màu trong đạt tiêu chuẩn 10 độ đạm thì cho vào thùng chứa riêng làm nước long dự trữ.
Khi đã có nước long, lúc này mới bắt đầu sản xuất nước mắm thành phẩm bằng cách tiếp tục rút lù cho nước chảy ra rồi đổ lại vào thùng cá nhiều lần cho đến khi nước trong, đạt khoảng 18 độ đạm thì rút ra hết cho vào thùng chứa gọi là nước mắm thượng hạng. Nước mắm này nhà lều thường không bán cho người tiêu dùng mà dùng để ăn hoặc pha vào nước mắm ngang sản xuất sau này để tăng độ đạm.
Sau khi rút ra hết thì đổ nước long dự trữ vào thùng cá và cho chảy nhỉ để cho ra nước mắm nhất có từ 14 - 15 độ đạm.

Khi đã thu hồi xong nước mắm nhất, thì tiếp tục đổ nước long dự trữ vào thùng cá và cho chảy nhĩ để thu hồi nước mắm ngang tức nước mắm thông thường có 11 độ đạm. Đây là loại nước mắm được bán ngoài thị trường.
Sau khi lấy nước mắm ngang một số người còn tiếp tục sản xuất nước mắm lần 4, 5 có 10 độ đạm để bán dùng trong chế biến thức ăn. Nước mắm này nhà lều Phan Thiết gọi là nước mắm kho.

Riêng việc chế biến nước mắm nhĩ thì công phu hơn. Mắm nhĩ ở Phan Thiết thường được muối bằng loại cá chỉ sọc vàng. Cách làm thường là đem cá trộn chung với muối để trọn đêm cho thấm sau đó xây nhuyễn bỏ vào mái (lu) lớn có lù, phơi ngoài nắng chừng 2 tháng cho cá chín, thơm mới bắt đầu mở lù nhỏ, để nước mắm nhỉ từng giọt trong khạp nhỏ với mùi thơm ngát.
Ngày nay tại các cơ sở chế biến nước mắm của Phan Thiết vẫn áp dụng quy trình sản xuất như trên nhưng có một vài cải tiến thay thế sức người như thay vì dùng gàu múc thì dùng máy bơm, thùng chứa thay thế bằng thùng nhựa, muối cá trong hồ bê tông.
Ngoài ra, hiện nay đang có xu hướng một số nhà lều còn sản xuất loại nước mắm cá trộn theo tỉ lệ 3 cá 1 muối nhưng thay vì đổ theo từng lớp trong thùng để muối thì trộn trực tiếp cá và muối trên nền xi măng rồi xúc đổ vào thùng và để thời gian lâu khoảng 12 tháng sẽ cho ra nước mắm có độ mặn và độ đạm cao. Nước mắm này được bán cho các cơ sở nhỏ mua về pha loãng ra đóng chai bán ra thị thường hoặc các công ty sản xuất nước mắm công nghiệp cũng mua loại này về làm nguyên liệu chế biến.
Quản lý chất lượng.
Trước năm 1975, theo quy định của chính quyền thời đó, nước mắm trước khi bán ra thị trường phải qua kiểm nghiệm, kiểm định chất lượng. Sản phẩm nào không có giấy kiểm định sẽ bị phạt rất nặng và cấm kinh doanh. Tại Phan Thiết có phòng thí nghiệm, kiểm định chất lượng nước mắm của ông Hồ Lộng Địch (chồng bà Mộng Cầm và cũng là cựu nhân viên của Viện Pasteur Sài Gòn) rất nổi tiếng. Bà Hồ Thị Đức, con gái của ông Địch, kể với chúng tôi: Trước đây bà là người phụ cha làm xét nghiệp, kiểm định nước mắm. Những thiết bị kiểm nghiệm, phân chất đều được nhập khẩu từ nước ngoài. Tuy là phòng thí nghiệm tư nhưng hoạt động chịu sự quản lý của Viện Pasteur Sài Gòn và chính quyền địa phương. Nếu chính quyền phát hiện có sự thông đồng giữa phòng thí nghiệm và hàm hộ để phân chất có lợi cho họ thì sẽ bị tù tội và cấm hành nghề vĩnh viễn, nên kết quả kiểm nghiệm là chính xác và rất công tâm.
"Không những ở Bình Thuận, nhiều cơ sở sản xuất nước mắm ở Đà Nẵng, Nam Ô, Quãng Ngãi và Phú Quốc đều gởi mẫu ra Phan Thiết để cha tôi kiểm nghiệm và cấp giấy chứng nhận. Về sau, do nghề nước mắm tại Phan Thiết ngày càng phát triển nên xuất hiện thêm một số phòng thí nghiệm nước mắm khác, cha tôi được tín nhiệm bầu làm giám đốc các phòng thí nghiệm tại Bình Thuận" bà Đức nói thêm.
Ông Trần Công Thành, một hàm hộ nước mắm Phan Thiết nói với chúng tôi, trước năm 1975, việc kiểm nghiệm về độ đạm rất gắt gao, chỉ cần chênh lệch nhau 1 độ đạm chất thì giá bán ra có sự chênh lệch đáng kể. Thời đó nước mắm thông thường trên thị trường là nước mắm ngang 11 độ đạm, nước mắm thượng hạng cao nhất cũng chỉ 18 độ đạm nhưng rất hiếm và giá khá mắc, nhưng không hiểu sao bây giờ nước mắm thông thường toàn ghi 18, 20 thậm chí 40 độ đạm.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, từ sau năm 1975 đến nay thì công tác kiểm định và quản lý chất lượng nước mắm nhất là về độ đạm chưa được chặt chẽ như trước đây. Hầu như các cơ sở sản xuất nước mắm chỉ được yêu cầu kiểm định mẫu 1 lần khi xin chứng nhận thương hiệu, nên nước mắm hiện nay trên thị trường ghi vô tội vạ thành phần và độ đạm, cá biệt có trường hợp ghi đến 40 độ đạm nhưng thực tế khó có nước mắm nào đạt đến độ đạm cao như thế. Có không ít nước mắm hiện nay đang bán trên thị trường có độ đạm rất thấp do các cơ sở này không trực tiếp sản xuất mà mua nước mắm nguyên chất về pha loãng với nước muối và chất tạo màu nhưng lại ghi nhãn mác có 18 độ đạm.
Khi được hỏi về công tác quản lý chất lượng nước mắm hiện nay, chủ một cơ sở sản xuất nước mắm trong Khu chế biến nước mắm Phú Hài (Phan Thiết) cho biết chỉ có Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm thủy sản Bình Thuận tiến hành kiểm tra sơ sở sản xuất rồi cấp chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn A, B, C và yêu cầu gắn bảng này phía trước cơ sở chứ việc kiểm tra về độ đạm và phân chất trước khi bán ra thị trường thì chưa.
Trao đổi với chúng tôi ông Trương Quang Hiến, chủ tịch Hiệp hội nước mắm Bình Thuận cho biết ông mong muốn cơ quan chức năng cần tăng cường quản lý chất lượng nước mắm bán trên thị trường để bảo vệ cho những nhà sản xuất nước mắm truyền thống chân chính.
"Nhà nước cần có quy định rõ ràng nước mắm dưới 10 độ đạm thì không được phép gọi là nước mắm mà chỉ được gọi là nước chấm để người tiêu dùng dể nhận biết", ông Hiến kiến nghị.
Lê Huân
http://tuoitre.vn/…/chat-luong-nuoc-mam-xua-va…/1234288.html

Monday, March 25, 2019

ANH TÔI! NGUYỄN THỊ THÁI HOÀ

Sau ngày mất nước người anh còn lại bị bắt đi “cải tạo”.
Anh tôi cũng như ba tôi trước sau đều phục vụ thuộc tại tiểu đoàn 12 Pháo Binh. Tuy là sĩ quan cấp úy, nhưng không hiểu sao anh tôi lại bị đưa ra Bắc.
Đầu năm 1977 gia đình tôi mới nhận được tin và xin giấy đi thăm nuôi. Gia đình đơn chiếc, nên tôi phải thay Mẹ làm “thân cò” lặn lội ra Bắc tìm anh Hai.

Nói là đi tìm vì thực sự tôi chưa biết đích xác là anh tôi đang ở đâu? Sau tháng tư Đen, trong miền Nam cũng như ngoài Bắc nhà tù CS mọc lên như nấm dại. Có những nhà tù chúng nó dựng lên chưa kịp đặt tên thì những người Lính miền Nam “bị gảy súng” đã đầy ắp và người Tù cũng bị di chuyển liên miên.
Tuy rằng khi nhận tin thân nhân mình ở chổ này, nhưng khi ra tới nơi thì họ đã bị chuyển đi nơi khác nên mỗi khi đi thăm nuôi mà gặp ngay được người nhà của mình đúng như lời nhắn thì thật là họa hiếm..
Tôi nghe ngóng, lần mò hỏi thăm mười mấy người lối xóm và theo họ đi ra Bắc tìm thăm thân nhân. Ai cũng tay xách nách mang, trên mặt người nào cũng đầy vẻ lo âu mệt mỏi. Phương tiện di chuyển là xe lửa, xe đò nhưng rất khó khăn nên phải mất hơn mười ngày mới ra tới Hà Nội. Chưa ra tới nơi, chưa kịp gặp thân nhân thì những giỏ quà của chúng tôi bị bọn công an dọc đường tịch thu hơn phân nữa. Có người mất sạch!
Trong đoàn người đi tìm thăm thân nhân này có tôi là trẻ nhất, ốm yếu nhất . Hỏi thăm đủ nơi, đủ chổ, có khi mất thêm đôi ba ngày nữa mới tìm tới được nơi nhốt thân nhân của mình. Cũng là may mắn, một số người đi chung tìm được thân nhân của họ tôi thì tìm được nơi anh tôi bị giam giữ là một vùng đất xa tít tuốt trên Cao Bằng Lạng Sơn.
Tới nơi thì trời đã sẩm tối, đoàn người ngồi chờ trong một cái chòi tranh phía ngoài trại tù .. Đâu chừng một giờ sau, một gã công an xuất hiện. Với cái giọng Nghệ An trọ trẹ nặng như đeo đá, gã gọi từng người, trình đủ thứ giấy tờ, hạch hỏi đủ thứ chuyện, rồi đến cái màn lục xét những giỏ đồ thăm nuôi, và sau cùng mới gọi người tù ra.
Tôi sốt ruột vì ai cũng được gọi gặp thân nhân mà tên của anh tôi thì chẳng nghe . Lo âu, mệt & đói, làm hai mắt hoa lên, đầu óc nặng trỉu, hết đứng lên ngồi xuống, trong lòng như lửa đốt. Thấy những người cùng đoàn đang khóc mừng , tíu tít hỏi thăm thân nhân họ, trong lòng tôi cứ như bị kim châm.
Ngơ ngác chưa biết tìm ai để hỏi. Bổng có một gã công an đến gần tôi ra lệnh :
- Người nhà của cô bị nhốt chổ khác, xách đồ đi theo tôi...
Như có sức mạnh vô hình, tôi quên mệt. Rất nhanh, đứng dậy xách hai giỏ đồ đi theo .
Trời tối như mực. Gã công an mang súng đi trước với cái đèn pin nhỏ Quanh co một đổi quảng chừng năm mười phút cách nhà tù. Tôi hỏi: Thưa ông, gần tới chưa?
Gã không trả lời lầm lủi đi tiếp.
Thêm một đoạn nữa cũng đâu chừng năm phút gã dừng lại, tôi nghe như có tiếng nước chảy của một con suối nhỏ, một tên đứng phía dưới khoát nước lên nói: ê, đừng lại đây đi!
Có tiếng xì xào của vài tên công an nữa đang chờ sẳn ở đó. Chúng nó hỏi gã dẫn đường
Tới rồi à?
Gã công an dẫn đường ra dấu cho tôi đứng lại.
Tôi sốt ruột hỏi :
Dạ thưa ông chừng nào thì tới chổ anh tôi ở?
Chúng nó phá lên cười rồi nói:
Gấp gì, đằng nào cô cũng gặp người nhà mà, ở đây “ủng hộ” chúng tôi một tí đi... đã!
Chúng nó kéo dài chữ “đã” ra và cười hô hố...

Tôi chưa kịp phản ứng gì thì chúng đã xúm lại , giựt hai giỏ xách đồ của tôi liệng ra xa, lột áo quần, đè tôi xuống, hai thằng trong bọn chúng đứng phía trên đầu tôi, mỗi thằng một bên, dùng hai chân đạp mạnh lên hai cánh tay giang thẳng của tôi cho một thằng khác hảm hiếp.
Sau mỗi một thằng, chúng nó bắt tôi xuống con suối nhỏ đó rửa ráy, rồi leo lên cho thằng khác làm tiếp....
Giữa núi đồi hoang vu, giữa đồng mông hiu quạnh, kêu trời, trời chẳng thấu, kêu đất , đất chẳng nghe.
Với bản năng sinh tồn tôi cắn răng mềm người chịu đựng, nước mắt ứa ra nhưng không dám kêu la, không dám kháng cự mặc cho một lũ “đười ươi” sáu, bảy thằng “phóng uế” lên thân xác mình... Lòng thầm mong sao cho chóng qua tấn tuồng bỉ ổi này!
Trước khi kéo nhau đi, chúng vổ vai nhau cười ngả nghiêng, cười thỏa mãn, cười man rợ, giọng cười của lũ ác quỷ hiện hình, một tên trong bọn chúng quay lại hăm dọa:
-Liệu mà câm mồm lại nhá...
Khi chúng bỏ đi, tôi lăn mình xuống suối để rửa cho hết những vết dơ trên người. Mặc lại áo quần, mò mẩm trong bóng tối tìm lại hai giỏ đồ...
Lạnh lẻo, run rẫy, toàn thân tôi đau đớn vô cùng , hai cánh tay tôi như muốn gẩy nát, tôi không đi nổi, tôi lết từng đoạn, nhắm hướng mà lết và không biết bao lâu, khi lết tới được trại tù thì trời cũng gần sáng.
Tôi mong mặt trời lên, mong nhìn thấy được anh Hiệp của tôi mong trao được giỏ quà và để theo kịp đoàn người thăm tù trở về Nam.
Vậy mà chờ cũng gần tới trưa chúng nó mới cho gọi anh Hiệp ra.
Bằng cái giọng rất đểu cáng, một tên công an vờ vịt nạt nộ tôi:
- Đi đâu cả đêm qua bây giờ mới mò tới? Hết giờ thăm nuôi rồi biết chửa?!
Rồi chúng nó bảo là đã qua giờ thăm nuôi, nên tôi chỉ được đứng bên ngoài hàng rào kẻm gai 15 phút và được gởi giỏ đồ ăn lại.
Có gã công an dẫn đường đêm qua đứng gần đó , hai con mắt cú vọ của nó gờm gờm nhìn tôi..
Dù tôi không được nói ra được nhưng nhìn thần sắc thiểu não, nhìn bộ đồ nhầu nát lấm sình đất chưa kịp khô trên người tôi, anh Hiệp cũng đoán được chuyện gì đã xẩy ra cho em gái mình.
Tôi biết đêm qua, khi tấm thân của tôi bị vùi dập bởi loài quỉ đỏ thì lòng dạ anh Hiệp cũng nôn nóng từng giây chờ gặp tôi. Anh Hiệp nhìn tôi, hai mắt đỏ rực, những tia máu trong mắt anh như muốn nổ tung. Anh cắn chặt vành môi . Tay đấm
mạnh vào ngực, rồi nghiến răng, hai con mắt như tóe lửa quay qua nhìn tên công an.
Hai chữ " trời ơi" của anh không thoát ra khỏi cổ họng, mà sao tôi nghe rõ mồn một, như xoáy vào tim óc tôi, nghe như tiếng rên siết của trái tim anh.
Tôi biết anh Hiệp đau khổ đến cùng độ. Anh nhìn tôi với anh mắt đau đớn, thương xót đứa em gái bất hạnh khốn khổ của mình.
Hai anh em chỉ cách nhau có một hàng rào kẻm gai, mà sao như cách xa ngàn dậm không sao vói tới. Một tay anh bấu vào hàng rào kẻm gai đến chảy máu, tay khác cố thò ra ngoài tỏ dấu muốn nắm lấy tay tôi. Đầu anh gục xuống sát hàng dây kẻm gai miệng thì cứ rên siết có một câu : Ti ơi, Ti ơi ...
Tôi không nói được gì hết, chỉ nhìn anh mà khóc.Tiếng khóc uất nghẹn của tôi như một lời xác nhận khiến anh Hiệp càng đau, càng điên thêm. Rồi thì anh té nhào xuống, ngất đi. Bạn Tù khiêng anh vào trong . Tôi đứng chết trân nhìn theo, khóc nghẹn, tôi thấy máu trong lòng bàn tay anh tươm ra. Trời hởi, trời ơi
Bọn công an đuổi tôi về. Tôi không muốn về. Tôi kêu gào, tôi van xin chúng cho tôi được ở lại với anh tôi.
Những người đi chung trong đoàn, thấy hoàn cảnh thê lương của tôi, họ thương hại, họ dỗ dành, an ủi, họ bảo nhau cố nán lại chờ tôi về cùng. Họ xúm lại dìu tôi đi.
Tôi đành phải theo họ ra về mang theo tủi hờn và nét mặt đau đớn của anh Hiệp...
Đó là lần gặp gở sau cùng của anh em tôi.
Trở về nhà, tôi sống trong những ngày tháng đau đớn trên thân xác.. Kinh hoàng trong tâm tưởng. Âm thầm đau khổ. Không dám than thở với ai, kể cả người mẹ thân yêu của mình.
Trời hởi, trong đoàn người cùng đi thăm chồng, thăm cha, thăm anh em của họ, tại sao chỉ có mình tôi trở thành nạn nhân của loài quỉ đỏ? Tại sao lại là tôi? Tại sao lại là tôi chứ? Tại sao tôi phải nhận chịu tai họa ghê tởm đó?
Có ai hiểu thấu tâm trạng của một người đàn bà trẻ yếu đuối sa cơ thất thế, khi rơi vào tay những tên công an độc ác!
Nhưng trong muôn ngàn cay đắng, tôi thầm tạ ơn Trời Đất, vì đã không có một giọt máu nào của loài quỉ dữ thành hình trong tôi. Tôi chỉ biết lấy đó làm điều an ủi...
Và rồi mỗi lần đến kỳ thăm nuôi, trong lòng tôi cứ đắn đo, lo lắng, suy nghĩ. Những đôi mắt cú vọ của những tên công an khốn kiếp, cái cảm giác kinh hoàng cứ lẩn khuất trong tâm tưởng không thôi... Nhưng mà trời hởi, tôi không thể không đi, bởi hình ảnh ghẻ lở ốm đói của những người tù mà tôi được nhìn thấy làm tôi chạnh lòng , tôi đau xót, nghĩ rằng biết đâu anh của mình cũng sẽ như thế nên tôi không nở, nên lại tất tả ngược xuôi mua sắm và chuẩn bị cho lần ra đi tới... Tôi không thể ích kỹ,tôi nhớ tới anh Lộc anh Kính, hai người anh tôi đã chết cho tôi được sống trong tết Mậu Thân 68.
Hai tháng sau cái đêm khốn nạn đó, tôi ra thăm lần nữa thì mới hay anh Hiệp đã bị bắn chết ngay tại hàng rào sau trại chỉ vài hôm sau khi tôi ra về. Về sau bạn tù của anh kể lại : Khi tôi ra về rồi, một lúc sau thì anh Hiệp tỉnh lại. Lầm lì mấy ngày không nói. Trong một buổi "học tập chính trị" anh tôi đã không giữ được bình tỉnh, chửi bới công an khốn kiếp, lợi dụng, hiếp dâm thân nhân của tù cải tạo, thì ngay tối hôm đó anh tôi bị lôi ra khỏi chổ nằm. Không ai biết anh Hiệp bị đưa đi đâu. Đang đêm họ nghe hàng loạt tiếng súng. Họ đoán trước được số phận của anh tôi.
Sáng sớm hôm sau, trước giờ "lao động" Bạn Tù thấy xác anh Hiệp nát bấy bên cạnh hàng rào sau lưng trại tù. Chúng phao tin là anh âm mưu trốn trại nên bị bắn hạ.
Họ được lệnh bó chiếu chôn cất anh...
Vô tình và oái oăm, Bạn Tù chôn anh ngay trên phần đất mà tôi bị hảm hiếp hai tháng trước.
“Anh Hiệp ơi, Anh Hiệp ơi...”
Bạn Tù của anh để mặc tôi kêu gào, rủ rượi bên nấm mồ mới đắp sơ sài của anh. Trước mặt mấy tên công an, họ không dám nói lời an ủi tôi, họ không dám khóc anh.
Hơn một tuần lễ ở lại trong buôn làng của người Nùng , sau mọi thủ tục tiền và vàng lo lót, chúng chịu để yên cho tôi mướn người đào mộ lên, mướn họ đem xác anh tôi đi thiêu .
Có lẽ vì có tính toán trước dùm tôi , nên Bạn Tù chôn anh rất cạn.
Khi thấy xác anh Hiệp được cất lên, tôi có cảm tưởng như anh tôi bị chôn sống như những người trong gia tộc hồi tết Mậu Thân.
Thêm một lần phải chứng kiến cái cảnh nát lòng này.
Trời hởi, những cái chết đau thương vẫn không buông tha những người ruột thịt thân yêu của tôi!
Đêm hôm đó, giữa núi rừng lạnh lẻo, cô đơn ngồi nhìn đống lửa thiêu rụi thi thể anh tôi. Đống lửa cao ngất trời. Lửa hỏa ngục ở trần gian. Lửa thiêu đốt thân xác người anh thân yêu của tôi. Lửa đang đốt cháy trái tim tôi.
Tôi thấy nét mặt anh tôi ẩn hiện trong ngọn lửa.. Nét mặt rạng rở của tuổi thanh niên. Nét mặt sạm nắng của thời lao vào bom đạn. Dáng dấp anh trong bộ đồ lính trận, giọng nói ồ ề mỗi lần về phép. Từ đầu thềm nhà đã lên tiếng gọi : Ti ơi, anh về nè
Anh Hiệp ơi, sao không là Mẹ, là Ba, là ông bà Nội , không là ai khác, mà gọi con Ti đầu tiên?
Trước khi bị bắn gục anh cũng gọi “Ti ơi” có phải không?
Trời ơi, cho tới bây giờ, tôi vẫn không thể nào quên được đôi mắt đỏ ngầu của anh tôi, vẫn không quên được cái âm thanh thê thiết của bốn chữ " Trời ơi, Ti ơi". Cho tới bây giờ tôi vẫn nghe rỏ, rỏ lắm.
Nhưng mà tiếng tôi gọi “Trời ơi, anh Hiệp ơi” thì không ai nghe thấy hết...
Cho đến bây giờ tôi vẫn không thể nào quên được nét mặt đau đớn tột cùng của anh tôi khi biết đứa em gái nhỏ bé của mình bị hảm hiếp....
*** Khi viết lại những dòng chữ này, tôi thương, tôi nhớ vô cùng những người anh thân yêu của tôi. Những người anh cùng chung huyết thống. Những người anh bất hạnh, vắn số của tôi đã chết cho tôi được sống..
Anh tôi bị bắn chết đau đớn, chết không kịp trối trăn chỉ vì lên tiếng phản đối những tên công an quỉ dữ đội lốt người , đã hảm hiếp em gái mình.
Từ Cao Bằng Lạng Sơn, mang tro cốt của anh Hiệp trở lại Huế. Tôi định gởi anh lại trong phần đất hương hỏa của Gia Tộc ở Phủ Cam, để cho anh nằm chung với những người anh khác. Sẽ về Long Khánh nói dối mẹ rằng Anh Hiệp vẫn còn sống. Nhưng không ngờ trên sân ga Huế, lũ công an mọi rợ xét giỏ xách của tôi, chúng đổ tung hai trái bầu khô mà người Nùng cho tôi để đựng tro cốt của Anh Hiệp xuống đất chỉ vì nghi tôi dấu vàng trong đó. Tìm không thấy vàng, chúng nó đá hai trái bầu khô văng xuống đường rầy xe lửa rồi bỏ đi..
Tôi quì, tôi bò xuống thềm ga mong hốt lại được phần nào tro cốt của anh tôi. Nhưng mà xác anh bay trong gió. Xác anh bị lôi theo bước chân của những người qua lại, vô tình.
“Anh Hiệp ơi, đừng đi. Đứng lại đi anh Hiệp...”
Tôi khóc, tôi kêu xin anh tôi.
Nước mắt tôi rơi theo mớ xương tro cốt tung tóe khắp nơi Xác anh lẫn trong tóc, bám trên khuôn mặt đầy nước mắt của tôi. Trong lòng hai bàn tay của tôi chỉ còn được một ít thôi...
Trời hởi, cũng trên sân ga này, tôi đã từng ôm xác của Linh, đứa em khờ dại của tôi. Chỉ chưa đầy một năm sau, tôi lại ôm mớ hài cốt không trọn vẹn của anh Hiệp với một trái tim tan nát…
Bao nhiêu năm tháng qua rồi, nước mắt không bao giờ rửa sạch những nỗi đau trong lòng vì cái chết đau thương của anh Hiệp. Người anh đau khổ, người anh yêu dấu, người anh rất tội nghiệp của tôi.
***Năm năm trời ngược xuôi trên nhiều nẻo đường từ Nam ra Bắc vì thương cha già và những người anh sa cơ thất thế lọt vào tay quỉ dữ, tôi cố gắng làm tròn bổn phận của một đứa con, của một đứa em, mặc dù thân xác tôi chịu nhiều đắng cay tủi nhục. Đau đớn lắm, nhưng tôi không cho phép mình ngã quỵ khi những người thân yêu của tôi đang cần tôi.
Mỗi lần nhìn người mẹ có quá nhiều đau khổ, tôi không dám mở lời, tôi đành câm nín. Tôi tự nhủ phải đứng vững vì mẹ. Tôi không nỡ đễ mẹ bị đọa đày thêm trong nỗi đau khi biết dứa con gái độc nhất mà bà thương yêu trân quí phải hứng chịu những oan khiên khốn khổ...
Giờ đây,tôi tin là các anh của tôi luôn phù hộ cho tôi, đứa em gái bất hạnh, lắm nổi truân chuyên của họ nên tôi mới vượt qua mọi thăng trầm, mọi nổi gian nan mà sống cho đến ngày hôm nay...
Thực tình, tôi không muốn khơi lại những vết đau cũ. Một đoạn đời hơn 35 năm sau ngày mất Nước, không đủ làm tôi nguôi ngoai, những vết đau vẫn còn mưng mủ, vẫn còn làm tâm trí tôi nhức nhối không thôi.
Với tôi, hình ảnh những người thân yêu có thể để ngủ yên trong tâm trí. Nhưng những hành động bỉ ổi man rợ của bè lũ CS& tay sai thì không thể tha thứ và không được quên !
Gia đình tôi, bản thân tôi chỉ là một trong muôn vạn những gia đình nạn nhân khác, nhưng khi viết lại những câu
chuyện đau thương của chính mình, & gia đình tôi như một lời tâm sự, nhắc nhở, tôi mong nó được xem như một lời cảnh báo cho những thế hệ sau tôi về chế độ phi nhân phi nghĩa của CS mà hơn 40 năm trước đã có những lớp người trẻ cùng trang lứa tôi, các anh tôi, vì mù quáng, vì non dại vô tình bị gạt gẩm đã chạy theo chúng ...

Tôi muốn tát vào mặt những người ăn cơm Quốc Gia thờ ma CS. Những người bán rẻ lương tâm mình cho Ác Quỷ . Bởi vì tôi thấy những đau khổ, oan khiên trong quá khứ của tôi vẩn còn dính chặt trên khuôn mặt hắc ám của bè lủ tác tạo ra nó.
Còn một điều khốn nạn nữa là ra tới hải ngoại này mà phải hít thở cùng một bầu không khí với những kẻ cơ hội chủ nghĩa, đón gió trở cờ, phải nhìn thấy những khuôn mặt bẩn thĩu của những người tự xưng là trí thức háo danh , tham lợi, biết CS là độc ác, vô luân mà vẫn chạy theo chúng, làm ngơ trước đau khổ của đồng loại...


Tôi đã trải qua mọi đọa đày, khổ ải, hiểm nguy, thiệt thòi, mất mát từ thể chất tới tinh thần.
Lớn lên trong chiến tranh nên sợ hải bao phủ trọn không gian ,thời gian của tuổi thơ. Mới chín, mười tuổi đầu, tai đã sớm nghe những lời rên siết, than van của ông bà, cha mẹ, đã dược dạy phải tránh né người này, phải xa lánh người kia, mà chẳng hiểu tại sao? Mắt đã sớm nhìn thấy những
xác người cháy đen sau mổi lần xóm làng bị đạn pháo kích mà không hiểu từ đâu? Trái tim non nớt của tôi biết đau rất sớm mà không biết vì nguyên nhân nào? Tâm trí đặc quánh những sợ hải. Đầu óc đã biết phân vân tự hỏi, tại sao người ta lại giết nhau. Không ai giải thích cho trẻ con những việc làm của người lớn!
Tuổi thơ của tôi có rất nhiều đêm thảng thốt, giật mình khi nghe tiếng đại bác vọng về.Tuổi thơ của tôi là giữa đêm khuya ngơ ngác khi bị lôi tuột xuống giường đẩy vào hầm trú ẩn..Tuổi thơ của tôi đã nhìn thấy những chiếc quan tài phủ cờ chở về trong xóm…
Tuổi thanh xuân của tôi gắn liền với hình ảnh những thi thể không trọn vẹn được lôi lên từ những mồ chôn tập thể của tết Mậu Thân. Phải nhìn thấy những xác người bê bết máu, xác trẻ thơ vô tội, xác người sình thúi, lúc nhúc những ruồi bọ trên những con đường mà thường ngày mình đến trường.
Những giấc mơ trong tưổi thanh xuân của tôi là những đôi mắt mở trừng, những con mắt oán hờn, trách móc, của
những người anh bị bắn chết trong nhà của ông bà nội...
Tuổi thanh xuân của tôi đặc kín những lo âu, buồn phiền, sợ hải, nghi ngờ…
Tôi đã sống như con ốc thu mình trong vỏ. Dè dặt với mọi người. Không dám đối diện những người bạn của các anh mình. Những người cùng lớp cùng trường, ăn cùng mâm, ngủ cùng chiếu. Mới hôm qua là bạn , nay là thù, đứng về phía bên kia hàng ngủ của lủ Quỉ Đỏ, quay lại cầm súng sát hại những người anh thân yêu ruột thịt của mình...
Cái chết là lẽ đương nhiên của con người, vì đâu có ai sống hoài.Thân xác nào rồi cũng phải nằm ngay ngắn trong qua tài, dưới ba tấc đất, nhưng nào ai muốn trở thành những thân xác co quắp, không toàn hình hài, bị vùi chung nhau một hầm!
Chỉ có bọn CS ác độc vô luân mới hành xử như thế với đồng loại của mình...
Tâm trí tôi đau đớn theo từng cái chết đau thương của từng người thân trong gia đình. Thân xác tôi là cái giá phải trả để đổi lấy giỏ quà thăm nuôi, từng viên thuốc, cho những người thân yêu trong gia đình đang mang thân tù tội.
Người dù đã chết trong đau đớn tủi nhục, bây giờ thân xác họ cũng đã thoát ra khỏi cảnh đời ô trọc này rồi. Nhưng người còn sống, không sao tự giải thoát mình khỏi những vết thương đã quá ăn sâu trong da thịt, trong tâm hồn… . Nhắc lại chuyện đã qua chỉ thêm đau lòng. Nhưng mà khổ nổi, tôi không thể nguôi ngoai!
Brisbane 
Thái Hòa 

Wednesday, March 20, 2019

Amazing Vintage Photos of NYC!

 Amazing Vintage Photos of NYC! 

These beautiful and educational late 19th and early 20th century photos of New York city were released recently by the NYC municipal archives, along with an astounding 800,000 others. These, however, represent the most beautiful, enriching and interesting photos of the entire number, showing New York at its best - old school.

 Sunlight floods in through windows in the main room
of New York City's Grand Central Terminal. Taken ca. 1935-1941.

Aerial view of New York City, looking north,
on December 16, 1951.
alt

28th Street Looking east from
Second Avenue, on April 4, 1931.
alt

Meeker Avenue Bridge under construction,
looking south, showing Brooklyn, on June 29, 1939.
alt

Shadows are cast beneath the Brooklyn Bridge,
seen from a stable roof, on May 6, 1918.
alt

A worker on the Brooklyn Bridge,
on November 19, 1928.
alt

Markus Mercury Wheel Club, Flushing Race Track,
bicyclists ready to race in June of 1894.
alt

Original City Hall subway station,
IRT Lexington Avenue Line, in 1904. 
alt

Coney Island looking east from Steeplechase Pier
showing Sunday bathers, crowd on beach, on July 30, 1922. 
alt

A two-horse team street cleaner, with sprayer,
squeegee, and roller at rear.
alt

An experimental exposure made on the Queensboro Bridge,
on February 9, 1910.
alt

Italian vegetable sidewalk stand, on Bleeker Street,
near Church of Our Lady of Pompeii, in August of 1937.
alt

Lower Manhattan skyline at night, seen from either the
Staten Island Ferry or Governor's Island, in February of 1938. 
alt

Hayden Planetarium, American Museum of Natural History,
West 81st St, between Columbus Avenue and Central Park West.
alt

Red Hook Swimming Pool, Clinton, Bay & Henry Streets,
Brooklyn. Bathers as far as the eye can see.
alt
Queensboro Bridge under construction, on August 8, 1907.
alt

The Queensboro Bridge, showing reconstruction of tracks looking east,
on November 22, 1929.
alt

A one-legged newspaper boy and other "newsies",
on Delancey Street, on December 26, 1906.
alt

New York Police Department evidence photo, homicide scene.
Joseph Kellner, 404 East 54th Street, murdered in hallway, on January 7, 1916.
alt

Powell House at 195th Street and 58th
Avenue North, Queens, on May 20, 1941 
alt

Times Square theaters by day, in New York City.
The Times Building, Loew's Theatre, Hotel Astor,
Gaiety Theatre and other landmarks are featured in this January, 1938 photo.
alt

An aerial view of the Statue of Liberty
in the New York Harbor, on January 27, 1965. 
alt

A view from the Williamsburg Bridge, looking west,
showing congested traffic in Manhattan, on January 29, 1923.
alt


Painters suspended on cables of the
Brooklyn Bridge, on October 7, 1914 
alt


A Hooverville in Brooklyn, ca. 1930-1932.
 The area is now Red Hook Park in Brooklyn. 
alt


A Subway Road Comes up for air in Brooklyn
- in the background, a view of Manhattan from
subway elevated tracks, 8th Street,
Brooklyn, New York, on March 21, 1938.
alt

Yankee Stadium, Yankees on the field during a game, ca. 1935-1947.
alt

A man reads a newspaper on New York's
6th Ave. and 40th St, with the headline:
"Nazi Army Now 75 Miles From Paris", on May 18, 1940.
alt

Men cut ice from Kissena Lake in Queens, ca. 1860-1900.
alt

 
New York Fire Department demonstration of a
steam pumper converted from horse-drawn to motor-driven,
at 12th Avenue and 56th Street.
alt

 
Children and adults with herd of sheep in the
Sheep Meadow in Central Park, New York City, ca. 1900-1910.
alt

Part of the superstructure of the under construction
Manhattan Bridge rises above Washington Street
in New York, on June 5, 1908.
alt

Manhattan Bridge, under-construction,
seen from the roof of Robert Gair Building,
showing suspenders and saddles, on February 11, 1909.
alt

Aboard a police boat on October 10, 1934,
New York Mayor Fiorello LaGuardia hacks away
at confiscated slot machines about to be destroyed
and dumped into New York harbor. 
alt

A view down an alley, as rows and rows of laundry hang from tenements ca. 1935-1941. Seen looking west from 70 Columbus Avenue or Amsterdam Avenue at 63rd Street.
alt

A crowded street market under New York City Rail Road tracks,
looking south on Park Avenue from 123rd Street in June of 1932.
alt


A night view of Midtown Manhattan,
looking south from Madison Avenue
and the 50's, ca. 1935-1941.
alt

Amid road construction, the Hudson Diner advertises
"Tables for Ladies" on November 20, 1929,
on Marginal Street, looking east from 125th Street.
  alt

Ninth Avenue El trains with passengers on 2 levels of tracks,
66th Street El station in background, in October of 1933.
Photo taken on Columbus Avenue,
northwest of Lincoln Square & 65th Street.
alt

The S.S. Normandie, steaming through upper bay
on its way to a river pier built for it, 
seen from a Staten Island ship. ca. 1935-1941
  alt

A view of the city from the Brooklyn Tower
of the Brooklyn Bridge, on April 24, 1933. 
  alt

 
A view of the city from the New York tower of
George Washington Bridge, 168th Street & Hudson River,
on December 22, 1936.
alt

Fire Boats fight a blaze at Grace Line Pier 57,
West 15th St, near the National Biscuit Co. building.
  alt

Members of the New York Fire Department attend to a fire victim.
  alt

The "Well", US Signal Corps Army Base Terminal,
Port of Embarkation. Ration cases from crate cars
are hoisted to warehouse bins for storage, ca. 1945-1946.
  alt

Water from firefighters' hoses freezes
on the side of adjoining buildings.
  alt

Interior view of the Interborough Rapid Transit Company (IRT)
subway powerhouse, 58th to 59th Street, ca. 1904.
  alt

42nd Street, looking west from 2nd Avenue.
Chrysler Building at top right, "News Tavern" "Goblet Bar" at lower right,
ca. 1935-1941.
  alt

Brooklyn Bridge painters at work high above the city, on December 3, 1915.
  alt

Aftermath of a collision on an elevated rail track. 
  alt

The Queensboro Bridge, leading to Manhattan, seen on May 1, 1912.
  alt

 
A motorman operates a trolley car near Williamsburg Bridge,
on September 25, 1924. Signs advertise almonds,
cold remedies, mustard, and stove polish. 
alt